BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y
========*=========
LƢƠNG XUÂN HIẾN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
VỆ SINH MÔI TRƢỜNG NHẰM HẠN CHẾ SỰ
PHÁT TRIỀN CỦA RUỒI NHẶNG, BỆNH TIÊU
CHẢY VÀ NHIỄM GIUN ĐƢỜNG RUỘT TẠI 3
XÃ TỈNH THÁI BÌNH
CHUYÊN NGÀNH : VỆ SINH HỌC XÃ HỘI VÀ TỔ CHỨC Y TẾ
MÃ HIỆU: 03.01.12.
LUẬN ÁN PHÓ TIẾN SỸ KHOA HỌC Y DƢỢC
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS. TS Nguyễn Mạnh Liên
PTS Tạ Huy Thịnh
-
-
J
Hà Nội – 1994
CHƢƠNG II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
20
2.1. Phƣơng pháp điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và
vệ sinh môi trƣờng tạỉ các xã phòng chống ruồi nhặng
20
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu đặc điểm sinh thái và
22
ý nghĩa dịch tễ của ruồi nhặng
2.2.1. Phƣơng pháp điều tra hiện trạng vệ sinh hố xí và chuồng lợn
22
2.2.2. Phƣơng pháp điều tra ổ phát sinh ruồi nhặng
22
2.2.3. Phƣơng pháp điều tra số lƣợng ruồi nhặng trong và ngoài nhà
23
2.2.4. Phƣơng pháp xét nghiệm Feacal coliform
24
3.1. Một số nét về đặc điểm tỉnh Thái Bình
3.1.1. Đặc điểm địa lý, khí hậu
34
34
3.1.2. Tình hình dân số - thu nhập
35
3.1.3 Tình hình sử dụng nƣớc, phân và bệnh đƣờng tiêu hóa
37
3.2. Tình hình kinh tế, xã hội và vệ sinh môi trƣờng
41
tại các xã phòng chống ruồi nhặng
3.3. Một số đặc điểm sinh thái và ý nghĩa dịch tễ của ruồi nhặng
47
3.3.1. Ổ phát sinh ruồi nhặng
47
3.3.2. Số lƣợng ruồi nhặng ở trong và ngoài nhà
3.5.2. Kết quả khống chế ruồi nhặng
67
3.5.3 Kết quả khống chế bệnh tiêu chảy và nhiễm giun
76
CHƢƠNG IV. BÀN LUẬN
82
4.1. Điều kiện tự nhỉên, kinh tế, xã hội, vệ sinh môi trƣờng tỉnh Thái Bình 82
4.2. Điều kiện kinh tế xã hội và vệ sinh môi trƣờng tại các điểm nghiên cứu
4.3. Một số đặc điểm sinh thái, dịch tễ của 3 loại ruồi nhặng
83
85
4.4. Các biện pháp phòng chống ruồi nhặng
4.5. Kết quả của các biện pháp phòng chống
91
95
CHƢƠNG V. KẾT LUẬN
100
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Cộng tác viên.
ĐC:
Đối chứng.
HXTDN:
Hố xí thấm dội nƣớc.
KHKT:
Khoa học kỹ thuật.
KAP:
Hiểu biết, thái độ, thực hành (Knowlcge. Attitude, Pactice).
MF:
Màng lọc.
BM:
Xã Bình Minh.
VH:
Xã Vũ Hòa.
nhiễm giun đƣờng ruột. Một nguyên nhân quan trọng của sự lây lan hai loại bệnh
trên tại các nƣớc đang phát triển là tập quán dùng phân tƣơi trong nông nghiệp. Sự
lây lan các mầm bệnh từ ngƣời bệnh sang ngƣời bình thƣờng thông qua nƣớc sinh
hoạt, thức ăn bị ô nhiễm và đặc biệt là ruồi nhặng - Vector truyền bệnh quan trọng
đối với các nƣớc có khí hậu nhiệt đới. Trong số các loài gặp ở khu dân cƣ nƣớc ta
có 3 loài : Ruồi nhà (Musca domestica L), nhặng xanh (Chrysomyia me gacephala
Fabr.) và ruồi chợ (Musca sorbens Wd) là phổ biến nhất.
Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp ở vùng đồng bằng ven biển, có mật
độ dân số cao và đa số nhân dân sống ở nông thôn trồng lúa. Tại các địa phƣơng
trong tỉnh, tập quán dùng phân tƣơi và phân chƣa ủ kỹ trong nông nghiệp vẫn
còn phổ biến, ý thức giữ gìn vệ sinh môi trƣờng của nông dân còn thấp. Phân và
rác sinh hoạt trong khu vực dân cƣ tạo điều kiện thuận lợi cho các loài ruồi
nhặng sinh sống và phát triển, làm cho tỷ lệ những ngƣời mắc bệnh tiêu chảy và
nhiễm giun đƣờng ruột tại các khu vực đó khá cao.
Để dự phòng hai loại bệnh trên có hiệu quả, một biện pháp quan trọng
cần phải tiến hành là hạn chế sự sinh sản của ruồi nhặng. Muốn phòng chống
ruồi nhặng có kết quả chúng ta phải nghiên cứu đặc điểm phát triển của chúng
trong hệ sinh thái nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa nƣớc ở vùng nông thôn Thái
Bình nhằm làm cơ sở khoa học cho việc đề ra các biện pháp thích hợp. Biện
pháp sử dụng hóa chất diệt côn trùng thƣờng có tác dụng nhanh nhƣng gây độc
cho ngƣời cũng nhƣ ô nhiễm môi trƣờng và hiệu quả không bền vững. Vì vậy,
việc triển khai các biện pháp vệ sinh môi trƣòng vào mục đích này là vấn đề
thực sự cần thiết.
Phòng chống ruồi nhặng là công việc đòi hỏi sự tham gia của đông đảo
nhân dân, trong đó công tác giáo dục môi trƣờng, tuyên truyền vận động, tổ chức
cộng đồng nhằm thay đổi tập quán không hợp vệ sinh, chấp nhận và áp dụng các
biện pháp vệ sinh môi trƣờng là rất quan trọng.
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
Theo tài liệu của tổ chúc y tế thế giới (WHO, 1992), đƣờng lan truyền
các mầm bệnh trong phân ngƣời sang ngƣời có thể qua tay bẩn, ruồi, nƣớc bề
mặt và nƣớc thải, chất thải rắn và đất. Vì thế, việc quản lý phân ngƣời và sử
dụng phân đảm bảo vệ sinh sẽ cắt các đƣờng lan truyền trên tới ngƣời, tránh
cho con ngƣời bị mắc các bệnh liên quan tới phân nhƣ các bệnh giun sán và
tiêu chảy.
Nƣớc ta là một nƣớc nông nghiệp, trên 80% nhân dân sống ở nông thôn,
việc sử dụng phân bắc phục vụ cho nuôi trồng đã là một tập quán từ lâu đời.
Trong quá trình sử dụng đó, đã có nhiều cách quản lý phân khác nhau và hiệu
quả cũng khác nhau.
Hoàng Tích Mịnh (1960) cho rằng việc quản lý chặt chẽ nguồn phân
nguời là rất quan trọng vì đó là nguồn gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng.
Nguyễn Thiện Hòa (1964) đƣa ra ý kiến hố xí hợp vệ sinh đảm bảo đƣợc
những tiêu chuẩn về mặt vệ sinh, không làm ô nhiễm đất, nƣớc và không khí
xung quanh.
Từ những năm của thập kỷ 60, hố xí 2 ngăn đã đƣợc áp dụng rộng rãi
và có hiệu quả tốt. Hoàng Tích Mịnh (1960) cho biết ủ phân với tro bếp sau
một tháng hủy đƣợc 80 - 100% trứng giun đũa và kén amíp. Khi ủ phân với
tro bếp vào mùa hè sau 1 tháng tỷ lệ trứng giun đũa bị hủy diệt là 79% ở giai
đoạn I và 100% trứng ở giai đoạn IV, trong khi đó nếu không có tro bếp, tỷ
lệ bị hủy diệt tƣơng ứng chỉ còn 10% và 20% (51). Hố xí 2 ngăn trong nhiều
thập kỷ qua là một trong số ít giải pháp kỹ thuật vệ sinh đƣợc nghiên cứu kỹ
và áp dụng rộng rãi, góp phần bảo vệ tốt sức khỏe con ngƣời (6). Bên cạnh
đó, hố xí 2 ngăn có nhiều thuận lợi cho việc khai thác phân tuơi hoặc ủ
không kỹ phục vụ nuôi trồng trong nông nghiệp, gây nên sự ô nhiễm (13).
