BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN HỒNG NHUNG
ĐỀ TÀI
NHỮNG HẠN CHẾ ĐỐI VỚI QUYỀN ĐÌNH CÔNG TRONG PHÁP
LUẬT VIỆT NAM - TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ VÀ NHỮNG VẤN
ĐỀ ĐẶT RA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN HỒNG NHUNG
ĐỀ TÀI
NHỮNG HẠN CHẾ ĐỐI VỚI QUYỀN ĐÌNH CÔNG TRONG PHÁP
LUẬT VIỆT NAM - TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ VÀ NHỮNG VẤN
: Bộ luật lao động
ILO
: Tổ chức lao động quốc tế
NLĐ
: Người lao động
NSDLĐ
: Người sử dụng lao động
iv
MỤC LỤC
Trang bìa phụ....................................................................................................................................... i
Lời cam đoan ...................................................................................................................................... ii
Danh mục các chữ viết tắt ............................................................................................................ iii
Mục lục................................................................................................................................................. iv
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐÌNH CÔNG VÀ HẠN CHẾ QUYỀN
ĐÌNH CÔNG ..................................................................................................................................... 7
1.1. Khái quát chung về đình công ...................................................................................... 7
1.1.1. Khái niệm, các dấu hiệu cơ bản của đình công .............................................. 7
1.1.2.Phân loại đình công .................................................................................................. 15
1.1.3. Ảnh hưởng của đình công .................................................................................... 19
1.2. Khái quát chung về hạn chế quyền đình công.................................................... 22
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với nhiều quy định khác của pháp luật lao động, đình công là nội
dung thu hút được sự quan tâm không chỉ của các chủ thể trong quan hệ lao động
mà của toàn xã hội. Đình công là phương tiện để NLĐ có thể tự bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp khi cần thiết. Trong pháp luật quốc tế, quyền đình công đã được
ghi nhận cụ thể tại Điều 8 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn
hóa của Đại hội đồng Liên hợp quốc (năm 1966). Quyền này cũng được cụ thể
hóa trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy
nhiên, giới hạn được thực hiện quyền này đến đâu lại phụ thuộc vào quan điểm
của mỗi một quốc gia.
Ở Việt Nam, hiện tượng đình công đã xuất hiện từ rất lâu, nhưng diễn ra
ngày càng phổ biến trong thời gian gần đây, khi đất nước thực hiện sự chuyển
đổi từ nền kinh tế từ tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường.
Mặc dù vậy, hầu hết các cuộc đình công đó đều là đình công bất hợp pháp.
Tại sao gần như 100% cuộc đình công của người lao động Việt Nam bị
xác định là bất hợp pháp? Vậy quyền lợi của người lao động được bảo vệ như
thế nào trước sức ép việc làm, tiền lương và giá cả ngày càng leo thang hiện nay?
Sự can thiệp của Nhà nước thông qua chính sách, luật pháp tới việc bảo vệ quyền
lợi của đối tượng được xác định là thường xuyên ở vị trí thế yếu trong quan hệ
lao động này được thể hiện ra sao và ở mức độ như thế nào?
