Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro và những đóng góp đối với công ty Long Hường - Pdf 25

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Bùi Hữu Đức
TÓM LƯỢC
Ngày nay với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, Việt Nam
cũng ngày càng phát triển trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế. Quá trình
toàn cầu hóa mang đến cho các doanh nghiệp rất nhiều cơ hội nhưng cũng đồng
nghĩa với không ít thách thức. Nền kinh tế thị trường đầy biến động, cạnh tranh
ngày càng gay gắt khốc liệt nếu không biết làm mới mình thì không thể tồn của.
Để có thể đứng vững và phát triển trong hoàn cảnh đó các doanh nghiệp cần
phải phát huy mọi nguồn lực của mình. Thành công của các doanh nghiệp luôn
gắn với yếu tố rủi ro, dám đương đầu với rủi ro thì doanh nghiệp mới có thể
thành công và ngược lại. Tuy nhiên hiện nay hầu hết các doanh nghiệp Việt
Nam thường không quan tâm đến vấn đề rủi ro cũng như công tác quản trị rủi ro.
Sự thiếu quan tâm tới vấn đề rủi ro có thể dẫn đến tình trạng doanh nghiệp có
thể bị “loại khỏi vòng chiến” khi mức độ cạnh tranh ngày càng ra tăng. Vì vậy
để nâng cao hiệu quả trong quá trình kinh doanh thì các doanh nghiệp cần phải
đặc biệt quan tâm tới công tác quản trị rủi ro và vấn đề hoàn thiện công tác quản
trị rủi ro trong các doanh nghiệp trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Anh Lớp: K7 – HQ1K1
i
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Bùi Hữu Đức
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian thực tập của công ty Long Hường, được sự hợp tác,
giúp đỡ nhiệt tình của ban giám đốc và cán bộ nhân viên trong công ty, em đã
thu thập được những số liệu và những tài liệu cần thiết để hoàn thành bài khóa
luận, ngoài ra em cũng đã rút ra những bài học và những hiểu biết sâu hơn về
tầm quan trong của quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp.
Cùng với sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Bùi Hữu Đức đã giúp em hoàn
thiện từng chương của bài khóa luận. Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Bùi
Hữu Đức cùng ban giám đốc và toàn thể cán bộ nhân viên trong công ty Long
Hường đã giúp em hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp của mình.
Hà Nội, ngày 22 tháng 4 năm 2013

trường của mình không chỉ trong nước mà còn vươn xa hơn ra nhiều quốc gia
khác trên thế giới, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp hợp tác rộng rãi và dễ dàng
hơn. Sự phát triển của nền kinh tế cũng kéo theo nhu cầu của con người ngày
càng được mở rộng và nâng cao hơn, nhu cầu ngày càng phong phú và đa dạng
hơn, vì thế các doanh nghiệp có thể mở ra cho mình nhiều thị trường và hướng
kinh doanh mới để đáp ứng nhu cầu ngà càng cao của người dân từ đó thu được
nhiều hiệu quả cũng như lợi nhuận hơn trong kinh doanh. Và còn rất nhiều
những lợi ích và cơ hội khác mà sự phát triển của một nền kinh tế phát triển có
thể mang lại cho các doanh nghiệp như sự ưu đãi của nhà nước, giao thông vận
tải phát triển, … Tuy nhiên, mọi sự việc đều mang tính 2 mặt, nền kinh tế phát
triển không chỉ mang lại những cơ hội mà còn mang lại cho các doanh nghệp cả
những thách thức và rủi ro. Nền kinh tế phát triển và quá trình toàn cầu hoá còn
gia tăng thêm cho các doanh nghiệp những khó khăn mới như sự cạnh tranh cao
hơn và ngày càng khốc liệt hơn. Việc gia nhập vào các tổ chức kinh tế quốc tế
giúp cho các doanh nghiệp có được những cơ hội làm ăn mới nhưng cũng bắt
buộc các doanh nghiệp phải nắm rõ và tuân thủ những ràng buộc mang tính pháp
lý của các tổ chức đó để có thể hợp tác một cách thuận lợi và tránh nhưng rủi ro
không cần thiết như bị kiện tụng hay phải bồ thường hợp đồng. Trong quá trình
hoạt động của mình doanh nghiệp có thể gặp cả những khó khăn những rủi ro
không chỉ xuất phát từ sự phát triển của nền kinh tế mà có thể do nhiều yếu tố
khác mang lại như do sự phá hoại của kẻ xấu, do thiên nhiên, thời tiết dẫn đến
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Anh Lớp: K7 – HQ1K1
1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Bùi Hữu Đức
bất lợi, … Tuy nhiên đó mới chỉ là những yếu tố tác động từ bên ngoài, doanh
nghiệp còn phải đối mặt với các rủi ro xuất phát từ nội của bên trong doanh
nghiệp như từ sự thiếu trách nhiệm của các nhân viên. Nói chung, để có thể hoạt
động kinh doanh tốt và mang lại lợi nhuận cao các doanh nghiệp phải có những
chính sách và biện pháp thích hợp nhằm tận dụng các cơ hội và né tránh, giảm
thiểu những rủi ro, những yếu tố bất lợi, biến những yếu tố bất lợi thành những