Nghiên cứu của Lê Cƣơng (1971) tại Nam Ninh thấy 98% hố xí 2 ngăn hở, ít
chất độn, 100% hố xí không ủ phân, có rất nhiều dòi ruồi nhặng (15). Xét
nghiệm 332 mẫu đất quét ở 39 hố xí 2 ngăn với 1064 mẫu xét nghiệm thấy số
1.2. TÌNH HÌNH Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG VÀ MẮC BỆNH ĐƢỜNG RUỘT,
GIUN SÁN DO PHÂN.
Tình trạng quản lý và sử dụng phân ở nƣớc ta nhƣ trên đã dẫn tới sự ô
nhiễm nguồn nƣớc, đất, ruồi nhặng phát triển ... gây ra hậu quả số ngƣời mắc
bệnh giun sán và tiêu chảy tăng cao.
Ở Philippin có tới 50,4% số mẫu nƣớc giếng khơi có lƣợng Feacal
coliform cao hơn 101/100 ml nƣớc, chỉ có 6,9% số mẫu nƣớc dƣới 10 Feacal
coliform/100 ml nƣớc (133).
Theo Hoàng Đình Hồi (1993) thì ở nông thôn nƣớc ta cần phải chú ý 2
vấn đề lớn là:
Cung cấp nƣớc sạch để ăn uống và sinh hoạt cho các hộ gia đình.
Xử lý phân và các chất thải sinh hoạt (36).
Qua xét nghiệm cho thấy nhiều nguồn nuớc bị ô nhiễm nặng. Nƣớc sông
Hồng và nƣớc giếng nông ở đồng bằng Bắc Bộ, nƣớc bề mặt ở đồng bằng sông
Cửu Long bị ô nhiễm nặng do phân ngƣời (12). Nƣớc sông Mê Công, các nhánh
sông, ao đều bị nhiễm vi sinh vật có nguồn gốc từ phân ở 100% số mẫu xét
nghiệm (21). Cầu tiêu ao cá ở đồng bằng sông Cửu Long gây ô nhiễm nặng nề
cho tất cả các nguồn nƣớc bề mặt với mật độ từ hàng chục ngàn đến hàng triệu
Feacal coliform trong một lít nƣớc, đó là nguồn gốc các bệnh dịch lƣu hành
thƣờng xuyên ở đồng bằng sông Cửu Long (12). Ở Tây nguyên các xét nghiệm
cho biết nƣớc bị nhiễm bẩn đạt tới 60%. Ảnh hƣởng của việc quản lý và sử
dụng phân không hợp vệ sinh tới sức khỏe con ngƣời rất lớn. Các đƣờng lây
truyền trung gian nhƣ nƣớc, đất, ruồi nhặng ... đƣa mầm bệnh từ phân ngƣời
vào con ngƣời đã sẵn có, con ngƣời hàng ngày phải tiếp xúc, sử dụng chúng, hậu
quả con ngƣời sẽ mắc bệnh. Tại các nƣớc đang phát triển có khoảng 14 triệu trẻ
em dƣới 5 tuổi bị chết, hơn 3 triệu trẻ em tàn tật nặng là hậu quả của nhiễm bẩn
nƣớc, vệ sinh kém và ô nhiễm môi trƣờng (134).
tới phân ngƣời, phân gia súc đƣợc tiếp tục bởi Bouche (1834), Taschenberg
(1880).
