1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Tín dụng là một trong những hoạt động kinh doanh chủ yếu của các Ngân
hàng thương mại nói chung và của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Nam
Á gọi tắt là SeaBank nói riêng. Trong những năm qua, hoạt động tín dụng ngân
hàng đã đạt được những thành tựu không nhỏ đóng góp vào sự phát triển chung
của nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên tín dụng là nơi hội tụ nhiều rủi ro và gây ra
những hậu quả nghiêm trọng trong hoạt động của Ngân hàng. Rủi ro tín dụng có
tác động rất lớn đối với hoạt động ngân hàng, nó không chỉ gây sự biến động lớn
trong lợi nhuận mà còn có thể ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng phá sản của ngân
hàng. Gần đây, công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại đã
được chú trọng hơn song nhìn chung chưa được tiến hành một cách bài bản.
Theo nhận định của World Bank, về cơ bản trong môi trường pháp lý thời gian
gần đây, các tổ chức tín dụng vẫn đang ở giai đoạn đầu của quá trình thực hiện
các chính sách tín dụng chặt chẽ và các thông lệ tín dụng tốt nhất. Một trong
những biểu hiện rõ nét nhất là việc các NHTM Việt Nam coi trọng và ưu tiên về
tốc độ tăng trưởng tài sản hơn là lợi nhuận và vấn đề an toàn vốn. Với tình trạng
như vậy, trong khi tín dụng vẫn là hoạt động chính của ngân hàng với tỷ lệ dư nợ
tín dụng so với tổng tài sản trung bình hiện ở mức cao khoảng 50%, thì hoạt
động rủi ro tín dụng có ý nghĩa sống còn đối với ngân hàng và cũng có nghĩa là
sự ổn định của cả nền kinh tế. Vì vậy, quản trị rủi ro tín dụng - một vấn đề còn
nhiều mới mẻ để triển khai trong thực tiễn là mối quan tâm hàng đầu của các
ngân hàng thương mại hiện nay.
Với những ý nghĩa như vậy, qua thời gian tìm hiểu thực tế tại SeaBank,
Tác giả đã lựa chọn Đề tài: “Hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro tín dụng tại
SeaBank”. 3CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng và rủi ro tín dụng
1.1.1. Các rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh và rủi ro là hai phạm trù cặp đôi. Kinh
tế thị trường làm đa dạng hoá các thành phần kinh tế, bình đẳng hoá hoạt động
của các thành phần này và thúc đẩy cạnh tranh lẫn nhau. Rủi ro – tuy là sự bất
trắc gây ra mất mát thiệt hại, là sự bất trắc cụ thể liên quan đến một biến cố
không mong đợi, song lại là hiện tượng đồng hành với các hoạt động kinh doanh
trong cơ chế thị trường, trong quá trình cạnh tranh.
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng không nằm ngoài tác động trên, với
các hoạt động ngân hàng hầu như không có lọai nghiệp vụ nào, không có loại
dịch vụ nào của ngân hàng là không có rủi ro. Bởi lẽ, ngân hàng được coi là một
tổ chức kinh doanh tiền tệ là một loại hàng hoá đặc biệt, vì vậy ngân hàng
thường xuyên đối mặt với nhiều loại rủi ro. Ngoài các loại rủi ro thông thường
mà các doanh nghiệp khác thường gặp phải, các ngân hàng còn phải đối mặt với
các rủi ro cơ bản trong lĩnh vực ngân hàng như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi
ro thanh khoản, rủi ro hối đoái, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Sau đây là
sáu loại rủi ro được coi là những rủi ro cơ bản của ngân hàng:
Rủi ro tín dụng: là rủi ro bị tổn thất tài sản khi bên vay là những khách
hàng hay các ngân hàng không có khả năng thanh toán khoản vay theo đúng các
điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng.
Rủi ro tín dụng được hiểu là những tổn thất do khách hàng không trả được
nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của những khoản vay.
