Di sản thừa kế theo pháp luật dán sự Việt Nam..
Phần III
THANH TOÁN
VÀ PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ
Nếu việc xác định di sản thừa kế là khâu đầu tiên cần
thiết và quan trọng, là việc làm có ý nghĩa quyết định cho
các bước tiếp theo trong quan hệ pháp luật về thừa kế, thì
thanh toán và phân chia di sản là khâu cuốỉ cùng, và
cũng là kết quả của quá trình thực hiện các nội dung đó.
Bản thân nó cũng đòi hỏi, những yêu cầu riêng biệt, đồng
thời nó cũng có tính quyết định thể hiện kết quả đạt ở
mức nào trong việc thực hiện các nội dung của quan hệ
thừa kế trên thực tế. Trước khi thực hiện việc phân chia
di sản thừa kế là một loạt các công việc phải làm của
những người thừa kế.
•
•
•
•
A
I. THANH TOÁN DI SẢN THỪA KẾ
Khi trong gia đình có người nằm xuống thì việc đầu tiên
của những ngưòi thân, họ mạc là việc lo mai táng “mồ yên,
mả đẹp ” cho ngưòi đã mất, tiếp đến là những công việc
khác liên quan đến di sản thừa kế mà ngưòi chết để lại.
không mấy khó khăn. Trên thực tế việc quản lý di sản cũng
(UĐiều 648
Bộ luật Dân sự năm 2005.
253
Di sản thừa kế theo pháp luật dân sự ViệtNam...
như phân chia di sản thưòng được những người tlừa kê
thoả thuận phân chia một cách hoà thuận và nhường nhịn
lẫn nhau. Bỏi vậy những tranh chấp về thừa kế sẽ không
xảy ra đôi với những gia đình này.
Việc họp mặt những ngưòi thừa kế mà không đem đến
những kết quả của việc bàn bạc của những người tlừa kế
thì nguy cơ dẫn đến những tranh chấp về di sản thừa kế,
về những người được hưởng di sản thừa kế rất dễ xẻy ra.
Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà cuộc họp mặt ihững
người thừa kế cần bàn bạc, thoả thuận những vấn đề gì.
Nếu người để lại di sản không chỉ định ngưòi quản lý,
người phân chia di sản, ngưòi công bố di chúc... thì Tấn đề
quản lý di sản, người phân chia di sản phải được đưs ra để
bàn bạc, thống nhất đối với những vấn đề này để có ngưòi
quản lý di sản trong thòi gian di sản chưa được phân chia
nhằm tránh được mất mát, hư hỏng, tẩu tán, giấu diếm di
sản thừa kế... những ngưồi thừa kế có thể thống nhất cách
phân chia di sản nếu họ quyết định phân chia di sản trong
thời gian này.
Quyền và nghĩa vụ của người quản lý di sản và người
phân chia di sản có thể do những người thừa kế cùng nhau
sản không được định đoạt trong di chúc, phần tài sản liên
quan đến phần di chúc không có hiệu lực pháp luật, phần
tài sản bị từ chôl... được áp dụng chia thừa kế theo pháp
luật thì ngưòi phân chia di sản phải phân chia theo đúng
thoả thuận của những thừa kế viên.
Người phân chia di sản chỉ được hưởng thù lao đối với
công việc quản lý và phân chia di sản nếu được ngưòi lập
255
Di sẩn thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam...
di chúc cho phép. Mức thù lao được hưởng được xác định
theo ý chí của ngưòi để lại di sản. Nếu trong di chúc không
xác định việc hưởng thù lao và mức thù lao, nhưng nếu có
sự thoả thuận của những thừa kế viên thì ngưòi phân chia
di sản vẫn được hưởng thù lao theo sự thoả thuận đó.
Hiện nay, luật dân sự của nước ta mới chỉ quy định
ngưòi quản lý di sản là ngưòi phân chia di sản mà chưa quy
định thòi điểm bắt đầu kiểm kê di sản cho đến khi kết thúc
kiểm kê di sản thừa kế trong vòng bao nhiêu ngày.