động bán thiết bị điện của Tổng công ty thiết bị điện Việt Nam của thị trường
trong nước”, luận văn tốt nghiệp, năm 2010, khoa Quản trị Doanh nghiệp,
trường Đại học Thương Mại. Nội dung của luận văn này cũng tập trung ngiên
cứu, hệ thống hoá các sơ sở lý luận về rủi ro và công tác ngăn ngừa và giảm
thiểu rủi ro và từ đó đưa ra các kết luận và biện pháp nhằm ngăn ngừa và giảm
thiểu rủi ro trong hoạt động bán hàng của Tổng công ty thiết bị điện Việt Nam.
- Nguyễn Thị Hương Giang, “Giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro
kinh doanh của công ty Trách nhiệm hữu hạn than Hồng Thái”, luận văn tốt
nghiệp, năm 2011, khoa Quản trị Doanh nghiệp, trường Đại học Thương Mại.
Đề tài này đưa ra các lý thuyết cơ bản về rủi ro, ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro,
đồng thời nghiên cứu thực trạng về công tác ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro
trong kinh doanh và từ đó đưa ra các biện pháp ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro
trong kinh doanh của công ty Trách nhiệm hữu hạn than Hồng Thái.
- Nguyễn Thị Tươi, “Giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro kinh
doanh tại công ty Cổ phần tư vấn thiết kế và chuyển giao công nghệ xây dựng
Tầm nhìn mới”, luận văn tốt nghiệp, năm 2011, khoa Quản trị Doanh nghiệp,
trường Đại học Thương Mại. Tác giả đã đưa ra các lý luận cơ bản và phân tích
thực trạng ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh tại công ty Cổ phần
tư vấn thiết kế và chuyển giao công nghệ xây dựng Tầm nhìn mới từ đó đề xuất
một số giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro tại công
3.Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài hoàn thiện công tác quản trị rủi ro của công ty
Long Hường là nhằm tìm hiểu sâu hơn về các rủi ro mà công ty đã gặp phải, từ
đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong quá trình
hoạt động kinh doanh của công ty góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh của công ty Long Hường.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Anh Lớp: K7 – HQ1K1
3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Bùi Hữu Đức
Trong quá trình nghiên cứu đề tài thực hiện các mục tiêu cụ thể như sau:

