CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ
CÔNG TY CON Ở VIỆT NAM
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON.
1.1.1. Khái niệm.
Công ty mẹ là công ty có ít nhất một công ty con trở lên; có thể là Doanh
nghiệp nhà nước, hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần...
Công ty con là công ty có 100% vốn của công ty mẹ hoặc đa sở hữu trong đó
có trên 50% vốn của công ty mẹ. Như vậy công ty con phải chịu sự kiểm soát ( chi
phối ) của công ty mẹ
Mô hình công ty mẹ - công ty con tồn tại chủ yếu dưới hai dạng sau:
Một là, Công ty quản lý vốn : mục tiêu chủ yếu của công ty này là đầu tư vào
các công ty khác. Cơ cấu tổ chức của nó bao gồm các bộ phận điều phối, lập kế
hoạch và tiến hành kinh doanh trong pham vi các công ty con.
Hai là, Công ty quản lý hoạt động : là mô hình đặc trưng của công ty mẹ và
công ty con của chúng. Công ty này có chức năng kinh doanh nhưng đồng thời sở
hữu và kiểm soát nhóm các công ty con của nó. Các công ty được tổ chức thành
các pháp nhân riêng được tham gia các giao dịch một các độc lập.
1.1.2. Đặc điểm :
Mặc dù tên gọi khác nhau, hình thức tổ chức của các công ty mẹ và công ty
con khác nhau nhưng nói chung mô hình công ty mẹ công ty con có một số đặc
điểm chung cơ bản như sau :
Thứ nhất là, có quy mô rất lớn về vốn, lao động, doanh thu và phạm vi hoạt
động.
Do công ty mẹ - công ty con vừa có sự tích tụ của bản thân doanh nghiệp lại
vừa có sự tập trung giữa các doanh nghiệp. Vì vậy nó vừa nâng cao được trình độ
xã hội hoá sản xuất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, vừa có năng lực
cạnh tranh mạnh hơn các công ty riêng lẻ.
Điều này thể hiện rất rõ, trước hết ở quy mô vốn của công ty mẹ - công ty con.
Trong công ty mẹ - công ty con thì vốn được tập trung từ nhiều nguồn khác nhau,
được bảo toàn và phát triển không ngừng, đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung
vốn cho công ty mẹ - công ty con.
như bố trí các điểm sản xuất, xây dựng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm, thậm chí cả
các khâu khác nhau của sản xuất sản phẩm trên phạm vi toàn thế giới.
Thứ hai là, các công ty mẹ - công ty con đều hoạt động kinh doanh đa
ngành, đa lĩnh vực.
Chiến lược sản phẩm và hướng đầu tư luôn thay đổi phù hợp với sự phát triển
của công ty mẹ - công ty con và môi trường kinh doanh, nhưng mỗi ngành đều có
định hướng ngành chủ đạo , lĩnh vực đầu tư mũi nhọn với những sản phẩm đặc
trưng của công ty mẹ - công ty con. Qua quá trình hoạt động, phát triển , quy mô
và cơ cấu kinh doanh của công ty mẹ - công ty con dần được mở rộng , đa dạng
hoá các loại hình kinh doanh, phù hợp với đòi hỏi của thị trường và sự phát triển
của nền kinh tế. Bên cạnh những đơn vị sản xuất hoặc thương mại , các công ty mẹ
- công ty con mở rộng các hoạt động sang lĩnh vực khác như tài chính, ngân hàng,
bảo hiểm, nghiên cứu khoa học...
Các công ty mẹ - công ty con hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực là để phân tán
rủi ro, mạo hiểm vào các mặt hàng, các lĩnh vực kinh doanh khác nhau, bảo đảm
cho hoạt động của cả công ty mẹ - công ty con luôn được bảo toàn và hiệu quả,
đồng thời tận dụng được cơ sở vật chất và khả năng lao động của công ty mẹ -
công ty con.
Thứ ba là, các công ty mẹ - công ty con đa dạng về cơ cấu tổ chức , về sở
hữu, về pháp nhân và thể nhân.
Mô hình công ty mẹ - công ty con rất đa dạng về cơ cấu tổ chức và pháp lý.
Nó có thể là loại hình hoạt động mà các công ty con vẫn giữ nguyên sự độc lập về
tính pháp lý, việc huy động vốn và các hoạt động kinh tế được duy trì bằng các hợp
đồng kinh tế, các chủ sở hữu nhỏ vẫn có quyền điều hành các công ty của mình và
vẫn có tư các pháp nhân riêng của mình. Một loại hình khác của mô hình công ty
mẹ - công ty con là việc các công ty con mất quyền độc lập về tính thương mại và
sản xuất, các chủ sở hữu trở thành các cổ đông của "công ty mẹ".