Chúng tôi cho rằng, việc quy định này có ý nghĩa lớn
trong việc đánh giá tình hình di sản thừa kế của người để
lại di sản. Nếu để quá lâu thì khả năng thất lạc, mất mát,
hư hỏng, tẩu tán di sản xảy ra càng lớn. Hơn nữa, có nhiều
trưòng hợp di sản của ngưòi quá cố thuộc về rất nhiều
người thừa kế mà chưa được xác định tài sản nào thuộc về
ai, bởi vậy ý thức bảo quản di sản của họ bị hạn chế nhiều
so với việc đã xác định kiểm kê di sản và trao quyền cho
ngưòi đó đó quản lý khối di sản đó.
thừa kế. “K ể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa k ế
có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết đ ể lại”. Quyền
và nghĩa vụ của người thừa kế là những quyền và nghĩa vụ
về tài sản từ khôi di sản mà người chết để lại. Kể từ thời
điểm người để lại di sản chết, thì xác định quyền sở hữu đó
và tài sản đó thuộc về những người thừa kế, đồng thòi cũng
phát sinh nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.
“Người hưởng thừa k ế có trách nhiệm thực hiện nghĩa
vụ tài sản do người chết đ ể lại”n\ Khi thực hiện nghĩa vụ
tài sản xảy ra hai trường hợp:
người thừa kế phải thực hiện không vượt quá giá trị tài sản
mà ngưòi chết để lại. Nếu vượt quá khôi di sản thừa kế đó
thì họkhông có nghĩa vụ phải thanh toán.
Nếu ngưòi được hưởng thừa kế là nhà nước, cơ quan
hay tổ chức xã hội khác, thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ
về tài sản do người chết để lại như những ngưòi thừa kế là
cá nhân.
-
Trường hợp 2: Di sán đã được chia
Khác vài di sản chưa được chia, phương thức thanh
toán trong trưòng hợp này là mỗi ngưòi thừa kế thực hiện
nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại tương ứng với phần
mà mình đã nhận (Khoản 3 Điều 637 BLDS năm 2005).
Nếu di sản chia theo luật thì những ngưòi thừa kế cùng
hàng được hưởng di sản thừa kế bằng nhau. Bởi vậy mà
nghĩa vụ về tài sản của mỗi ngưòi đó do người chết để lại
được xác định bằng nhau.
Nếu di sản thừa kế được chia theo di chúc thì ngưòi
thừa kế có nghĩa vụ thanh toán các nghĩa vụ về tài sản và
các khoản chi phí liên quan đến người để lại di sản tương
ứng với phần tài sản mà mình đã được chỉ định trong di
chúc. Nhưng việc lập di chúc của ngưòi thừa kế để lại di
260
Phần III. Thanh toán và phân chia di sẩn thừa kế
sản giao nghĩa vụ cho những người thừa kế lại có thể xảy
Là các khoản tiền mà người để lại di sản khi còn sống
phải nộp thuế cho nhà nước (như thuế thu nhập, thuế kinh
267
Di sản thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam...
doanh, thuế chuyển quyền sử dụng đất...) và các khoản
tiền mà ngưòi này còn nợ của Nhà nưốc, mà họ chưa thực
hiện hoặc thực hiện chưa đủ thì chết.
Thứ bảy, Tiển phạt
Là khoản tiền mà một ngưòi phải nộp phạt, bao gồm
những khoản tiền do bị phạt hành chính, những khoản tiền
phạt do vi phạm hợp đồng, nhưng họ chưa nộp thì đã chết.
