Thanh toán và phân chia di sản thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam - Pdf 25


2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT ĐỖ THỊ VÂN GIANG
THANH TOÁN VÀ PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ TRONG
PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ
MÃ SỐ : 60 3830

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


Lời mở đầu

CHƯƠNG 1: Lý luËn chung vÒ thanh to¸n vµ ph©n chia di s¶n
1
1.1.Quyền thừa kế và Di sản thừa kế
6
1.1.1. Quyền thừa kế
6
1.1.2. Di sản thừa kế
8
1.1.3. Hình thức thừa kế
14
1.2. Thanh toán di sản
17
1.2.1. Phạm vi thanh toán nợ của di sản
17
1.2.2. Trách nhiệm thanh toán nợ của di sản
22
1.3. Phân chia di sản
24
1.3.1. Thiết lập khối di sản đƣợc phân chia
24
1.3.2. Thời điểm phân chia
27
CHƯƠNG 2: Thanh to¸n vµ ph©n chia di s¶n thõa kÕ trong ph¸p luËt
d©n sù ViÖt Nam
29
2.1. Thanh toán di sản
29

48
2 2 2 2. Ngi tha k khụng ph thuc vo ni dung di chỳc
49
2. 3. Phõn chia di sn theo phỏp lut
51
2. 3.1. Ngi tha k theo hng tha k
52
2.3 2. Ngi tha k th v
53
2.3.3. Phõn chia di sn trong trng hp cú ngi tha k mi
54
2.3.4. Trng hp cú ngi tha k b bỏc b quyn tha k
55
2.3.5. Vic tha k trong trng hp v, chng ó chia ti sn chung,
ang xin ly hụn, ó kt hụn vi ngi khỏc
55
2.4. Hn ch vic phõn chia
56
CHNG 3:Thc tin ỏp dng, nguyờn nhõn v mt s kin ngh nhm
hon thin cỏc qui nh ca phỏp lut v thanh toỏn v phõn chia di sn
tha k
58
3.1. Tỡnh hỡnh gii quyt cỏc thanh chp v tha k ti Tũa ỏn trong
nhng nm qua
58
3.1.1. Xỏc nh chớ phớ bo qun di sn, thanh toỏn tin thự lao cho
ngi qun lý di sn
60
3.1.2. Xỏc nh thi im nh giỏ di sn
64
7
LỜI MỞ ĐẦU
1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
BLDS năm 1995 của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đƣợc
Quốc hội thông qua ngày 28 tháng 10 năm 1995 tại kỳ họp thứ 8 Khoá IX là
một bƣớc ngoặt của pháp luật dân sự Việt Nam trong thời kỳ đổi mới của đất
nƣớc, với nhiệm vụ “bảo vệ quyền, lợi ích công cộng, bảo đảm sự bình đẳng
và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng các
nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã
hội”. Tiếp đến tại kỳ họp thứ 7, khoá XI ngày 14 tháng 6 năm 2005 Quốc hội
nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua BLDS năm 2005.
Đây là BLDS đã quán triệt và kịp thời thể chế hoá các Nghị quyết của Đảng,
Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001; Xây dựng
BLDS này là luật chung điều chỉnh các quan hệ xã hội đƣợc xác lập trên
nguyên tắc bình đẳng, tự chịu trách nhiệm, tự thoả thuận giữa các chủ thể; hạn
chế sự can thiệp mang tính hành chính của Nhà nƣớc vào các quan hệ dân sự,

thời điểm mở thừa kế quá lâu, ngƣời thừa kế thuộc hàng thứ nhất đã có ngƣời
đã chết các bên mới đƣa đơn khởi kiện ra Tòa.
Nhìn chung, việc giải quyết tranh chấp về thanh toán và phân chia di sản
liên quan đến nhiều quan hệ dân sự khác nhƣ quan hệ mua, bán, tặng, cho, thế
chấp, cầm cố, vay mƣợn trong một thời gian dài. Các qui định về thanh
toán và phân chia di sản có ảnh hƣởng rất nhiều trong việc thực hiện, áp dụng
và giải quyết tranh chấp thừa kế.
2. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong cuộc sống hiện đại, quan niệm về thừa kế không chỉ mang tính
đạo đức truyền thống gia đình mà nó đã bị chi phối bởi kinh tế - lợi ích vật
chất. Hiện tƣợng tranh giành nhau tài sản giữa những ngƣời trong quan hệ
huyết thống, quan hệ nuôi dƣỡng trong gia đình ngày nay đang rất phổ biến,
kéo theo việc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Các hành vi này có thể
là hành động nhƣ đánh, giết lẫn nhau hoặc không hành động nhƣ để mặc tình
thế nguy hiểm đến tính mạng của ngƣời để lại di sản hay nó có thể diễn ra
ngấm ngầm trong ý thức của họ. Các vụ án tranh chấp về thừa kế liên tiếp xẩy