Khi hiện tượng đình công diễn ra ngày càng mạnh mẽ cùng với sự chuyển
dịch nền kinh tế đất nước, Nhà nước đã kịp thời ban hành nhiều văn bản quy
phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực này, như
Pháp lệnh Thủ tục giải quyết tranh chấp lao động năm 1996; Bộ luật Lao động
năm 1994 sửa đổi, bổ sung năm 2006; Nghị định số 133/2007/NĐ-CP quy định
lý giải tại sao gần như 100% cuộc đình công trên phạm vi toàn quốc đều là đình
3
công bất hợp pháp. Trên cơ sở đó đóng góp ý kiến nhằm hạn chế phần nào
những cuộc đình công trái luật, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên trong
quan hệ lao động, góp phần đem lại những giá trị dân chủ trong lĩnh vực lao
động; bên cạnh đó vẫn bảo đảm nguyên tắc phù hợp với lợi ích chung của xã hội,
không gây bất ổn về an ninh trật tự, an toàn xã hội, không ảnh hưởng tới các
doanh nghiệp và các ngành kinh tế khác.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đình công ở Việt Nam được nhìn nhận và nghiên cứu dưới nhiều khía
cạnh, góc độ khác nhau với nhiều phương thức thể hiện cụ thể như: sách, luận
văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ, bài viết, đề tài nghiên cứu,... Trong số đó, nghiên
cứu ở mức độ toàn diện là Luận án tiến sỹ của NCS Đỗ Ngân Bình: “Pháp luật về
đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và
hội nhập quốc tế” (Trường Đại học Luật Hà Nội - 2005). Luận án này là công
trình nghiên cứu một cách hệ thống về pháp luật đình công và giải quyết đình
công, về những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng cũng như những giải pháp
tổng thể, để hoàn thiện pháp luật về đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam
trong giai đoạn hội nhập kinh tế gắn với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị
trường. Tiếp đó là Luận văn thạc sỹ của tác giả Trần Hồng Hạnh với đề tài “Đình
công và giải quyết đình công theo pháp luật lao động Việt Nam” (Trường Đại học
Luật Hà Nội - 2008) cũng nghiên cứu tương đối toàn diện về pháp luật đình công
và giải quyết đình công trên cơ sở các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của BLLĐ năm 2006. Luận văn thạc sỹ: "Những vấn đề pháp lý về việc tham
gia của công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động và đình công" của tác giả
Nguyễn Thị Phương Thúy (Trường Đại học Luật Hà Nội - 2009) nghiên cứu về
vai trò của tổ chức đại diện lao động (công đoàn) tham gia giải quyết tranh chấp
công.
4. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
5
Xuất phát từ những đặc điểm của thị trường lao động Việt Nam và những
yêu cầu của thực tiễn về mối quan hệ pháp luật giữa người lao động và người sử
dụng lao động, mục đích chính của luận văn là nghiên cứu các vấn đề lý luận về
hạn chế quyền đình công, cũng như những quy định trong pháp luật Việt Nam về
vấn đề này so với tiêu chuẩn quốc tế và thực tiễn áp dụng. Trên cơ sở đó có sự
đánh giá, đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn hệ thống pháp
luật lao động hiện hành, bảo vệ hài hòa lợi ích của cả người lao động, người sử
dụng lao động và Nhà nước.
Với mục đích nêu trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và pháp lý về đình công nói chung và hạn
chế quyền đình công nói riêng chẳng hạn như: khái niệm đình công, dấu hiệu cơ
bản của đình công, ảnh hưởng, cách phân loại đình công, một số vấn đề pháp lý
về hạn chế quyền đình công theo pháp luật lao động Việt Nam và Tiêu chuẩn lao
động quốc tế.
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng nhằm tìm ra những điểm bất cập chưa hợp lý để
từ đó đưa ra những phương hướng, giải pháp để hạn chế tình trạng đình công bất
hợp pháp đang xảy ra.
- Đề xuất một số định hướng, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng
cao hiệu quả thực thi pháp luật hạn chế quyền đình công ở Việt Nam hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong quá trình nghiên cứu Khoá luận đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu của triết học Mác - Lênin như phương pháp kết hợp lý luận với thực
tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, liệt kê... đồng
thời cũng dựa trên cơ sở các quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về
tính khả thi của các quy định về hạn chế quyền đình công trong pháp luật lao
động Việt Nam.