Thứ tám, Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân
hoặc một chủ thể khác
Là những khoản tiền mà người để lại di sản phải thực
hiện trưốc ngưòi khác, trước pháp nhân hoặc trưốc tổ chức
được xác lập thông qua các giao dịch dân sự hoặc thông qua
các hợp đồng kinh tế. Nếu ngưòi để lại di sản chết mà chưa
thực
• hiện *được các
• khoản nợ nói
• trên thì các chủ nợ được
• •
quyền thanh toán từ di sản của ngưòi chết.
Thứ chín, Chi phí cho việc báo quản di sản
đòi nỢ, thanh toán. Nên họ phải có vị trí được đòi thanh
toán ngang nhau mà không thể trước sau như khoản 5, 6,
và 8 Điều 683 BLDS năm 2005.
II. PHẢN CHIA DI SẢN THỪA KẾ
Sau khi mở thừa kế thì bất cứ lúc nào những người
thừa kế cũng có quyền yêu cầu chia di sản, nhưng trong
thực Itế rất ít khi di sản được đem chia ngay, thường là qua
269
Di sản thừa kế theo pháp luật dán sự Việt Nam...
một thồi gian dài hay ngắn kể từ khi mỏ thừa kế, tuỳ thuộc
vào sự thoả thuận của những ngưòi thừa kế.
Việc di sản được chia ngay có rất nhiều lý do có thể là
sự vắng mặt các thừa kế viên, di sản rải rác nhiều nơi chưa
tập hợp được, hoặc là do ý muốn của người quá cố, hoặc do
thoả thuận của những người thừa kế... Bởi vậy, việc bảo
quản di sản diễn ra trước, trong và sau khi chia di sản lại
càng có ý nghĩa hơn trong việc bảo đảm, giữ nguyên giá trị
của di sản thừa kế.
Về thời điểm phân chia di sản, so sánh với luật cũ
chúng ta thấy Điều 369 Bộ dân luật Bắc kỳ và Điều 371 Bộ
luật Trung kỳ đều quy định rằng: “Không người thừa k ế
nào bị bó buộc phải đ ể lại di sản mà không chia. Tuy nhiên
những người thừa k ế củng có th ể thoả thuận nhaụ hoàn
thành việc phân chia trong một thời gian. Trong khi chưa
phân chm tài sản ấy vẫn cứ đăng ký nguyên tên người
phân chia di sản sau một thời gian nhất định, thì chỉ khi
hết thòi hạn đó di sản mới được đem chia. Việc quy định
như vậy là hết sức cần thiết, sẽ tôn trọng ý chí định đoạt
của người để lại di sản, tôn trọng và bảo vệ sự thoả thuận
của những ngưòi thừa kê đồng thòi trong trường hợp cần
thiết (việc phân chia ngay gây thiệt hại đến giá trị của di
sản, hoặc không đảm bảo cho việc khai thác di sản...) Toà
án có quyền quyết định hoãn việc phân chia di sản.
Hiện nay, BLDS nước ta chỉ mới quy định thòi điểm
phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế từ thòi
điểm tứ thừa kế. Điểu đó có nghĩa là kể từ thời điểm mở
thừa kế thì người thừa kế có quyền kiểm kê, bảo quản,
phân chia di sản thừa kế. Việc phân chia di sản thừa kế bị
hạn chế theo quy định của Điều 686 BLDS năm 2005:
“Trorìụg trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc
271
Di sẩn thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam...
theo thoả thuận của tất cả những người thừa kế, di sản chỉ
được phân chia sau một thời hạn nhất định, thì chỉ khi đã
hết thời hạn đó di sản mới được đem chia”. Nhưng thời hạn
đó là bao lâu thì lại không được dự liệu trong điều luật này.
Bởi vậy, người lập di chúc cũng như người thừa kê có thể
kéo dài thời hạn chia di sản của ngưòi chết ngày càng thiếu
chính xác, giá trị của khôi di sản dễ bị giảm, mâu thuẫn
của những ngưòi thừa kế kéo dài... gây khó khăn, phức
tạp cho việc làm rõ vụ án nếu có tranh chấp về thừa kế xảy