9
ra gây tình trạng án tồn đọng không thể giải quyết đƣợc tại Toà án các cấp bởi
nhiều lý do khách quan lẫn chủ quan. Tại các cơ quan có thẩm quyền công
chứng, chứng thực các việc liên quan đến lập di chúc, khai nhận thừa kế, thoả
thuận phân chia di sản thừa kế, khƣớc từ quyền thừa kế ngày một gia tăng.
Phòng công chứng, Uỷ ban nhân dân các cấp khi tiếp nhận đơn yêu cầu của
đƣơng sự cũng phải rất thận trọng cho từng vụ việc vì rất có thể thông qua
những yêu cầu đó các đƣơng sự muốn lẩn tránh một trách nhiệm hay nhận
quyền hƣởng di sản không theo đúng qui định của pháp luật. Còn tại các Toà
án nhân dân, việc thụ lý giải quyết một vụ án về tranh chấp di sản thừa kế

Việt Nam, ngoài cuốn sách "Bình luận khoa học về Thừa kế" của Tiến sỹ
Nguyễn Ngọc Điện.
Với tình hình trên, chúng tôi đã chọn đề tài này để phân tích: đƣa ra khái
niệm chung về thanh toán nghĩa vụ tài sản của ngƣời chết để lại; khái niệm
phân chia di sản thừa kế; những qui định của pháp luật về thanh toán nghĩa vụ
tài sản của ngƣời để lại di sản; quyền và nghĩa vụ của ngƣời lĩnh trách nhiệm
thanh toán thay thế ngƣời đã chết; làm rõ khối di sản còn lại sau khi đã thực
hiện việc thanh toán để phân chia di sản; tìm hiểu thực tiễn áp dụng luật thực
định để giải quyết các tranh chấp về thanh toán và phân chia di sản; từ đó tìm
ra những bất cập, thiếu sót của luật thực định để đề ra phƣơng hƣớng hoàn
thiện pháp luật về chế định này.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Theo tƣ tƣởng triết học Mác- Lênin, trong quá trình nghiên cứu, chúng
tôi đã vận dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu điển hình:
- Phƣơng pháp so sánh: Đặt các qui định của pháp luật về thanh toán và
phân chia di sản thừa kế so sánh với các qui định về thừa kế khác trong Bộ
luật dân sự, các qui định tƣơng đƣơng trong quá trình phát triển chế định
Thừa kế của pháp luật dân sự Việt Nam, các bộ luật dân sự của các nƣớc trên thế
giới.
- Phƣơng pháp phân tích: Phân tích qua lại trong mối quan hệ biện
chứng với những yếu tố tác động cả mặt tốt lẫn mặt hạn chế của vấn đề.
- Phƣơng pháp tổng hợp: Rút ra những nhận định mang tính logíc và cố
gắng tạo ra đƣợc sự thuyết phục cho đề tài.

11
Với những phƣơng pháp cơ bản trên, chúng tôi hy vọng đề tài sẽ có đƣợc
sự nghiên cứu nghiêm túc, đầy đủ và mang tính logíc cao.

LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TOÁN VÀ
PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ

1. QUYỀN THỪA KẾ VÀ DI SẢN THỪA KẾ
1.1.1 Quyền thừa kế :
Chế độ tƣ hữu ra đời kèm theo đó là sự phân hoá giai cấp trong xã hội.
Nhà nƣớc và pháp luật ra đời không phải là hiện tƣợng ngẫu nhiên mà là sản
phẩm tất yếu của tiền đề trên. Quyền tƣ hữu đối với công cụ sản xuất và các
sản phẩm do thành quả trong quá trình lao động, chiếm hữu, bóc lột… mà con
ngƣời có đƣợc dần dần đƣợc Nhà nƣớc và pháp luật bảo vệ. Chế định quyền
sở hữu phát triển theo năm tháng đã góp phần bảo vệ thành quả lao động của
mỗi cá nhân trong quá trình sống tồn tại và phát triển trong xã hội.
Một trong những căn cứ để xác lập quyền sở hữu là thừa kế. Từ điển
Tiếng việt định nghĩa “ Thừa kế là hưởng của người chết để lại cho”. Nói
cách khác, thừa kế là một chế định pháp lý nhằm đẳm bảo sự dịch chuyển tài
sản của ngƣời đã chết cho những ngƣời còn sống. Chế định pháp lý này rất
cần thiết và quan trọng để bảo vệ quyền sở hữu, bảo toàn và gia tăng của cải
cho xã hội. Nếu sau khi chết chủ sở hữu tài sản biết đƣợc rằng khối di sản của
mình sẽ đƣợc chuyển dịch sang cho chính con cháu, ngƣời thân của mình thì
sẽ kích thích sự năng động trong việc phát triển khối tài sản lúc mình còn
sống và nhƣ vậy sẽ gián tiếp làm gia tăng của cải cho xã hội.
Quan hệ thừa kế là một quan hệ pháp luật, xuất hiện đồng thời với quan
hệ sở hữu và phát triển với sự phát triển của xã hội loài ngƣời. Nhà nƣớc xuất
hiện, bằng công cụ pháp luật, Nhà nƣớc ghi nhận, điều chỉnh và đảm bảo thực
hiện các quan hệ xã hội theo ý chí của mình trong đó có quyền để lại tài sản
cũng nhƣ quyền hƣởng di sản của các chủ thể. Thừa kế là một chế định pháp
luật, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản
của ngƣời chết cho ngƣời khác theo di chúc hoặc theo một trình tự do luật
khi một bên chết trƣớc. Quyền thừa kế còn đảm bảo cho công dân có quyền
bình đẳng trong việc hƣởng di sản, không phân biệt giới tính, già trẻ, có năng

14
lực hành vi dân sự hay không có năng lực hành vi dân sự, Điều 634 BLDS
năm 2005: “Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho
người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”. Các qui
định pháp luật về thừa kế của nhà nƣớc ta không những đảm bảo quyền tự do
cá nhân trong việc thể hiện ý chí của mình mà còn kết hợp hài hoà với những
truyền thống tốt đẹp trong trong quan hệ gia đình, trong dòng tộc.
1.1.2. Di sản thừa kế
Trong mỗi giai đoạn lịch sử phát triển Nhà nƣớc và pháp luật, chế định
thừa kế thƣờng đƣợc các Nhà nƣớc từ thời cổ đại đều đặc biệt quan tâm. Tuy
bản chất của mỗi Nhà nƣớc khác nhau, ví dụ nhƣ Nhà nƣớc chủ nô, Nhà nƣớc
phong kiến…nhƣng đều có quan niệm chung là di sản thừa kế là những gì
thuộc về quyền sở hữu hợp pháp của ngƣời chết. Tuy nhiên, nếu trong nhà
nƣớc chủ nô, bản chất của nhà nƣớc là chế độ chiếm hữu nô lệ thì nô lệ đƣợc
coi nhƣ là một loại tài sản và do vậy “ngƣời” nô lệ cũng bị coi là di sản đƣợc
để lại thừa kế. Một trong những tài sản có giá trị nhất trong mọi thời đại đó là
đất đai, đây là tƣ liệu sản xuất quan trọng nhất không chỉ đối với cá nhân mà
còn đối với các hình thái nhà nƣớc khác nhau. Do vậy pháp luật các Nhà nƣớc
đều điều chính tƣơng đối chặt chẽ về vấn đề đất đai đặc biệt trong Nhà nƣớc
phong kiến. Ở Việt Nam, dƣới triều Lê, Điền thổ là vấn đề đƣợc đặt lên hàng
đầu. Theo GS Vũ Văn Mẫu viết trong cuốn Hồng Đức Thiện chính thƣ [Sài
Gòn, 1959, tr 15] thì “điểm này cũng dễ hiểu vì trong một nền kinh tế trọng
nông, chỉ có điền thổ mới được coi là yếu tố chính yếu, các động sản khác chỉ
là những vật có ít giá trị”. Do vậy, trong Quốc triều hình luật, các qui định về