4
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Bùi Hữu Đức
của công ty và các biện pháp xử lý của công ty. Những thông tin này được các
bộ phận trong công ty giúp đỡ và cung cấp trong quá trình thực tập thực tế của
doanh nghiệp.
Dữ liệu bên ngoài được thu thập từ các giáo trình, báo đài, tạp chí,
internet… Những dữ liệu này được sử dụng để làm rõ một số vấn đề nghiên cứu
như lý luận chung về vấn đề nghiên cứu hay làm rõ tình thế của công ty, những
rủi ro có thể xảy ra cho công ty …
5.1.2. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp.
Phương pháp điều tra bằng phiếu điều tra: Xây dựng phiếu điều tra để điều
tra hai đối tượng là nhà quản trị và nhân viên trong công ty.
Phiếu điều tra được chia làm hai phần:
- Sơ lược về tình hình quản trị rủi ro trong kinh doanh của công ty Long
Hường
- Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro của công ty Long Hường.
Phiếu điều tra có 12 câu, số phiếu phát ra là 10 phiếu, số phiếu thu về là
10 phiếu. Trong đó có 3 phiếu phát ra cho nhà quản trị, 4 phiếu phát cho nhân
viên hành chính và nhân viên kế toán, 3 phiếu phát ra cho nhân viên vận tải.
Bảng câu hỏi có 6 câu, phỏng vấn 3 nhà quản trị.
Phương pháp quan sát hiện trường: Theo phương pháp này, có thể thông
qua việc quan sát đối tượng nhân viên trong công ty mà không ảnh hưởng đến
thời gian của họ. Có thể quan sát trong quá trình thực tập của công ty và tiến
hành ghi chép những thông tin cần thiết. Quá trình quan sát cho ta cái nhìn sâu
hơn về văn hóa làm việc của công ty, thấy được thái độ cũng như trách nhiệm
của nhân viên.
5.2. Phương pháp phân tích số liệu.
5.2.1. Sử dụng phương pháp định tính.
Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với lý luận thực tế để từ
đó biết được những biến động của nề kinh tế, văn hóa, xã hội tác động tới tình

con người.
- Theo trường phái hiện đại: Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được,
vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang những tổn
thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ
hội. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp
phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết
quả tốt đẹp cho tương lai.
Nói tóm lại rủi ro là là những sự kiện bất lợi, bất ngờ xảy ra và nó gây tổn
thất cho con người.
Từ các khái niệm trên có thể đi đến khái niệm rủi ro trong hoạt động kinh
doanh như sau:
“Rủi ro trong hoạt động kinh doanh là những sự kiện gây khó khăn cho
các chủ thể trong quá trình hoạt động nhằm đạt được mục tiêu. Nó có thể tàn
phá những thành quả mà các chủ thể gây dựng được hoặc buộc các chủ thể phải
huy động nhiều hơn nhân lực, vật lực, thời gian trong quá trình phát triển của
mình”.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Anh Lớp: K7 – HQ1K1
7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Bùi Hữu Đức
Mặc dù rủi ro là nguyên nhân gây nên tổn thất về người và của, là thứ mà
chúng ta không hề mong đợi xảy ra nhưng không phải vì thế mà rủi ro lại phụ
thuộc vào ý chí của con người. Sự tồn tại khách quan đó xuất phát từ quy luật
vận động không ngừng của tự nhiên, và có những sự kiện xảy ra là rủi ro của
người này nhưng là may mắn của người kia, nghiêm trọng với cá nhân hay tổ
chức này nhưng lại không nghiêm trọng với cá nhân hay tổ chức khác, với xã
hội hay thậm chí rủi ro vào thời điểm này nhưng lại là thuận lợi vào thời điểm
khác đối với cùng một đối tượng. Vì thế, cần phải phân biệt giữa tính chất, phạm
vi xuất hiện và quan hệ rủi ro với con người để từ đó có thể có những hoạt động
phù hợp đối phó khi rủi ro xảy ra.
1.1.2 Phân loại rủi ro.