7
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐÌNH CÔNG
VÀ HẠN CHẾ QUYỀN ĐÌNH CÔNG
1.1. Khái quát chung về đình công
1.1.1. Khái niệm, các dấu hiệu cơ bản của đình công
1.1.1.1. Khái niệm đình công
Đình công là một hiện tượng trong quan hệ lao động, xảy ra khi mâu thuẫn
phát sinh giữa Người lao động (NLĐ) và Người sử dụng lao động (NSDLĐ) lên
đến mức không thể giải quyết bằng các biện pháp giải quyết tranh chấp thông
thường. Để đưa ra cái nhìn thống nhất và tương đối toàn diện về đình công, trước
hết cần xem xét đình công dưới những góc độ khác nhau. Cụ thể là đình công cần
được xem xét dưới các góc độ xã hội, kinh tế và pháp lý.
Dưới góc độ xã hội, đình công là hiện tượng xã hội xuất hiện và tồn tại
một cách khách quan trong nền kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, thị trường mua bán hàng hóa sức lao động là
nơi diễn ra sự trao đổi sức lao động, thông qua quan hệ mua bán giữa NLĐ
(người bán) và NSDLĐ (người mua). Mối quan hệ này làm nảy sinh những lợi
ích chung, những quan hệ phụ thuộc gắn chặt với nhau trong hệ thống phân công
lao động xã hội, ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi bởi các quy định của pháp
luật. Chính vì vậy, quan hệ lao động vừa là quan hệ đối lập (sự đối lập có thể dẫn
tới xung đột), nhưng đồng thời lại là quan hệ hợp tác (xung đột, đấu tranh nhưng
hai bên rất cần nhau, đình công, tranh chấp nhưng không làm bên kia phải đóng
cửa, phá sản). Do đó, khi không đạt được các thỏa thuận về quyền và lợi ích như
mong muốn, NLĐ đã chọn cách liên kết với nhau, cùng ngừng việc tập thể để
Trên bình diện quốc tế, ILO bảo vệ quyền đình công của NLĐ trên cơ sở
Công ước lao động quốc tế số 87 (1948) về các quyền tự do liên kết và quyền tổ
9
chức, Công ước số 98 (1949) về quyền tổ chức và thương lượng tập thể. ILO có
hai cơ cấu đặc biệt giám sát vấn đề tự do liên kết (kể cả đình công) của NLĐ là:
Ủy ban về quyền tự do liên kết của Hội đồng quản trị ILO và Hội đồng điều tra,
hòa giải về quyền tự do liên kết. Quan điểm của ILO về vấn đề đình công được
thể hiện trong Bản Tổng khảo sát về quyền tự do liên kết và thương lượng tập
thể do Ủy ban chuyên gia về việc áp dụng Công ước và Khuyến nghị của ILO
trình bày tại Hội nghị lao động quốc tế kỳ 69 (năm 1983). ILO cho rằng quyền
đình công là một trong những biện pháp thiết yếu NLĐ và các tổ chức của họ có
thể sử dụng để xúc tiến và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình, không
chỉ nhằm đạt tới những điều kiện làm việc tốt hơn hoặc có những yêu cầu tập thể
mang tính chất nghề nghiệp, mà còn nhằm tìm ra những giải pháp cho các vấn đề
chính sách kinh tế và xã hội và các vấn đề lao động bất kỳ loại nào mà NLĐ trực
tiếp quan tâm.
Với cách hiểu như trên thì đình công không chỉ có ý nghĩa đối với NLĐ
mà còn có ý nghĩa đối với toàn xã hội. Không chỉ đem lại điều kiện làm việc tốt
hơn cho NLĐ, đình công còn nhằm tìm ra những giải pháp cho các vấn đề chính
sách kinh tế - xã hội hay các vấn đề lao động bất kỳ nào mà NLĐ trực tiếp quan
tâm. Đó là ý nghĩa xã hội lớn lao mà đình công hướng tới. Vậy tại sao có những
quốc gia cho tới thời điểm hiện nay vẫn đưa ra những quy định nhằm hạn chế
đình công. Phải chăng hiểu đình công như thế nào còn phụ thuộc vào quan điểm
lập pháp và ý thức chính trị của nhà cầm quyền.