ra khái niệm di sản là gì. Đây là một trong những căn cứ quan trọng để xác
định chính xác tài sản ngƣời chết để lại thừa kế bao gồm những gì, ở đâu, trị
giá bao nhiêu để giải quyết tốt các tranh chấp về thừa kế, phân chia di sản
thừa kế cho các đồng thừa kế, xác định di sản dùng vào việc thờ cúng và di
sản để tặng cho.
Nhƣ chúng ta đã biết sau năm 1945 với Sắc lệnh 97-SL ngày 22 -5-1950
của Chủ tịch nƣớc Hồ Chí Minh chƣa có quy định cụ thể về di sản thừa kế
nhƣng bƣớc đầu những qui định cơ bản của Sắc lệnh đã gián tiếp đề cập di
sản thừa kế của một ngƣời sau khi chết bao gồm tài sản mà không bao gồm

16
nghĩa vụ tài sản của ngƣời đó với ngƣời khác. Đến khi Thông tƣ số
594/NCPL ngày 27-8-1968 của Toà án nhân dân tối cao hƣớng dẫn giải quyết
tranh chấp về thừa kế đƣợc ban hành, vấn đề di sản thừa kế bƣớc đầu đƣợc
hƣớng dẫn xác định nhƣ sau:
“ Di sản thừa kế bao gồm không những quyền sở hữu cá nhân về những
tài sản mà người chết đó để lại mà còn gồm cả những quyền tài sản và nghĩa
vụ tài sản phát sinh do quan hệ hợp đồng hoặc do việc gây thiệt hại mà người
chết đó để lại”.
Nhƣ vậy, di sản theo Thông tƣ này không chỉ bao gồm những tài sản,
quyền tài sản mà còn bao gồm nghĩa vụ tài sản của một ngƣời đã chết đƣợc
chuyển cho ngƣời thừa kế hợp pháp.
Ngày 24-7-1981 Toà án nhân dân tối cao đã ra Thông tƣ số 81/TATC
hƣớng dẫn toà án các cấp trong việc xét xử các tranh chấp về không đồng bộ
của pháp luật dân sự thời điểm đó. Thông tƣ này hƣớng dẫn:
“ Di sản thừa kế bao gồm:
- Các tài sản thuộc quyền sở hữu của người để lại thừa kế và thu nhập

riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung
với người khác, quyền về tài sản do người chết để lại. Tài sản gồm có tư liệu
sinh hoạt, tư liệu sản xuất, các thu nhập hợp pháp." Đây là văn bản dƣới luật
nên phải triệt để tuân thủ Hiến pháp và luật. Hiến pháp năm 1980 và Luật đất
đai 1988 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và chƣa qui định việc Nhà
nƣớc giao đất cho các tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng đất ổn định lâu dài
nên quyền sử dụng đất cũng chƣa đƣợc quy định là di sản thừa kế. Tuy nhiên,
vào thời điểm này, Nhà nƣớc ta đã bắt đầu thực hiện đƣờng lối đổi mới, xây
dựng nền kinh tế nhiều thành phần nên quyền sở hữu công dân theo chủ
trƣơng chung cũng đƣợc mở rộng đối với cả tƣ liệu sản xuất nhất định.
Theo qui định trên, nghĩa vụ về tài sản do ngƣời chết để lại không thuộc
di sản thừa kế. Điểm này xuất phát từ thực tế xã hội là đại đa số ngƣời dân
Việt Nam đều quan niệm trƣớc khi nhắm mắt xuôi tay luôn cố gắng trang trải
nợ nần những chi phí liên quan đến bản thân mình, kể cả dành một chút cho
việc ma chay cho chính mình để khỏi phải phiền luỵ đến con cái. Hơn nữa,
mỗi ngƣời khi còn sống đều nghĩ đến trách nhiệm, bổn phận tạo dựng tài sản
để nâng cao cuộc sống cho chính bản thân sau đó yên tâm để lại thừa kế cho
con cháu, còn việc để lại nghĩa vụ về tài sản là việc ngoài ý muốn. Nếu có xẩy