Thuộc loại này bao gồm các rủi ro do tai nạn, do thiếu thận trọng khi làm việc
cũng như trong cuộc sống.
- Theo nguồn gốc phát sinh các rủi ro có các loại rủi ro sau:
+ Rủi ro do các hiện tượng tự nhiên: đây là nguồn rủi ro cơ bản dẫn đến
các rủi ro thuần túy và để lại hậu quả rất nghiêm trọng đối với con người. Nước
lũ, nắng nóng, hoạt động của núi lửa… Việc nhận biết cac nguồn rủi ro này
tương đối đơn giản nhưng việc đánh giá các khả năng xảy ra cũng như mức độ
xảy ra của rủi ro xuất phát từ nguồn này lại hết sức phức tạp bởi vì chúng phụ
thuộc tương đối ít vào con người, mặt khác hiểu biết và kiểm soát các hiện
tượng tự nhiên của con người còn hạn chế.
+ Rủi ro do môi trường vật chất: các rủi ro xuất phát từ nguồn này là
tương đối nhiều chẳng hạn như bất cần, cháy nổ…
+ Rủi ro do các môi trường phi vật chất khác: Nguồn rủi ro rất quan trọng
và làm phát sinh rất nhiều rủi ro trong cuộc sống chính là môi trường phi vật
chất hay nói cụ thể đó là các môi trường kinh tế, xã hội, pháp luật hoặc môi
trường hoạt động của các tổ chức…
- Theo khả năng khống chế của con người có thể chia thành rủi ro có thể
khống chế và rủi ro không thể khống chế. Một số lại rủi ro xảy ra con người
không thể chống đỡ nổi. Thuộc loại này có các loại rủi ro do thiên tai, địch họa.
Tuy nhiên, đa số các rủi ro con người có thể chống đỡ hoặc có những biện pháp
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Anh Lớp: K7 – HQ1K1
9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Bùi Hữu Đức
nhằm hạn chế được thiệt hại nếu có những nghiên cứu dự đoán đươc khả năng
mức độ xảy ra.
- Theo phạm vi xuất hiện của rủi ro có thể chia ra rủi ro chung và rủi ro cụ thể
+ Rủi ro chung: là rủi ro gắn liền với môi trường kinh tế, chính trị, pháp luật
Các rủi ro về chính trị bao gồm các rủi ro về hệ thống chính trị, rủi ro
chính sách thuế, rủi ro do cơ chế quản lý cấp vĩ mô; rủi ro về chế độ độc quyền;
rủi ro về chế độ nhập khẩu; rủi ro không đạt được hoặc do không gia hạn hợp

phương án phân bổ các nguồn lực hợp lý, những phòng ban có sức ép công việc
lớn cần được bổ sung thêm nhân lực để tránh tình trạng nhân viên làm việc quá
sức gây nên những hậu quả nghiêm trọng.
- Bảo vệ và tăng cường tài sản cũng như hình ảnh doanh nghiệp. Quản trị
rủi ro giúp doanh nghiệp có phương pháp bảo vệ tài sản của mình một cách tối
ưu nhất, tránh mất mát, hư hỏng khiến doanh nghiệp tốn kém chi phí.
- Phát triển và hỗ trợ nguồn nhân lực và nền tảng tri thức của doanh nghiệp.
- Tối ưu hóa hiệu quả hoạt động. Quản trị rủi ro giúp doanh nghiệp chủ
động phòng ngừa, né tránh rủi ro chứ không phải khi gặp rủi ro mới tìm phương
hướng giải quyết.
1.2.2. Các nguyên tắc quản trị rủi ro.
1.2.2.1. Quản trị rủi ro phải hướng vào mục tiêu phòng ngừa và khắc phục hậu quả
Quản trị rủi ro liên quan đến tất cả các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Đó không chỉ là hoạt động thụ động và
phòng ngừa mà còn là các hoạt động trong việc dự kiến những mất mát xảy ra
và tìm cách giảm nhe hậu quả của chúng. Thực chất quản trị rủi ro là phòng
chống và khắc phục hậu quả, chủ động tiếp cận và xử lý tình huống trong kinh
doanh. Vì vậy mục tiêu của công tác quản trị rủi ro của doanh nghiệp trước tiên
là có những biện pháp phòng ngừa, tránh rủi ro tới mức thấp nhất có thể. Tuy
nhiên doanh nghiệp không thể nào phòng tránh được tất cả những rủi ro xảy đến
vì vậy khi gặp phải rủi ro thì công tác quản trị rủi ro còn là việc khắc phục
những hậu quả do những rủi ro bất khả kháng gây ra.
1.2.2.2 Quản trị rủi ro phải gắn với trách nhiệm của nhà quản trị
Những rủi ro xảy đến với doanh nghiệp sẽ làm doanh nghiệp bị bất ngờ,
dẫn đến thiệt hại ảnh hưởng đến mục tiêu của doanh nghiệp nếu chúng không
được doanh nghiệp lương trước. Mặt khác từ tính chủ động của quản tri rủi ro,
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Anh Lớp: K7 – HQ1K1
11
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Bùi Hữu Đức
tất cả các công việc như nhận dạng, đánh giá, đo lường, khắc phục thuộc công