( Peter S.Rose ,2001)
Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy
đủ gốc và lãi của khoản vay hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ
hạn. (Nguyễn Văn Tiến, 2005) 5
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam thì: “ Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức
tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín
dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ
của mình theo cam kết”
1.1.3. Các loại hình rủi ro tín dụng
Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng, việc sử dụng cách phân loại tuỳ thuộc
vào mục đích nghiên cứu, mục đích quản lý. Đối với ngân hàng, việc phân loại
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thiết kế chính sách, quy trình, thủ tục và cả
mô hình tổ chức nhằm đảm bảo nhận biết đầy đủ các yếu tố làm phát sinh rủi ro
và phân biệt trách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận, giữa các khâu. Thực tế cho
thấy, sự phân tách trách nhiệm càng rõ ràng, càng cụ thể thì sẽ càng làm cho việc
quản lý rủi ro hiệu quả. Do vậy, căn cứ vào các tiêu thức khác nhau, có thể chia
rủi ro tín dụng thành nhiều loại khác nhau như căn cứ vào đối tượng, phạm vi,
Nếu phân loại theo sản phẩm thì có 2 loại sau: (i) Rủi ro các sản phẩm nội
bảng (cho vay, thấu chi); (ii) Rủi ro các sản phẩm ngoại bảng (chiết khấu, thư tín
dụng, bảo lãnh).
Nếu căn cứ vào tính chất của rủi ro: (i) Rủi ro khách quan xảy ra do thiên
tai, địch hoạ, người vay trốn chạy, mất tích; (ii) Rủi ro chủ quan xảy ra do người
vay hoặc người cho vay vô tình hoặc cố ý làm cho thất thoát vốn vay.
Nếu căn cứ thời hạn khoản vay:(i) Rủi ro theo các khoản vay ngắn hạn;
(ii) Rủi ro theo các khoản vay trung dài hạn.
1.1.4. Nguyên nhân rủi ro tín dụng
Các ngân hàng khi cho vay luôn phải đối mặt với rủi ro. Với khả năng cho
vay, các ngân hàng thương mại thúc đẩy quá trình đầu tư, sản xuất và lưu thông
hàng hoá, do đó góp một ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế và đối với các
doanh nghiệp. Tuy nhiên, để xác định nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng, cần tập
trung vào một số nguyên nhân sau:
1.1.4.1. Nguyên nhân từ phía người vay:
Rủi ro tín dụng từ phía người vay là một trong những loại rủi ro thường đem lại
tổn thất nhiều nhất cho ngân hàng. Các nguyên nhân dẫn đến việc khách hàng
không trả được nợ cho ngân hàng có rất nhiều, có thể sắp xếp theo hai nhóm như
sau:
Nhóm nguyên nhân khách quan, là những tác động ngoài ý chí của khách hàng
như do thiên tai, hoả hoạn, do sự ổn định của các chính sách kinh tế chưa chắc
chắn, thay đổi đột ngột chính sách quản lý kinh tế, điều chỉnh quy hoạch, do
tin cậy, kịp thời, chính xác để xem xét, phân tích trước khi cấp tín dụng. 8
Nguyên nhân nữa phải kể đến đó là năng lực và phẩm chất cán bộ tín dụng và
vấn đề quản lý sử dụng, đãi ngộ của cán bộ ngân hàng.
1.4.1.3. Nguyên nhân từ bên ngoài:
Bao gồm môi trường kinh tế, môi trường pháp lý và những điều kiện khách quan
khác liên quan tới khoản vay.
Môi trường kinh tế ảnh hưởng rất lớn tới sự thành công hay thất bại, lạm phát
cũng là vấn đề khiến các ngân hàng luôn phải cảnh giác vì người đi vay phải vay
một khoản lớn hơn cho mục đích của mình và chịu chi phí cũng lớn hơn. Khi nền
kinh tế hưng thịnh, mọi hoạt động trong nền kinh tế diễn biến tích cực, hoạt động
kinh doanh tốt thì khoản vay được đảm bảo (nếu không gặp rủi ro khác) và
ngược lại.
Môi trường pháp lý trong kinh doanh là tổng hợp các yếu tố pháp lý có tác động
đến hoạt động kinh doanh, bao gồm hệ thống pháp luật, hệ thống các biện pháp
đảm bảo cho pháp luật được thực thi và sự chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật
của các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh. Nếu hệ thống pháp luật không
đầy đủ, đồng bộ thì sẽ không đảm bảo sự lành mạnh, hiệu quả và dễ gặp rủi ro.