Howard (1900, 1901) lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ ruồi gần ngƣời với
nghĩa “ruồi có liên quan với con ngƣời và khu dân cƣ”. Khái niệm “gần ngƣời”
ngày càng đƣợc nhiều ngƣời quan tâm tìm hiểu và làm sáng tỏ bởi vì đó là một
đặc tính quan trọng làm cho loại ruồi nào đó có ý nghĩa dịch tễ (Graham - Smith,
1916; Merrier, 1929; Thomson et Hamer, 1936; Townsend, 1935) (Theo Tạ Huy
Thịnh, 1989). Những nghiên cứu về ruồi gần nguời trong suốt nửa thế kỷ vừa
qua cho thấy: ở các vùng khác nhau trên thế giới có các tổ hợp ruồi gần ngƣời
khác nhau, nghĩa là các loại ruồi có ý nghĩa dịch tễ ở các địa phƣơng khác nhau
không hoàn toàn nhƣ nhau. Trừ trƣờng hợp ruồi nhà Musca domestica có phân
bố toàn thế giới, còn ở mỗi địa phƣơng còn tồn tại một số loài nữa có ý nghĩa
dịch tễ. Ruồi gần ngƣời sinh trƣởng và phát triển đƣợc là nhờ chủ yếu vào các
sản phẩm từ sinh hoạt của con ngƣời, bởi vậy công việc đấu tranh với chúng
trƣớc hết là nhằm hạn chế và thủ tiêu những ổ phát sinh đó. (75, 107, 120, 145,
158, 159, 160, 161).
Giữa những nghiên cứu về sinh học, tập tính thì tìm hiểu những ổ
phát sinh đặc trƣng của ấu trùng ruồi nhặng là có ý nghĩa thực tiễn lớn
nhất, vấn đề này thƣờng đƣợc xem xét từ 2 phía : Một là tính thích nghi
của ruồi nhặng với loài giá thể ƣa thích để ăn và đẻ trứng, hai là sự tồn tại
của các ổ phát sinh này trong khu dân cƣ nhƣ hậu quả của việc giữ gìn vệ
sinh môi trƣờng không tốt. Những ổ phát sinh này có 4 dạng chính: Phân
ngƣời, phân gia súc, rác thải hữu cơ và xác súc vật chết. Tùy theo điều
kiện sinh hoạt, tập quán thói quen và mức độ giữ gìn vệ sinh môi trƣờng ở
các địa phƣơng khác nhau mà ổ phát sinh này hoặc ổ phát sinh kia nổi lên
chủ yếu, đặc trƣng cho các loại ruồi gần ngƣời ở đó. Thƣờng thƣờng ổ phát sinh
ruồi nhặng ở các vùng nông thôn là phân ngƣời và phân gia súc, còn ở thành phố
là rác thải hữu cơ và phân ngƣời. Ở các nƣớc phát triển, khi phân nguời đƣợc sử
domestica hoặc M. vicina (16, 54, 58, 69, 73).
Theo nghiên cứu của các tác giả thì 3 loài ruồi nhà M. domestica, nhặng
xanh Ch.megacephala và ruồi chợ M.sorbens là phổ biến nhất và có ý nghĩa dịch
tễ lớn nhất. Các đặc điểm sinh học, sinh thái và tập quán của ruồi gần ngƣời, đặc
biệt 3 loài chủ yếu nói trên đã đƣợc đề cập tới trong nhiều công trình nghiên cứu
khoa học (15, 74, 77, 79, 80, 87).
1.4. VAI TRÒ DỊCH TỄ CỦA RUỒl NHẶNG.
Việc tìm hiểu vai trò dịch tễ của ruồi nhặng nhƣ yếu tố trung gian
truyền các bệnh truyền nhiễm và ký sinh cũng đƣợc song song nghiên cứu
với thành phần loài và sinh thái của chúng. Đầu tiên Mercuriadse (1577), sau
đó Sandenhem (1666) và Pringle (1768) nêu vai trò của ruồi nhặng trong
việc lan truyền các bệnh đƣờng ruột. Năm 1892 Ca ko phân lập phẩy khuẩn
tả từ phân của ruồi nhà, năm 1902 Gali Valerio tìm thấy trực khuẩn lỵ trong
cơ thể ruồi nhà và 2 loài nhặng khác (theo Tạ Huy Thịnh, 1989). Tiếp theo,
trong tƣ liệu khoa học thế giới xuất hiện nhiều dẫn liệu về vai trò truyền
bệnh của ruồi nhặng (Howard, 1901; Mercier, 1925; Graham - Smith, 1914;
u u u Tetepobcka, 1943 - theo Tạ Huy thịnh, 1989). Ngƣời ta cho rằng có tới
90% các trƣờng hợp bệnh đƣờng ruột ruồi có thể tham gia đóng góp vào việc
lan truyền. Nguồn nƣớc không đảm bảo vệ sinh cũng nhƣ việc quản lý vệ
sinh môi trƣờng và khống chế ruồi nhặng không tốt đã dẫn tới số lƣợng trẻ
em mắc ỉa chảy trên thế giới tăng cao. Theo WHO hàng năm ở các nƣớc
Châu Á, Phi, Mỹ La Tinh có khoảng 5 triệu trẻ em bị chết vì bệnh ỉa chảy
(tính trung bình cứ mỗi phút có 10 trẻ em bị chết) và trong số 338 triệu trẻ
em thuộc nhóm tuổi này bị mắc hàng nghìn triệu lƣợt ỉa chảy (tính trung
bình mỗi trẻ bị mắc ỉa chảy 3 lần trong một năm) (97).