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Bùi Hữu Đức
- Nhiệm vụ : xác định một cách liên tục và có hệ thống các rủi ro có thể
xảy ra trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhận dạng rủi ro nhằm
tìm kiếm các thông tin về : tên và loại rủi ro, các mối hiểm họa, các mối nguy
hiểm… Dựa trên một số cơ sở thông tin như : số liệu thống kê, nguồn thông tin
thu thập từ môi trường, phân tích hoạt động của doanh nghiệp, dựa trên kinh
nghiệm và trực giác của nhà quản trị.
- Nhận dạng rủi ro là các yếu tố góp phần ảnh hưởng đến kết quả tích cực
hoặc tiêu cực trong thực tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn rủi
ro thường được bắt nguồn từ các yếu tố của môi trường kinh doanh bên ngoài
doanh nghiệp , bao gồm các yếu tố sau : môi trường chính trị pháp luật, môi
trường kinh tế, môi trường văn hoá xã hội , môi tự nhiên , các yếu tố thuộc môi
trường kinh doanh đặc thù của doanh nghiệp bao gồm : khách hàng của doanh
nghiệp , đối thủ cạnh tranh , nhà cung cấp.
- Nhận dạng rủi ro được chia thành 3 nhóm chính :
+ Nguy cơ rủi ro về tài sản là khả năng được hoặc mất đối với những tài
sản hữu hình hoặc vô hình
+ Nguy cơ rủi ro về trách nhiệm pháp lý là nguy cơ có thể xảy ra các tổn
thất về trách nhiệm pháp lý đã được quy định.
+ Nguy cơ rủi ro về nguồn lực là nguy cơ rủi ro liên quan đến tài sản con
người của tổ chức đó là rủi ro xảy ra đối với nguồn lực trong doanh nghiệp.
- Các phương pháp nhận dạng:
+ phân tích các báo cáo tài chính , đặc biệt phân tích các bảng tổng kết tài
sản các báo cáo hoạt động kinh doanh và các tài liệu nội bộ khác kết hợp với các
dự báo về tài chính và dự báo ngân sách , nhà quản trị có thể xây dựng và xác
định nguy cơ rủi ro về tài chính , trách nhiệm pháp lý về rủi ro của nguồn lực ,
theo phương pháp này từng tài khoản dự báo về tài chính sẽ được hà quản trị
nghiên cứu kỹ tìm hiểu rủi ro tiềm năng có thể xảy ra .
+ phương pháp xương cá : nhà quản trị cần nhận dạng hoặc trình bày tất
cả các rủi ro đang diễn ra trong doanh nghiệp , từ đó có thể đánh giá các tổn thất

Nếu rủi ro và tổn thất đã xảy ra: phân tích những tổn thất đã xảy ra dựa
trên sự đo lường, dự đoán những tổn thất sẽ xảy ra.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Anh Lớp: K7 – HQ1K1
14
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Bùi Hữu Đức
Nếu rủi ro và tổn thất chưa xảy ra: căn cứ vào hiểm họa, nguyên nhân rủi
ro người ta dự đoán những tổn thất có thể có.
- Có 3 cách tiếp cận :
+dựa trên các cơ sở liên quan đến con người .
+quan điểm liên quan đến kỹ thuật.
+kết hợp cả 2 cách trên
Bước 4 : Đo lường, đánh giá rủi ro :
- Nhiệm vụ : nhà quản trị đi tính toán xác định tần suất rủi ro và biên độ
rủi ro, từ đó phân nhóm rủi ro.
- Nội dung : nhà quản trị áp dụng các chỉ tiêu đo lường như : đánh giá
mức độ nghiêm trọng của rủi ro/ tổn thất ; tần suất của rủi ro/ tổn thất ; chi phí
của rủi ro/ tổn thất. Thông qua một số phương pháp đánh giá như : phương pháp
định lượng, phương pháp định tính, phương pháp
phân tích tổng hợp và phương pháp dự báo tổn thất.
- Tính toán xác định tần suất rủi ro và biên độ rủi ro, từ đó phân nhóm rủi
ro. Thông qua hai yếu tố đó xây dựng ma trận về tần số và biên độ rủi ro.
Nhóm I : Mức độ rủi ro nhiều nhất và có tác động lớn nhất
Nhóm II, III, IV quan tâm thứ 2
Tần số
Biên độ
Cao Thấp
Cao I II
Thấp III IV
Bước 5 : Kiểm soát và Tài trợ rủi ro :
- Kiểm soát: Là việc sử dụng các biện pháp ( kỹ thuật, công cụ, chiến