Công ty mẹ - công ty con là một tổ hợp các công ty, bao gồm "công ty mẹ" và
các "công ty con, cháu" phần lớn mang họ của công ty mẹ. Công ty mẹ sở hữu số
lượng lớn vốn cổ phần trong các công ty con, nó chi phối các công ty con về mặt
con 1 con 2 con 3 liên kết 1 nhánh 1
công ty công ty chi
con 3.1 liên kết 3 nhánh 3.1
các công ty con, hoặc công ty mẹ có khả năng kiểm soát, khống chế mặc dù không
nắm đa phần sở hữu, các công ty con có thể ở trong nước hay ở nước ngoài.
Trong cơ cấu tổ chức của công ty mẹ - công ty con còn có chi nhánh và các
công ty liên kết.
Giữa các công ty con có những mối quan hệ ràng buộc, phụ thuộc chặt chẽ
với nhau và cùng phụ thuộc vào công ty mẹ. Mỗi công ty con được phân công hoạt
động sản xuất kinh doanh theo từng phân đoạn, theo chuyên ngành, theo sản phẩm
hàng hoá bán ra hoặc theo khu vực hoạt động, không trùng lắp, cạnh tranh nội bộ.
Các công ty con có thể phối hợp các hoạt động của mình theo kiểu liên kết dọc
hoặc liên kết ngang hoặc chỉ giới hạn trong một chuyên ngành nào đó. Liên kết dọc
là sự liên kết giữa các công ty con trong cùng một dây chuyền công nghệ sản xuất,
trong đó mỗi doanh nghiệp đảm nhận từng công đoạn nhất định. Liên kết ngang là
sự liên kế giữa các công ty con hoạt động trong cùng một ngành nghề, có quan hệ
chặt chẽ với nhau về kinh tế - kỹ thuật, thị trường tiêu thụ, xuất nhập khẩu. Trong
công ty mẹ - công ty con cũng thường có sự liên kết hỗn hợp, nghĩa là có cả hai
hình thức liên kết ngang và liên kết dọc.
Việc thiết lập công ty con, chi nhánh hay công ty liên kết thương tuân thủ một
số nguyên tắc phân bổ theo sản phẩm, theo vùng lãnh thổ, hoặc kết hợp cả hai.
Theo mô hình tổ chức của công ty mẹ - công ty con ở trên thì mỗi công ty con
khu vực là một khối, mỗi công ty chỉ sản xuất một loại sản phẩm ở một nước nhất
định là một đơn vị kinh doanh của khối. Mỗi đơn vị kinh doanh của khối có các
phòng chức năng như phòng tài chính, tiếp thị, phân phối, sản xuất, nhưng tất cả
đều tập trung cho việc sản xuất có hiệu quả và chất lượng. Giám đốc của đơn vị
kinh doanh là người chịu hoàn toàn trách nhiệm trước giám đốc khối về hoạt động
của đơn vị.
Mỗi khối chịu trách nhiệm về hoạt động của công ty mẹ - công ty con trong
một khu vực địa lý nhất định, và giám đốc khu vực chịu trách nhiệm trước giám
1.2.1.Tính tất yếu khách quan
Mô hình công ti mẹ-công ti con đã ra đời , tồn tại và phát triển từ lâu trong
lịch sử phát triển của kinh tế thế giới . Dưới dạng các thoả ước , hợp đồng liên
minh liên kết , các tập đoàn từng bước nắm lấy các ngành , các lĩnh vực hoạt động
chủ chốt có lợi nhuận cao hình thành một hệ thống các tập đoàn lớn bao gồm hàng
trăm hàng ngàn các công ti vừa và nhỏ phụ thuộc lẫn nhau và phụ thuộc vào công
ti mẹ về tài chính , chiến lược kinh doanh , công nghệ kĩ thuật . Sở dĩ mô hình công
ti mẹ-công ti con được hình thành , có sức sống mãnh liệt và có sự phát triển không
ngừng như vậy bởi vì nó phù hợp với các qui luật khách quan và những xu thế phát
triển của thời đại.