Ruồi nhặng có khả năng bay, đậu trên mọi vật khác nhau, chúng thích
đậu và thức ăn nƣớc uống của ngƣời và súc vật, đồng thời cũng đậu trên nơi
đầy diều lại nôn ra và bài tiết rất thƣờng xuyên.
- Ruồi nhặng có thể mang một số lƣợng lớn các mầm bệnh trên cơ thể
chúng và trong bộ máy tiêu hóa.
- Ruồi nhặng có tính thích ứng rất cao và có thể đạt số lƣợng rất lớn
trong khu dân cƣ.
Tuy nhiên, khả năng lan truyền mầm bệnh do ruồi nhặng còn phụ
thuộc vào:
- Số lƣợng mầm bệnh thực tế do ruồi nhặng mang và lƣợng mầm bệnh
cần thiết đủ để gây bệnh cho ngƣời.
- Khả năng phát triển của mầm bệnh trong thực phẩm bị ruồi nhặng gây
nhiễm (132, 136, 137, 138).
Ruồi nhặng đƣợc coi là vật chỉ thị ô nhiễm vệ sinh môi trƣờng bởi lẽ:
- Thể hiện sự hiện diện của chất thải, đặc biệt là phân ngƣời chƣa đƣợc xử lý.
- Bản thân ruồi nhặng là vật trung gian truyền các bệnh truyền nhiễm và
ký sinh phổ biến (161).
Để đánh giá vai trò truyền bệnh của ruồi nhặng ngƣời ta thƣờng kết hợp
các phƣơng pháp: vi sinh vật học, ký sinh trùng học, dịch tễ học và côn trùng
học. Riêng trong côn trùng học, một số tác giả đã xây dựng các chỉ số để đánh
giá nhƣ chỉ số nguy hiểm (denger index) của Michalyi (1967), chỉ số gần ngƣời
(N-Index) của Nuorteva (1963), chỉ số tiềm năng nguy hiểm dịch tễ (IPED)
(116, 120, 161).
Ở Việt Nam, nhiều tác giả nghiên cứu đã thừa nhận vai trò của ruồi
nhặng trong việc lan truyền các bệnh lỵ amíp, lỵ trực trùng, tả, viêm gan vi rút,
đau mắt hột và giun (15, 22, 59, 60, 62, 63). Một số tác giả đã xét nghiệm ruồi
nhặng (bên ngoài cơ thể và đƣờng ruột) để xác định vai trò mang, vận chuyển
mầm bệnh của chúng.
Bào nang E.hystolitica xét nghiệm thấy nhiều lần trên cơ thể hoặc trong
bộ máy tiêu hóa của ruồi nhặng (57). Nguyễn Văn Hiếu và cộng sự (1983) phân
môi trƣờng. Đây là phƣơng pháp tích cực, chủ động nhằm thủ tiêu tận gốc các ổ
phát sinh ruồi nhặng và ngăn chặn khả năng lan truyền mầm bệnh của chúng.
Những biện pháp phòng ngừa chủ chốt đều xoay quanh công việc quản lý, xử lý
phân, rác, sử dụng hố xí hợp vệ sinh, cải tạo chuồng gia súc và ủ phân, thu gom,
xử lý chất thải. Hiệu quả kiềm chế số lƣợng ruồi nhặng trong khu dân cƣ hoặc
trang trại của các biện pháp trên đã đƣợc thực tiễn chứng minh rõ ràng (142,
146, 152, 163).