Do điều kiện kinh tế - xã hội, mỗi quốc gia có quan điểm khác nhau về
đình công. Có quốc gia thừa nhận quyền đình công nhưng cũng có nước hiện vẫn
tồn tại những quy định hạn chế, thậm chí là không thừa nhận; và cũng có quốc
bị, cơ sở sản xuất và những hoạt động tương tự”. Một loạt dấu hiệu để nhận biết
đinh công không chỉ là dấu hiệu ngừng việc có phối hợp. Lãn công, bãi công
ngồi, nghỉ việc hàng loạt hay những hành vi thể hiện ý đồ hủy hoại, tiêu hủy
hoặc phá hoại thiết bị, cơ sở sản xuất cũng được coi là dấu hiệu để nhận biết đình
11
công ở Philippines. Như vậy, cách thức đình công mà Chính phủ nước này thừa
nhận về mặt luật pháp đa dạng hơn nhiều quốc gia khác.
Nhìn chung, không phải quốc gia nào khi thừa nhận quyền đình công cũng
đưa ra khái niệm đình công và quyền đình công. Dù quy định cụ thể trong luật
hay không đều xuất phát từ quyền thương lượng tập thể, có nghĩa là đình công
chỉ phát sinh từ thương lượng tập thể.
Các quốc gia tuy có nhiều quan điểm khác nhau về đình công nhưng đều
đã thể hiện ý chí thống nhất thông qua việc ghi nhận đình công là một trong
những quyền của người lao động. Trong Công ước quốc tế về các quyền kinh tế,
văn hóa và xã hội (1966) mà Việt Nam gia nhập ngày 24/09/1982 ghi rõ: “Các
thành viên của Công ước cam kết bảo đảm quyền đình công với điều kiện là
quyền này phải được thực hiện phù hợp với luật pháp của mỗi nước”. Như vậy,
yếu tố kinh tế - văn hóa - xã hội có tác động trực tiếp tới việc các quốc gia thực
thi công ước và chuyển hóa các quy định của công ước thành luật pháp quốc gia.
Yêu cầu mà Đại hội đồng Liên hợp quốc đặt ra đối với các thành viên gia nhập
công ước đó là việc cam kết bảo đảm việc thực hiện quyền đình công; tuy nhiên
mức độ bảo đảm thực hiện đến đâu còn phải tính tới đặc thù của mỗi nước.
Ở Việt Nam hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về quan niệm đình
công. Theo Từ điển Luật học của Nhà xuất bản Từ điển bách khoa Hà Nội:
“Đình công là đỉnh cao của tranh chấp lao động tập thể, được biểu hiện ở sự
ngừng việc tập thể. Đình công là biện pháp mạnh mẽ, quyết liệt của tập thể lao
động để đòi NSDLĐ thực hiện đúng nghĩa vụ của mình trong quan hệ lao động,
Trong trường hợp xảy ra bất đồng giữa tập thể lao động với NSDLĐ hay
một chủ thể khác, tập thể lao động có thể ngừng việc nhằm gây áp lực buộc chủ
thể kia phải chấp nhận các yêu sách. Sự ngừng việc này được coi là hợp pháp
hay bất hợp pháp tùy thuộc vào quy định của pháp luật nhưng đây luôn được coi
là dấu hiệu đầu tiên, là thuộc tính cơ bản phản ánh bản chất của đình công.
Sự ngừng việc của đình công được hiểu là phản ứng của những NLĐ bằng
cách không làm việc, không xin phép, trong khi biết trước là NSDLĐ không
13
đồng ý. Trong ý thức của những NLĐ, sự ngừng việc này chỉ diễn ra tạm thời,
trong một thời gian ngắn, họ không dự định ngừng việc lâu dài, không bỏ việc và
không đi làm cho người khác. Trong thời gian đình công, quan hệ lao động vẫn
tồn tại và NLĐ sẽ tiếp tục làm việc sau đình công.