1.2. Quản trị rủi ro tín dụng của NHTM
1.2.1. Khái niệm về quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro của NHTM có thể hiểu là quá trình tác động có tổ chức, có hướng
đích của các nhà quản trị NH lên các đối tượng quản trị và khách thể kinh doanh
nhằm mục tiêu phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh từ đó
nâng cao mức độ an toàn, khả năng sinh lời và đạt được các mục tiêu tăng trưởng
trong ngắn hạn và dài hạn của mỗi NHTM. Hay nói một cách cụ thể hơn thì
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các
chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn,
thanh toán, L/C, v.v)
•
••
•
Cho vay khách hàng có quan hệ: Việc cho vay loại khách hàng này là khá
nguy hiểm do ngân hàng có xu hướng cho vay không dựa trên các điều kiện
thương mại.
•
••
•
Giới hạn theo ngành/lĩnh vực: Chính sách này nhằm ngăn chặn ngân hàng bị
tổn thất do hàng loạt khách hàng gặp khó khăn với cùng lý do. Các giới hạn được 10
thiết lập theo ngành, lĩnh vực hay thậm chí theo khu vực địa lý. Tuy nhiên, trong
thực tế việc theo dõi các giới hạn này khá khó khăn vì các ngân hàng không có
hệ thống báo cáo theo ngành chuẩn hoặc bản thân khách hàng sử dụng vốn vào
các lĩnh vực rất khác nhau.
•
••
•
Cơ cấu lại các khoản nợ: Chính sách này đề cập đến nguyên tắc, quy định
việc áp dụng các hình thức xử lý nợ như miễn giảm lãi, chuyển đổi nợ thành cổ
phần v.v. Theo thông lệ tốt nhất, các hình thức này phải do Hội đồng quản trị
duyệt.
1.2.2.2. Phân loại tài sản
Đây được coi là công cụ chủ chốt cho quản trị rủi ro tín dụng. Về nguyên tắc,
việc phân loại phải được tiến hành ngay khi cấp tín dụng và được đánh giá vài
hiện có. Các khoản nợ quá hạn trên 180
ngày được xếp vào loại này.
5 Nợ mất vốn Các khoản nợ đã xác định được là khó thu
hồi về cả mặt thực tế và mong muốn. Ví dụ
về loại này là các khoản quá hạn trên 1
năm.
Nguồn: World Bank 2008
1.2.2.3. Trích lập dự phòng tổn thất tín dụng
Mục đích của việc trích lập dự phòng là nhằm giúp ngân hàng có khả năng
chống chọi lại các tổn thất dự kiến. Phân loại tài sản là cơ sở cho chính sách này,
đồng thời các yếu tố khác như kinh nghiệm thu hồi nợ vay trong quá khứ, tốc độ
tăng trưởng tín dụng, sự thay đổi trong điều kiện kinh tế cũng được đề cập đến
khi xây dựng chính sách trích lập dự phòng tổn thất tín dụng. Bảng 1.2 đưa ra
gợi ý về mức trích dự phòng rủi ro cho các nền tài chính chưa thực sự phát triển.
12Bảng 1.2 - Tỷ lệ trích dự phòng tổn thất tín dụng đối với các nước
có nền tài chính chưa phát triển
Loại tài sản Tỷ lệ trích dự phòng
1 Tiêu chuẩn/ thông thường 1-2%
2 Cần theo dõi 5-10%
3 Dưới tiêu chuẩn 15-30%
là mô hình phổ biến. Bộ phận quản trị rủi ro tín dụng cũng được tổ chức một
cách tách bạch giữa bộ phận xây dựng chính sách, báo cáo với bộ phận quản lý
và xây dựng mô hình.
Mô hình hiện đại có những ưu điểm sau:
Tách bạch rõ ràng nhiệm vụ giữa bộ phận kinh doanh và bộ phận quản lý
rủi ro, bộ phận tác nghiệp.
Tập trung toàn bộ trong một Uỷ ban rủi ro trực tiếp do Ban điều hành quản
lý do vậy sẽ chuyên sâu hơn và phía Ban điều hành sẽ có cái nhìn tổng hợp hơn
trên tổng thể các rủi ro có thể đã và đang xảy tại ngân hàng.
Tiến tới thực hiện quản trị rủi ro theo ngành dọc.