Gắn liền với việc xử lý phân và việc sử dụng hố xí. Việc phát triển các
loại hố xí ngày càng vệ sinh và thuận tiện thể hiện một khía cạnh của lịch sử văn
minh nhân loại. Ở các nƣớc tiên tiến và ở các thành phố của các quốc gia, hiện
nay phổ cập hố xí máy - hệ thống hố xí dội nƣớc, tự hoại. Tuy nhiên ở các vùng
nông thôn của phần lớn các quốc gia, mà ở đó dân số chiếm phần lớn dân số thế
giới vẫn ở tình trạng sử dụng các loại hố xí chƣa vệ sinh hoặc thiếu hố xí. Chính
vì vậy, hiện nay nhiều quốc gia khác nhau vẫn đang tiến hành những nghiên cứu
thiết kế mẫu hố xí vệ sinh, thích hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phƣơng
và nghiên cứu triển khai xây dựng, sử dụng chúng. Các loại hố xí kiểu một ngăn,
2 ngăn, xây chìm hay nổi, có xây lát hay không xây lát đƣợc xem xét phân tích
mọi khía cạnh (114). Hố xí đơn giản hợp vệ sinh đã đƣợc phổ biến cho nhân dân
tự xây dựng ở một số vùng của Ethiopi (110). Hố xí 2 ngăn của Việt Nam cũng
đƣợc giới thiệu ra thế giới nhƣ là một giải pháp xử lý phân (104). Ở Botswana
và Tanzania còn nghiên cứu thiết kế loại bẫy ruồi bán kiên cố đặt trên lỗ xí của
hố xí khô. Malaixia giới thiệu 5 phƣơng án hố xí rẻ tiền cho nông dân với
phƣơng châm tự dân làm lấy đƣợc. Họ cho biết hố xí không lát đáy có lẽ là kinh
tế nhất và vẫn hợp vệ sinh. Còn ở Nigeria, ngƣời ta lại dựa theo tập quán sinh
hoạt của ngƣời dân để giới thiệu 2 loại hố xí: hố xí 2 ngăn không thích hợp cho
các hộ dùng giấy hoặc vật dụng khác để lau chùi và hố xí dội nƣớc thuận tiện
cho những ngƣời theo đạo Hồi vì họ dùng nƣớc để rửa. Ấn Độ đặt ra quốc sách
là thanh toán các hố xí thùng, thay vào đó là hố xí dội nƣớc 2 bể chứa. Loại hố
106).
Ngƣời ta cũng sử dụng các Pyrethroit tổng hợp (Permethrin, Allethrin,
Del- tamethrin) có hoạt lực diệt ruồi rất cao (111, 123, 131, 143).
Các phƣơng thức diệt ruồi bằng hóa chất thƣờng dùng là: xông
hơi, thăng hoa, phun sƣơng, bả độc (lỏng, sơn, khô), bả dính, bả dây treo
(138).
Biện pháp hóa học diệt ruồi trƣởng thành chiếm vị trí quan trọng trong
phòng chống nhƣng chỉ đƣợc đánh giá nhƣ biện pháp hỗ trợ nhằm kiềm chế số
lƣợng ruồi nhặng phát sinh từ các ổ mà biện pháp vệ sinh môi trƣờng chƣa khắc
phục đƣợc. Ý nghĩa của việc diệt ruồi trƣởng thành không cao vì phần lớn ruồi
nhặng trƣớc khi bị tiêu diệt đã tham gia vào quá trình dịch tễ và đã đẻ trứng để
duy trì, bảo tồn số lƣợng quần thể.
Diệt ấu trùng ruồi nhặng ngay từ ổ phát sinh là cách thức tốt hơn cả
do đạt hiệu quả cao và ít sử dụng thuốc hóa học tránh ô nhiễm môi trƣờng
(156). Từ lâu ngƣời ta đã dùng các chất vô cơ hoặc hữu cơ cổ điển (vôi bột,
dầu hỏa, dầu ma dút, Creolin) để diệt ấu trùng ruồi nhặng. Cho tới nay trong
nhiều trƣờng hợp, vôi bột vẫn đuợc sử dụng có hiệu quả (155, 161). Phổ
biến hơn, ngƣời ta sử dụng Clo hữu cơ,hoặc lân hữu cơ để xử lý ổ phát sinh
ruồi nhặng (136, 137, 138, 144, 147, 148, 151). Một biện pháp diệt ấu trùng
khá đặc biệt là cho vật nuôi ăn hóa chất diệt côn trùng có hoạt lực cao nhƣng
ít độc đối với súc vật (156).