18
ra thì đã đƣợc đảm bảo bằng phần di sản hoặc phân chia theo kỷ phần thừa kế
mà mỗi ngƣời thừa kế nhận đƣợc.
Sự ra đời Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp của thời kỳ đổi mới và BLDS
năm 1995 đã tập trung điều chỉnh đầy đủ, chặt chẽ các quan hệ dân sự trong
điều kiện xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị
trƣờng, có sự quản lý của Nhà nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Điều
637 BLDS năm 1995 đã quy định đầy đủ, ngắn gọn, súc tích hơn về di sản:

những qui định của bộ luật này, tài sản của một người đã chết bao gồm mọi
loại tài sản của người đó, cũng như các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của
người đó, trừ những quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm mà theo qui định của
pháp luật hoặc theo tính chất của chúng hoàn toàn mang tính cá nhân đối
với người chết.” Đây là một điều chúng ta nên so sánh và nghiên cứu. Theo
chúng tôi, điểm đáng lƣu ý tại qui định là nghĩa vụ của ngƣời chết cũng đƣợc
coi là di sản. Đây chính là một trong nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện của
những ngƣời đƣợc hƣởng quyền thừa kế. Chế định thừa kế trong pháp luật
Việt Nam không chỉ rõ nghĩa vụ của ngƣời chết để lại là di sản nhƣng những
ngƣời thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ này kể từ thời điểm mở thừa kế, Điều
636 BLDS năm 2005 qui định: “ Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người
thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” .
Tóm lại theo qui định của pháp luật Việt Nam, kể từ thời điểm mở
thừa kế, ngƣời đã chết để lại di sản gồm các tài sản, quyền tài sản và trách
nhiệm thực hiện các nghĩa vụ tài sản sau:
- Di sản là tài sản thuộc sở hữu của ngƣời chết nhƣ các tƣ liệu sinh hoạt,
tiền, vàng, bạc, nhà ở, vốn cổ phần, tƣ liệu sản xuất mà ngƣời đó đã sử dụng
để tiến hành sản xuất kinh doanh, thành lập doanh nghiệp, hoặc góp vốn vào
công ty.
- Di sản gồm phần tài sản của ngƣời chết trong khối tài sản chung với
ngƣời khác: phần tài sản đƣợc tặng cho chung, đƣợc thừa kế chung hoặc mua
chung với ngƣời khác, hoặc tài sản thuộc sở hữu chung vợ chồng
- Quyền sở hữu về những hiện vật và tiền sẵn có của ngƣời để lại di sản
trƣớc khi chết, quyền tài sản phát sinh từ quan hệ hợp đồng, hay do việc
ngƣời chết bị gây thiệt hại khi còn sống. Ví dụ, quyền đòi tiền làm thuê chƣa

20

21
luật hoặc chỉ chia theo di chúc không cho phép một phần di sản đƣợc chia
theo di chúc, một phần di sản đƣợc chia theo pháp luật. Thừa kế theo di chúc
hay theo pháp luật có sự khác nhau về chủ thể đƣợc thừa kế, căn cứ để chia di
sản, cách thức phân chia di sản và phần di sản ngƣời thừa kế đƣợc hƣởng.
1.1.3.1. Thừa kế theo di chúc:
Điều 646 BLDS năm 2005 qui định: “ Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá
nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết” do vậy, di
chúc có thể đƣợc pháp luật thừa nhận hay không thừa nhận, hoặc chỉ thừa
nhận một phần tuỳ thuộc vào điều kiện có hiệu lực của di chúc do pháp luật
qui định. Về hình thức, di chúc đƣợc chia thành hai loại: Di chúc bằng văn
bản và di chúc miệng. Trƣờng hợp một ngƣời không thể lập di chúc bằng văn
bản thì có thể di chúc miệng, tuy nhiên pháp luật đòi hỏi phải có ít nhất hai
ngƣời làm chứng và ngay sau đó ngƣời làm chứng phải ghi chép lại, cùng ký
tên hoặc điểm chỉ, thì di chúc mới đƣợc coi là hợp pháp. Sau 3 tháng, kể từ
thời điểm có di chúc miệng mà ngƣời để lại di chúc miệng còn sống, minh
mẫn, sáng suốt, thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ (Khoản 2- Điều 651,
BLDS năm 2005). Di chúc bằng văn bản bao gồm 4 loại: Di chúc bằng văn
bản có ngƣời làm chứng; Di chúc bằng văn bản không có ngƣời làm chứng;
Di chúc có công chứng hoặc chứng thực. Dù là di chúc bằng văn bản hay
bằng miệng, ngƣời lập di chúc phải thoả mãn các điều kiện qui định tại Điều
652 BLDS năm 2005:
“1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không
bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;
b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di
chúc không trái quy định của pháp luật ”