Thứ nhất: Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dưới tác động của tiến bộ khoa
học công nghệ và liên kết kinh tế quốc tế đã dẫn đến sự phát triển sâu rộng của
phân công lao động xã hội đến qui mô của sản xuất và tiêu thụ sản xuất kinh doanh
không còn mang tính xhaats manh mún rời rạc và sở hữu không còn là sở hữu cá
thể nữa mà đã và đang đi sâu vào xã hội hoá vào hợp tác phân công vào sở hữu hỗn
hợp . Công ti mẹ-con với tư cách là một loại hình tổ chức kinh tế tổ chức kinh
doanh tổ chức liên kết kinh tế có nghĩa là nó là hình thức biểu hiện của quan hệ sản
xuất cần phải ra đời phát triển để đáp ứng yêu cầu và thúc đẩy sự phát triển của lực
lượng sản xuất
Thứ hai: Qui luật tích tụ và tập trung vốn và sản phẩm
Mỗi doanh nghiệp trong cơ chế thị trường là một cơ thể sống một tế bào của
nền kinh tế . Nó phải tồn tại phát triển trong mội trường cạnh tranh không ngừng
do đó phải tái sản xuất mở rộng không ngừng . Quá trình đó cũng là quá trình tích
tụ và tập trung vốn vào sản xuất . Trong quá trình này hoặc doanh nghiệp tích luỹ
vốn từ lợi nhuận đem lại và tăng thêm từ nguồn vốn từ các nguồn khác nhờ vậy mà
vốn và khả năng sản xuất của doanh nghiệp được nâng cao :hoặc doanh nghiệp
mạnh thôn tính nhận sự sáp nhập của các doanh nghiệp yếu và nhỏ hơn , do đó vốn
và khả năng sản xuất của doanh nghiệp được nâng lên . Trong quá trình vận động
Là những tổ hợp kinh tế lớn đa dạng , công ti mẹ –con chỉ có thể hình thành
và phát triển trong những điều kiện kinh tế –xã hội phù hợp.Nhìn lại lịch sử phát
triển kinh tế thế giới có thể thấy được mô hình công ti mẹ-công ti con đã ra đời và
phát triển trong những điều kiện cơ bản sau đây:
- Trình độ tích tụ , tập trung vốn
Quá trình tích tụ và tập trung vốn là một quá trình lâu dài được thực hiện tại
rất nhiều lĩnh vực kinh tế trên thế giới . Việc phát triển nhanh chóng của các nền
kinh tế thế giới vào những năm cuối thế kỉ XX đã và đang hình thành nên các thị
trường tài chính lớn trên thế giới chi phối một phần lớn các hoạt động kinh tế .Nó
hình thành các khu vực tài chính bằng các hiệp định được kí kết giữa các chính phủ
hoặc thông qua việc tham gia vào các liên minh kinh tế tại các khu vực . Vd việc
thành lập đồng tiền chung châu Âu . Những điều này đã giúp cho có thể tích tụ và
tập trung một nguồn vốn lớn và điều tiết hiệu quả nguồn vốn này .Hiện nay trên thế
giới có rất nhiều công ti lớn được thành lập từ sự liên kết của nhiều công ti nhỏ
.Nguồn vốn của các công ti này được đóng góp từ nhiều nguồn vốn nhỏ . Bởi vì
muốn cạnh tranh dduwocj trên thị trường thì các công ti này phải đủ mạnh tức là có
một nguồn vốn dồi dào . Quá trình tích tụ và tập trung vốn vào một đàu mối và
được quản lí bởi một công ti tài chính là một quá trinh phát triển tuân theo qui luật
khách quan .Quá trình này đã được thực hiện kết quả cạnh tranh trên thị trường .
- Trình độ chuyên môn hoá , hợp tác hoá kinh doanh
Ngày nay khoa học và công nghệ sản xuất đều tiến nhanh và tiến mạnh làm
cho phân công quốc tế và hợp tác chuyên ngành có xu thế bị chia nhỏ . Xét về xu
thế phân công quốc tế hiện nay sự phân công theo trình độ của trình tự công nghệ
trong sản xuất của nội bộ ngành phát triển nhanh chóng . Loại phân công theo trình
độ này có đặc trưng là các nước khác nhau về quá trình công nghệ sản xuất sẽ tiến
hành chuyên môn hoá sản xuất đối với các khâu của trình tự công nghệ gia công .
Sự phân công theo mức độ chuyên môn hoá sản xuất các linh kiện phụ tùng của
sản phẩm cũng ngày một rõ rệt . kĩ thuật sản xuất truyền thông của các nước đang
phát triển so với kĩ thuật hiện đại có sự khác biệt lớn . Kết quả là một nước một
đơn vị kinh tế muốn có ưu thế về sản xuất tất cả các phụ tùng linh kiện đều không