Bên cạnh hiệu quả còn có những hạn chế, tiêu cực trong các biện pháp
diệt ruồi (trƣởng thành và ấu trùng). Đó là sự ô nhiễm thuốc trừ sâu hóa học tới
môi trƣờng xung quanh đã tác động trực tiếp tới sức khỏe con ngƣời. Mặt khác
sự phân hủy chậm các thuốc trừ sâu, đặc biệt Clo hữu cơ trong môi trƣờng và
các sản phẩm phân hủy của chúng cũng rất độc là một nguyên nhân phá vỡ cân
bằng sinh thái trong tự nhiên.
Ngoài biện pháp hóa học, ngƣời ta còn dùng các biện pháp cơ học, vật lý
động thƣờng xuyên liên tục trên các phƣơng tiện truyền thông đại chúng (đài,
báo, truyền hình, tranh tuyên truyền v.v...). Diệt ruồi cũng đã đƣợc đƣa vào
chƣơng trình giảng dạy ở trƣờng phổ thông, có mặt trong sách giáo khoa cho
học sinh (1). Trong chƣơng trình vệ sinh môi trƣờng, công tác giáo dục tuyên
truyền đƣợc coi là một trong những hoạt động quan trọng nhất, có tác dụng
đòn bẩy nhằm tiến tới thay đổi thói quen tập quán của nhân dân (32, 34, 36).
Nghiên cứu riêng về việc tổ chức cộng đồng tham gia phòng chống ruồi
nhặng cho thấy đây là công tác cực kỳ quan trọng trong hệ thống các biện
pháp phòng chống (29).
Song song với việc giới thiệu các biện pháp phòng chống ruồi thông
dụng nhất trên các tài liệu tuyên truyền và sách giáo khoa, những nghiên cứu tìm
hiểu các biện pháp diệt ruồi có hiệu quả đã đƣợc thực hiện.
Trong tập sách “những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” Đỗ Tất Lợi
(1965) đã giới thiệu một số cây có độc tính đối với côn trùng và đã từng
đƣợc sử dụng diệt ruồi theo kinh nghiệm dân gian. Trong số các cây này, cây
cổ giải đã đƣợc thử nghiệm làm bả diệt ruồi (54, 93). Biện pháp cổ điển xử
lý phân với vôi cục vẫn đƣợc áp dụng và cho hiệu quả diệt dòi rất tốt (13).
Tuy nhiên, các thuốc hóa học diệt côn trùng nhƣ lân hữu cơ, carbamat là
phƣơng tiện diệt ruồi đƣợc sử dụng nhiều nhất với các phƣơng tiện mồi bả
hoặc phun (15, 66, 84, 85, 86).
Hóa chất tuyệt sinh và chất điều tiết sinh trƣởng cũng đƣợc thử nghiệm
phòng chống ruồi nhà (76, 78, 83, 85). Tính hấp dẫn của một số hóa chất và mồi
tự nhiên đối với ruồi nhặng đã đƣợc thử nghiệm (58). Các biện pháp diệt ruồi cơ
học dễ áp dụng nhƣ bẫy lồng, bẫy thủy tinh đƣợc khôi phục và mở rộng áp dụng
trên diện rộng (32, 77).
Các nghiên cứu diệt ruồi nêu trên đã đóng góp công lao nhất định vào công
tác phòng chống ruồi ở nuớc ta. Một số phƣơng tiện (thí dụ: bả ruồi của Viện Vệ
sinh phòng dịch Hà Nội) có chất lƣợng khá tốt và đƣợc sử dụng khá rộng rãi. Tuy
43, 44, 61, 71, 95).