Hình 1.1- Xu hướng thay đổi mô hình tổ chức quản trị rủi ro ngân hàng
141.2.4. Phương pháp đánh giá chất lượng quản trị rủi ro tín dụng của Ngân
hàng thương mại
Nếu như quản trị rủi ro tín dụng có vai trò quan trọng sống còn với ngân hàng thì
quả; (xii) có hệ thống quản lý chất lượng danh mục dư nợ; (xiii) đánh giá được
các xu hướng của nền kinh tế; (xiv) có hệ thống đánh giá chất lượng quản lý rủi
ro tín dụng một cách độc lập; (xv) duy trì mức độ rủi ro ở mức phù hợp với tiêu
chuẩn nội bộ; (xvi) có hệ thống cảnh báo và thực hiện các biện pháp sớm trong 16
tình trạng có thể xảy ra rủi ro tín dụng; và (xvii) phải có hệ thống kiểm soát hoạt
động hiệu quả.
Mặc dù số lượng, trọng tâm sử dụng các chỉ tiêu có khác nhau, tuỳ thuộc vào
mục đích, mức độ phát triển của ngân hàng được đánh giá nhưng phương pháp
đánh giá cơ bản dựa vào 4 trụ cột: 3 trụ cột liên quan đến các yếu tố thuộc chủ
quan của ngân hàng (xây dựng môi trường quản trị rủi ro tín dụng; thực hành
quy trình cấp tín dụng lành mạnh; duy trì hoạt động theo dõi, đo lường rủi ro) và
1 trụ cột liên quan đến vai trò của cơ quan giám sát và/ hoặc cơ quan kiểm toán
bên ngoài. Đây là khuôn khổ phân tích dùng để đánh giá hoạt động quản trị rủi
ro tín dụng đồng thời các ngân hàng có thể sử dụng khuôn khổ này để xây dựng,
đánh giá hệ thống quản trị rủi ro tín dụng của mình. Khuôn khổ phân tích được
mô tả như trong hình dưới đây:
Hình 1.2- Khuôn khổ phân tích hoạt động quản trị rủi ro tín dụng
17
Môi trường:
Thiết lập các tiêu chí cụ thể cho việc cấp tín dụng, từ việc cấp tín dụng lần
đầu đến việc gia hạn, mở rộng nhằm đảm bảo mọi khoản tín dụng đều được giám
sát, quản lý chặt chẽ, đặc biệt là đối với các khách hàng có quan hệ với ngân
hàng.
•
••
•
Xây dựng các giới hạn rủi ro cho từng khách hàng, nhóm khách hàng liên
quan, cả đối với các giao dịch nội bảng cũng như ngoại bảng; giới hạn theo cấp
thẩm quyền.
18
Kiểm soát, theo dõi đo lường:
Kiểm soát, theo dõi đo lường đề cập đến các giải pháp giám sát, quản lý tín
dụng. Cần phải đạt được các yếu tố:
•
••
•
Có hệ thống thông tin, dữ liệu cho phép theo dõi thường xuyên, chính xác
và đầy đủ mức độ rủi ro tín dụng, cả nội bảng và ngoại bảng; cập nhật thông tin
về xu hướng thị trường, phát triển kinh tế.
•
••
•
Xây dựng và áp dụng hệ thống xếp hạng rủi ro nội bộ
•
••19
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI SEABANK
2.1. Khái quát về Seabank
Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á (Seabank) được thành lập
năm 1994 và là một trong những Ngân hàng TMCP ra đời sớm nhất và nằm
trong Top 10 ngân hàng TMCP lớn nhất Việt Nam. Kể từ ngày thành lập đến
nay, Seabank đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, hoàn thiện và đạt được
những thành công nhất định. Việc đổi mới toàn diện luôn là chiến lược ưu tiên
hàng đầu của Seabank với mục tiêu trở thành một ngân hàng thương mại cổ phần
hiện đại.
Năm 2009 đánh dấu bước chuyển đổi toàn diện của Seabank, từ định
hướng kinh doanh mới đến diện mạo mới và phong cách mới với việc triển khai
chiến lược nhân hàng bán lẻ, hướng tới đối tượng khách hàng mục tiêu cá nhân
và các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cuối năm 2009 Seabank chính thức công bố Bộ
nhận diện thương hiệu mới và Hội sở của ngân hàng được chuyển về 25Trần
Hưng Đạo– Hoàn Kiếm – Hà Nội. Đây là những sự thay đổi mang tính chất bước
ngoặt cho định hướng phát triển mới của Seabank, hướng đến mục tiêu trở thành
ngân hàng bán lẻ tiêu biểu tại Việt Nam.