quản lý rủi ro trong toàn doanh nghiệp. Từ đó doanh nghiệp sẽ không bất ngờ
trước những rủi ro xảy đến với mình, mặt khác việc xác định rõ trách nhiệm về
vấn đề quản trị rủi ro đối với ban lãnh đạo và với từng nhân viên trong doanh
nghiệp giúp nhân viên trong doanh nghiệp chủ động đối phó được với những rủi
ro gặp phải đồng thời mỗi nhân viên nhận thức được rõ trách nhiệm của mình
đối với vấn đề quản trị rủi ro, từ đó nâng cao chất lượng của công tác quản trị rủi
ro của doanh nghiệp.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Anh Lớp: K7 – HQ1K1
16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Bùi Hữu Đức
- Bộ phận quản lý rủi ro doanh nghiệp phải xây dựng được chính sách
kiểm soát bất cứ một rủi ro nào thông qua việc phân tích các rủi ro mà doanh
nghiệp gặp phải. Từ đó, phát triển các chiến lược nhằm từng bước giảm thiểu
tần suất và nguy cơ mắc rủi ro, thiết kế định hướng quản lý rủi ro ở cấp độ chiến
lược nhằm từng bước giảm thiểu tần suất và nguy cơ mắc rủi ro, thiết kế định
hướng quản lý rủi ro ở cấp độ chiến lược và chức năng.
- Đặc biệt doanh nghiệp phải có những phản ứng kịp thời để phản ứng
nhanh chóng đối với những biến cố xảy ra trong quá trình kinh doanh cũng như
cung ứng ra bên ngoài thị trường. Vì vậy doanh nghiệp cần có một đội ngũ nhân
viên phụ trách công tác quản trị rủi ro từ đó có thể lường trước những rủi ro khi
tham gia vào hoạt động kinh doanh và xác định trước những phương án đối phó,
để không bất ngờ khi đối mặt với rủi ro đồng thời nhanh chóng giải quyết được
những rủi ro để giảm thiểu một cách thấp nhất những tổn thất mà rủi ro gây nên.
- Doanh nghiệp phải xây dựng và nâng cao văn hóa nhận thức về rủi ro để
toàn thể nhân viên trong doanh nghiệp nhận thức được tầm quan trọng của công
tác quản trị rủi ro. Trong đó có việc đào tạo quản lý về doanh nghiệp; thiết kế và
rà soát quy trình quản lý rủi ro; điều phối các hoạt đông chức năng khác nhau có
liên quan đến vấn đề quản lý rủi ro trong doanh nghiệp… cũng cần được quan
tâm chú trọng.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản trị rủi ro của doanh nghiệp.