Trên thực tế, sự ngừng việc thường biểu hiện ở những mức độ khác nhau
như ngừng việc lẻ tẻ hay đồng loạt, làm việc cầm chừng hay ngừng việc triệt để.
Đa số pháp luật các nước theo xu hướng thừa nhận ngừng việc triệt để mới là
dấu hiệu để nhận dạng đình công. Những người tham gia đình công thường
ngừng việc hoàn toàn, không thực hiện bất kỳ công việc nào theo quy định và
thoả thuận hợp pháp của các bên trong thời gian đình công. Như vậy, nếu NLĐ
phản ứng bằng cách nghỉ việc lẻ tẻ, làm việc cầm chừng, không sử dụng hết công
suất máy móc, thời gian làm việc… (hay còn gọi là lãn công), thì thường không
được coi là đình công và có nguy cơ phải chịu các hình thức kỷ luật lao động.
Thứ hai, NLĐ thực hiện đình công một cách tự nguyện.
Xét về bản chất pháp lý, đình công là quyền của NLĐ. Theo đó, NLĐ có
quyền tự quyết định tham gia hay không tham gia đình công, không ai có quyền
ép buộc họ phải thực hiện đình công, hoặc cấm họ không được đình công. Ngoài
ra, những trường hợp tập thể lao động phải ngừng việc do các yếu tố khách quan,
ví dụ nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh nguy hiểm,
những hành động và suy nghĩ khác nhau, nếu không có sự thống nhất hành động
thông qua vai trò của tổ chức lãnh đạo thì NLĐ sẽ không có tiếng nói chung và
không phát huy sức mạnh tập thể. Đó là yêu cầu khách quan của đình công,
không phụ thuộc nhiều vào việc người lãnh đạo cuộc đình công đó và trật tự tiến
hành đình công có được pháp luật thừa nhận là hợp pháp hay không. Tính tập thể
và tính tổ chức là hai dấu hiệu không thể tách rời, có sự tác động qua lại với
nhau làm nên hiện tượng đình công.
15
Như vậy, có thể hiểu rằng tính tổ chức của đình công được thể hiện qua sự
đồng thuận, nhất trí và được tiến hành theo một trình tự, thủ tục nhất định chứ
không phụ thuộc vào ai là người lãnh đạo đình công.
Thứ năm, mục đích của đình công là nhằm đạt được những yêu sách gắn
với quyền và lợi ích của tập thể lao động.
Ngừng việc tập thể chỉ là hình thức biểu hiện, là cách thức gây áp lực để
đạt được mục đích của đình công. Mục đích cuối cùng mà những người đình
công hướng tới là lợi ích của họ trong phạm vi quan hệ lao động, gắn với lợi ích
nghề nghiệp của họ. Thông qua hành động ngừng việc, tập thể lao động gây sức
ép với NSDLĐ hoặc giới sử dụng lao động trực tiếp tham gia quan hệ lao động,
nhằm đạt được những yêu sách về kinh tế.
Những yêu sách của tập thể lao động cũng có thể không nằm trong phạm
vi quan hệ lao động cụ thể (xét theo nghĩa hẹp), nhưng phải liên quan đến quan
hệ lao động hoặc được NLĐ quan tâm. Ví dụ trường hợp những người đình công
gây áp lực với nhà nước, chính quyền địa phương... về chính sách lao động, tiền
lương, thất nghiệp... thậm chí có cả những yêu sách về chính trị hoặc chỉ để ủng
hộ cho những yêu sách của cuộc đình công khác. Việc cho phép các cuộc đình
công có được vượt ra khỏi phạm vi quan hệ lao động hay không còn tuỳ thuộc
vào quan điểm của từng quốc gia.
hưởng BHXH một lần như trước2. Từ đó có thể thấy, đình công chính trị có ảnh
hưởng lớn đến trật tự, an ninh xã hội và sự tồn tại của các chế độ cầm quyền
trong phạm vi quốc gia. Do đó luật pháp của hầu hết các nước đều coi những
cuộc đình công chính trị là bất hợp pháp. Ở Việt Nam chúng ta gián tiếp không
thừa nhận đình công chính trị thể hiện qua quy định “việc đình công chỉ được
2
http://laodong.com.vn/cong-doan/gan-90000-cong-nhan-pouyuen-dinh-cong-vi-khong-duochuong-bhxh-1-lan-309595.bld
17
tiến hành đối với các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích” (Khoản 2 Điều 209
BLLĐ năm 2012).