Trong chƣơng trình VSMT cũng thử nghiệm hố xí bán tự hoại (31). Mặc
nhiên, trong nông thôn ta đã tồn tại các loại hố xí tự hoại hoặc bán tự hoại tuy tỷ
lệ còn thấp (45, 102, 103). Trong các trƣờng phổ thông, mô hình hố xí tự hoại
đƣợc đƣa vào áp dụng (1, 28, 33, 96). Cần lƣu ý rằng, hố xí xử lý nƣớc đã đƣợc
quan tâm cùng thời với phong trào xây dựng hố xí 2 ngăn (20, 55).
Song song với những giải pháp kỹ thuật nói trên, trong suốt những năm
vừa qua có nhiều nghiên cứu về quản lý, sử dụng phân bắc, phân chuồng (3, 13,
19, 50, 52 53). Nói chung, các tác giả đều nhìn nhận rằng quản lý phân là một
dây chuyền thu gom - xử lý - tái sử dụng chứ không thể là công tác xử lý thanh
trừng và loại bỏ phân và công việc này có liên quan trực tiếp với tập quán sản
xuất nông nghiệp của nhân dân ta.
Nhƣ đã nói ở trên, mặc dù các giải pháp kỹ thuật xử lý phân đã đƣợc
triển khai trong nhiều năm ở nƣớc ta nhƣng thực sự trong vài năm gần đây trong
chƣơng trình vệ sinh môi trƣờng các giải pháp này mới đồng thời trở thành giải
pháp cơ bản của đấu tranh phòng chống ruồi nhặng bằng biện pháp vệ sinh môi
trƣờng đã đƣợc thực hiện ở cấp xóm và cấp xã (27, 30, 32, 82).
CHƢƠNG II
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.PHƢƠNG PHÁP ĐIẾU TRA TÌNH HÌNH VĂN HÓA, KINH TẾ, XÃ HỘI
VÀ VỆ SINH MÔI TRƢỜNG TẠI CÁC XÃ PHÒNG CHỐNG RUỒl NHẶNG
Các điểm nghiên cứu phòng chống ruồi nhặng là xóm 7 - xã Bình Minh
(huyện Kiến Xƣơng), xã Vũ Hòa (huyện Vũ Thƣ) và xã An Vinh (huyện Quỳnh
Phụ), điểm đối chứng là xã Hòa Bình (huyện Kiến Xƣơng) tỉnh Thái Bình.
Tại các điểm trên đã điều tra toàn bộ các hộ theo mẫu phiếu điều tra của Bộ
Y tế (phần phụ lục). Số liệu về dân số đƣợc thu thập từ các báo cáo
sách các hộ gia đình. Dùng bảng số ngẫu nhiên xác định hộ đầu tiên. Bằng
phƣơng pháp cổng liền cổng (door to door) điều tra các hộ tiếp theo. Nếu
không gặp gia đình phải quay lại ít nhất 2 lần nữa, nếu không gặp mới đƣợc
thay thế bằng hộ khác.
Các điều tra viên là các bác sĩ đƣợc tập huấn và thống nhất kế hoạch, kỹ
thuật điều tra.
Số liệu đƣợc xử lý để tính tỷ lệ trẻ dƣới 5 tuổi và tỷ lệ mắc tiêu chảy
chung trong 2 tuần qua.
Số mẫu điều tra tại Bình Minh là 318 ngƣời, xã Hòa Bình là 417 ngƣời.
Trong tháng 12 năm 1990 đã xét nghiệm 158 mẫu phân ở Bình Minh và
160 mẫu phân ở Hòa Bình theo phƣơng pháp Kato để xác định tỷ lệ nhiễm (%)
và cƣờng độ nhiễm giun truyền qua đất (giun đũa, tóc, móc) trong nhân dân (số
trứng/gam phân).
Kỹ thuật Kato
a - Chuẩn bị: dùng giấy bóng loại thấm nƣớc, cắt thành từng miếng có
kích thƣớc 20x30 mm, nhúng 24 giờ trong dung dịch gồm có:
- Glyxerin: 100 phần
- Nƣớc cất: 100 phần
- Dung dịch xanh malachit 3%: 1 phân
b - Tiến hành:
- Lấy 40 - 60 mg phân, đặt trên lam kính và phủ giấy bóng kính đã đƣợc
chuẩn bị nhƣ trên.
- Dùng nút cao su để dàn phân, hoặc úp lam kính trên tờ giấy để phân
dàn đều trên mặt kính.