kế; những ngƣời đƣợc chỉ định làm thừa kế theo di chúc mà không có quyền
hƣởng di sản hoặc từ chối nhận di sản; phần di sản không đƣợc định đoạt
trong di chúc; phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu
lực pháp luật.
Ngƣời đƣợc hƣởng thừa kế theo pháp luật chỉ là cá nhân và đƣợc pháp
luật chỉ định hƣởng di sản theo một trật tự ƣu tiên phân theo hàng thừa kế.
Hình thức thừa kế theo pháp luật là hình thức thừa kế truyền thống đƣợc bảo

23
tồn trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời nhằm củng cố
cơ sở vật chất của mối quan hệ gia đình - nền tảng của mọi xã hội .
1.2.THANH TOÁN DI SẢN
Xã hội bất cứ dƣới hình thức nào, là gì thì nó là sự tác động lẫn nhau
giữa ngƣời với ngƣời, điều này chỉ cho chúng ta thấy rằng xã hội là tổng hoà
các mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời. Mặt khác xã hội bao giờ cũng
đƣợc định dạng thông qua hành vi xử sự của con ngƣời hiện hữu, sự điều
chỉnh của pháp luật thực chất là điều chỉnh hành vi của các chủ thể còn sống
để hƣớng cho các hành vi ấy có sự chuẩn mực. Do đó nếu một ngƣời đang
sống, đang bị ràng buộc bởi các mối quan xã hội mà chính nhờ vào các mối
quan hệ xã hội này họ tồn tại và phát triển thì khi chết đi không có nghĩa các
mối quan hệ này đƣơng nhiên chấm dứt. Nó cần phải đƣợc giải quyết một
cách có trật tự và trọn vẹn để đảm bảo ngƣời đã chết đƣợc hƣởng sự ra đi
thanh thản, đúng truyền thống đạo lý, đảm bảo các quyền và lợi ích mà ngƣời
chết đƣơng nhiên đƣợc hƣởng nhƣng sẽ là phần di sản để những ngƣời thừa
kế có quyền thừa kế, đảm bảo các nghĩa vụ phải thanh toán mà khi còn sống
ngƣời đã chết phải thực hiện và hơn tất cả đảm bảo trật tự xã hội duy trì sự
tồn tại và phát triển cho những mối quan hệ xã hội mà ngƣời chết đó đã từng

hoàn" tức là phải chịu trách nhiệm trả tất cả các khoản nợ nần do cha mẹ để
lại một cách vô hạn. Trong gia đình, vợ - chồng phải đảm bảo trả nợ với tất cả
những gì mình có trong tay. Với tư cách là người thừa kế của chồng(vợ) đã
chết, người vợ (chồng) còn sống có nghĩa vụ trả nợ di sản một cách vô hạn -
ultra vies successionis – [trích - Bình luận KH về TK - Nguyễn Ngọc Điện, tr
430]. Trƣờng hợp vợ - chồng chết mà không có con chung, pháp luật thời nhà
Lê qui định đối với những nợ nần mà cả hai vợ chồng cùng nợ thì lấy tài sản
chung ra để trả, nếu vẫn không đủ thì số nợ ấy đƣợc chia làm hai, nợ của
chồng thì lấy tài sản của chồng để trả, nợ của vợ thì lấy tài sản của vợ để trả,
họ hàng cha, mẹ, anh chị em không phải liên đới chịu trách nhiệm.
Pháp luật cận đại, để duy trì lợi ích của giai cấp thống trị gồm các địa chủ
đồng thời là các chủ nợ của nhiều di sản, nên qui tắc của luật cổ và phạm vi
nghĩa vụ của vợ chồng vẫn đƣợc đem ra áp dụng. Điều 374 BLDS Bắc và
Điều 379 BLDS Trung qui định rằng trong trƣờng hợp có nhiều con thì những
ngƣời này phải chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn trong việc trả nợ di sản.