Trong thời gian qua, Seabank đã xây dựng cho mình một chiến lược phát
triển hiệu quả và bền vững. Đó là việc xây dựng Seabank trở thành ngân hàng
bán lẻ tiêu biểu tại Việt Nam, hiện đại hóa phần mềm quản trị ngân hàng, mở
rộng lưới hoạt động, đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu
của khách hàng một cách hoàn hảo nhất.
Hình ảnh về một ngân hàng hiện đại, tăng trưởng bền vững, luôn vì lợi ích
21
22
2.1.2. Tình hình hoạt động kinh doanh của Seabank
Kết quả kinh doanh trong năm 2010 là tiền đề hết sức thuận lợi để
Seabank thực hiện nhiệm vụ phát triển, đạt và vượt chỉ tiêu – kế hoạch năm 2011
và những năm sau. Đồng thời cũng tạo cho Ngân hàng có một vị thế mới, thúc
đẩy quá trình mở rộng và đa dạng hóa kinh doanh với phương châm phát triển
toàn diện – bền vững – an toàn – hiệu quả.
Với các lĩnh vực hoạt động kinh doanh đặc thù của mình như: tín dụng cá
nhân, dịch vụ ngân hàng dành cho cá nhân và doanh nghiệp, dịch vụ bảo lãnh,
dịch vụ thanh toán quốc tế… Seabank đang nỗ lực hoàn thiện sự phong phú đa
dạng cũng như chất lượng phục vụ tốt nhất tới khách hàng. Chính vì vậy mà
trong những năm qua Seabank đạt được những thành công rất lớn, thể hiện qua
kết quả hoạt động kinh doanh rất rõ nét (Bảng 2.2).
24
Thu nhập lãi thuần
Thu nhập lãi thuần của Seabank tăng trưởng qua các năm, năm 2009 thu nhập lãi
thuần của Seabank đạt 700.858 triệu đồng, đến năm 2010 thu nhập lãi tăng lên
1.124.320 triệu đồng, tương đương mức tăng 60,42%. Năm 2010 có được sự
tăng trưởng vượt trội trên là do tình hình kinh tế bước đầu ổn định sau khủng
hoảng, NHNN đã có nhiều biện pháp hiệu quả nhằm bình ổn lãi suất, chỉ đạo các
tổ chức tín dụng thực hiện quyết toán hỗ trợ lãi suất đối với các khoản cho vay
ngắn hạn bằng VND phát sinh trong năm 2009 và triển khai cho vay hỗ trợ lãi
suất trong năm 2010 theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Các chính sách
trên đã tác động đến tình hình tín dụng của các tổ chức tín dụng nói chung và
Seabank nói riêng. Cụ thể thu nhập lãi thuần năm 2010 tăng lên so với năm 2009
là do chênh lệch giữa thu nhập và chi phí từ các khoản tiền gửi và cho vay tại tổ
chức tín dụng, các khoản cho vay và ứng trước của khách hàng, thu nhập từ đầu
tư chứng khoán tăng lên. Trong đó, năm 2010 thu nhập từ các khoản cho vay và
tăng lên so với năm 2009, đặc biệt là dịch vụ thanh toán và tiền mặt tăng tới
100,44%.
Lãi thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối
Năm 2008, lỗ thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối là 16.899 triệu
đồng, đến năm 2009 đạt 30.615 triệu đồng, tăng 13.716 triệu đồng. Nguyên nhân
là do đến đầu năm 2009 ngân hàng mới chính thức được NHNN xác nhận đủ
điều kiện hoạt động cung ứng các dich vụ ngoại hối, chính vì vậy lợi nhuận từ
hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng mới bước đầu tăng trưởng từ năm
2009.
Lãi thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối năm 2010 đã có tăng trưởng
vượt trội so với năm 2009, cụ thể: năm 2010 đạt 77.998 triệu đồng, tăng 47.383
triệu đồng, tương đương với mức tăng 155% so với năm 2009.