Thứ hai, căn cứ vào mục đích đình công, có thể phân thành: đình công yêu
sách và đình công hưởng ứng (ủng hộ).
Đình công yêu sách là những cuộc đình công nhằm đạt được một hoặc một
số yêu sách về quyền và lợi ích cho những NLĐ tham gia đình công. Các nhà
nước thường chỉ quy định về phạm vi liên quan của yêu sách, chủ thể bị yêu
sách, ít khi quy định về tính hợp pháp của nội dung yêu sách. Pháp luật nước ta
chỉ thừa nhận những cuộc đình công nhằm giải quyết những tranh chấp lao động
tập thể là hợp pháp.
Đình công hưởng ứng là những cuộc đình công nhằm ủng hộ, tỏ thái độ
đồng tình để hỗ trợ cho cuộc đình công khác trong khi những người tham gia
đình công (hưởng ứng) không có yêu sách về quyền và lợi ích cho mình.
Một số nước cũng thừa nhận hình thức đình công hưởng ứng của NLĐ,
nhất là những nước kí thỏa ước tập thể theo ngành hoặc có cấu trúc công nghiệp,
có những trung tâm tập trung lao động như Pháp, Đức, Anh, Thụy Điển... ILO
cho rằng NLĐ phải có quyền đình công hưởng ứng miễn sao chính cuộc đình
Liên bang Nga quy định, đình công được coi là bất hợp pháp nếu xảy ra trong
thời gian chiến sự hoặc tình trạng khẩn cấp hoặc đang trong công việc tìm kiếm
và cứu nạn hàng không, cứu hỏa... hay các cuộc đình công tại doanh nghiệp, cơ
quan/tổ chức cung cấp điện, nước hơi đốt, đường sắt, bưu chính viễn thông, giao
thông đường thủy, bưu điện. Ngoài ra, pháp luât Lao động Nga hạn chế quyền
đình công trong trường hợp đình công là bất hợp pháp nếu không tuân thủ theo
trình tự và những yêu cầu theo quy định luật3. Luật Lao động của Campuchia
3
Điều 413 Bộ luật Lao động Liên bang Nga (2001).
19
quy định đình công bất hợp pháp là những cuộc đình công không tuân thủ các
thủ tục quy định hoăc đình công không hòa bình4.
Theo pháp luật hiện hành của Việt Nam, đình công nếu không thuộc các
trường hợp đình công bất hợp pháp là đình công hợp pháp. Quan điểm này đã thể
hiện tư tưởng, dân chủ, tiến bộ của nhà nước pháp quyền: cho phép các cá nhân,
tổ chức… có thể làm bất cứ điều gì mà pháp luật không cấm.
Đình công bất hợp pháp là đình công không thực hiện đầy đủ, không thực
hiện đúng các quy định của pháp luật. Các trường hợp bị xem là đình công bất
hợp pháp được quy định tại Điều 215 Bộ luật lao động 2012.
Ngoài các căn cứ trên, đình công còn có thể phân loại dựa trên phương
thức đình công (đình công cổ điển và đình công hiện đại); thời gian đình công
(đình công luân phiên, đình công chớp nhoáng, đình công cảnh cáo…); và hình
thức thực hiện đình công (đình công ngồi, đình công đứng tập trung, đình công
chiếm xưởng, đình công diễu hành…)
1.1.3. Ảnh hưởng của đình công
1.1.3.1. Ảnh hưởng tích cực