25
Ngƣời trả nợ nhiều có thể kiện đòi ngƣời trả nợ ít hoàn trả cho mình phần chi
trả vƣợt mức. Nhƣ vậy không có nguyên tắc phân chia nghĩa vụ nhƣng tồn tại
nguyên tắc đóng góp theo tỷ lệ. Án lệ Nam kỳ lại thừa nhận nguyên tắc phân
chia nợ và nếu ngƣời thừa kế tự nguyện trả nợ vƣợt quá phần mình phải gánh
chịu thì giải pháp là họ phải thƣơng lƣợng với những ngƣời thừa kế khác về
mức đóng góp còn pháp luật không có qui định rõ trƣờng hợp này.
Bộ luật dân sự Sài Gòn năm 1972 cũng quy định hai hình thức thừa kế là
thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Nhƣng dù là thừa kế theo hình
thức nào thì tất cả những ngƣời thừa kế phải cùng nhau gánh chịu những công
nợ của di sản tùy theo kỷ phần của mỗi ngƣời đƣợc hƣởng, chỉ trừ khi ngƣời đó

xuất đƣợc quan niệm trƣớc hết là nuôi sống gia đình chứ không phải là một
khâu của lƣu thông hàng hoá. Các khoản nợ thƣờng là tiền thuê mƣớn, tô tức
đến hạn mà không trả đƣợc do mùa màng thất bát, cái chết của ngƣời chủ gia
đình cũng là một khoản nợ khi chi phí mai táng và ma chay vƣợt mức khả
năng đảm đƣơng của khối tài sản có trong gia đình. Thế nên dẫn đến cái nợ
truyền từ đời này đến đời khác không đời nào trả đƣợc, thân phận con ngƣời
đã thấp bé lại càng thấp bé vì cha làm thuê trả nợ lại đến con đến cháu bỏ
công sức ra làm thuê nhƣng vẫn không trả đƣợc nợ.
Ngày nay, do nhu cầu hoạt động trong nền kinh tế thị trƣờng, các
khoản nợ lớn không đơn thuần là để phục vụ cho nhu cầu của gia đình mà chủ
yếu là những khoản đầu tƣ cho sản xuất kinh doanh. Hành động của mỗi cá
nhân trong giao dịch liên quan đến tài sản chủ yếu phục vụ cho mục đích của
riêng họ, hơn nữa cấu trúc gia đình hiện đại đã mang đến sự bình đẳng giữa
vợ và chồng, còn trong mối quan hệ huyết thống là các quyền và nghĩa vụ
tƣơng hỗ giữa cha, mẹ và con. Theo qui định của BLDS Việt Nam hiện hành
thì nợ di sản có thể chia thành hai loại:
- Các khoản nợ do ngƣời chết để lại : Đây là những khoản phát sinh
trƣớc khi có sự kiện chết của ngƣời để lại di sản mà nếu còn sống, bắt buộc
chính họ phải thanh toán, bao gồm: tiền cấp dƣỡng còn thiếu; tiền trợ cấp cho
ngƣời sống nƣơng nhờ; tiền công lao động; tiền bồi thƣờng thiệt hại; thuế và
các món nợ khác đối với nhà nƣớc; tiền phạt; các khoản nợ đối với các tổ
chức; cá nhân.

27
- Các khoản chi phí phát sinh liên quan đến thừa kế: Đây là khoản phát
sinh kể từ thời điểm mở thừa kế. Mặc dù ngƣời đã chết không thể giao kết
những khoản chi phí này nhƣng do có mối liên hệ chặt chẽ đến di sản để lại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status