định về bảo hiểm của nhà nước là cơ sở để doanh nghiệp tài trợ và chuyển đổi
rủi ro khi rủi ro xảy ra.
1.3.2 Nhân tố chủ quan.
- Tình hình tài chính bên trong doanh nghiệp: Kết quả kinh doanh và việc
đề ra, triển khai các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn
vào tình hình tài chính của doanh nghiệp, để có nguồn tài chính ổn định, đáp
ứng được kế hoạch kinh doanh thì doanh nghiệp cần phải phân bổ hợp lí nguồn
tài chính của mình. Việc kiểm soát và phân bổ nguồn tài chính hợp lí giúp doanh
nghiệp tránh được trường hợp không đủ khả năng thanh toán cho nhà cung ứng,
không mua được hàng hóa phục vụ cho việc kinh doanh của doanh nghiệp hay
không có đủ tài chính để xây dựng triển khai các chương trình xúc tiến bán hàng
hay đẩy mạnh hoạt động PR, quan hệ khách hàng… Tình hình tài chính bên
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Anh Lớp: K7 – HQ1K1
18
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Bùi Hữu Đức
trong doanh nghiệp là một trong những yếu tố quyết định đến các biện pháp
ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh của các doanh nghiệp. Với tiềm
lực tài chính mạnh mẽ, doanh nghiệp có thể dễ dàng thực hiện các biện pháp
ngăn ngừa rủi ro ngay từ khi chúng chưa xảy ra hay có thể dễ dàng có những
biện pháp để giảm thiểu tới mức thấp nhất những tổn thất khi mà rủi ro mang lại.
- Hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật: Bao gồm các phương tiện vận chuyển,
kho bãi, hệ thống thông tin quản lý… cơ sở vật chất càng hiện đại thì hoạt động
kinh doanh càng đạt được hiệu quả cao.Và hơn thế nữa, cơ sở vật chất kĩ thuật
hiện đại giúp cho doanh nghiệp có thể né tránh những rủi ro xuất phát từ yếu tố
kĩ thuật mang lại. Ví dụ như, hệ thống thông tin trong doanh nghiệp hiện đại, cơ
sở vững chắc, tính bảo mật cao giúp doanh nghiệp ngăn chặn được sự xâm hại
từ bên ngoài vào hệ thống, tránh việc thông tin mật trong công ty bị mất do
hacker…
- Bộ máy tổ chức, năng lực quản lý: Hệ thống bộ máy tổ chức phù hợp
với hoạt động kinh doanh của doanh nhiệp tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động

kiện cho công ty phát triển. Các cơ quan quản lý của công ty như cơ quan thuế,
quản lý thị trường đã nhiệt tình hướng dẫn cho công ty hoạt động. Mặt khác đội
ngũ cán bộ công ty trưởng thành nhiều mặt trong điều kiên kinh tế thị trường.
Địa bàn hoạt động của công ty nằm ở tỉnh Thanh Hóa, đây là 1 thị trường
lớn có nguồn cung cấp đầu vào dồi dào và là địa bàn nằm ở Bắc Trung Bộ nơi
nối liền giữa 2 miền Bắc và miền Trung. Bản thân công ty đóng trên đại bàn tỉnh
Thanh Hóa có điều kiện kinh tế phát triển mạnh, có lực lượng công nhân dồi
dào. Đời sống nhân dân được nâng cao việc xây dựng nhà và công trình dân
sinh được chú trọng phát triển.
Vốn điều lệ hoạt động và thực tế so vốn lưu động của công ty còn ít chưa
đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Do công ty là doanh nghiệp thương mại
nên tài sản cố định ít nên khả năng vay vốn Ngân hàng còn hạn chế nhiều.
Do điều kiện kinh tế phát triển nên có rất nhiều công ty khác được thành
lập nên thị trường cạnh tranh luôn mạnh mẽ.
Do công ty nằm ở Thanh Hóa nên vừa tạo điều kiện thuận lơi và cũng có
những khó khăn riêng đối với sự tiêu thụ sản phẩm của công ty.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Anh Lớp: K7 – HQ1K1
20
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Bùi Hữu Đức
Đội ngũ cán bộ cốt cán của công ty hình thành chưa đồng đều, năng lực
lãnh đạo đang còn hạn chế, đội ngũ công nhân chuyên nghiệp chưa có nhất là
đội ngũ kế toán hạch toán.
2.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty.
Do quá trình phát triển căn cứ vào điều kiện tình hình thực tế, ban lãnh
đạo công ty đã quyết định làm công tác dịch vụ thương mại trong quá trình hình
thành phát triển đầu tiên, mặt hàng chủ lực của công ty là các mặt hàng phục vụ
xây dưng nhằm cung cấp cho thị trường xây dựng lúc đó đang còn khan hiếm
như : xi măng, sắt thép,gạch…
- Tình hình sử dụng lao động của công ty:
*Bảng 1: Trình độ đội ngũ lao động trong công ty


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status