PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
1.1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới PPDH hiện nay.
1.2. Do vai trò của tự học và sử dụng SGK để tự học trong giai đoạn hiện nay.
1.3. Do thực trạng việc sử dụng CH, BT để rèn năng lực tự học SGK ở nhà
trường THPT hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Xác định NLTH SGK cần có và biện pháp sử dụng CH, BT để rèn các năng lực
đó qua dạy học phần “Sinh học Vi sinh vật”- Sinh học 10- THPT” cho HS, góp phần
đổi mới PPDH sinh học hiện nay.
3. Giả thuyết khoa học
Nếu có biện pháp sử dụng hợp lí CH, BT để hướng dẫn HS tự học SGK qua
dạy học phần “Sinh học Vi sinh vật”- Sinh học 10- THPT sẽ chẳng những giúp HS
nắm vững kiến thức mà còn hình thành được phương pháp tự học.
4. Khách thể nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 10- THPT
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp sử dụng CH, BT để rèn luyện năng lực tự học SGK cho HS
trong dạy học phần “Sinh học Vi sinh vật”- Sinh học 10- THPT”
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc rèn năng lực tự học của HS
5.2. Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc xây dựng và sử dụng CH, BT trong việc rèn
năng lực tự học SGK cho HS.
5.3. Xác định thực trạng về năng lực tự học SGK ở HS THPT, về sử dụng CH, BT
trong việc rèn năng lực tự học SGK của HS hiện nay.
5.4. Xác định năng lực tự học SGK cần có ở HS THPT và các tiêu chí đánh giá.
5.5. Phân tích mục tiêu, cấu trúc, nội dung phần Sinh học vi sinh vật để xác định
nội dung rèn năng lực tự học cho HS.
5.6. Sử dụng CH, BT để rèn luyện năng lực tự học SGK cho HS qua dạy học
phần “Sinh học Vi sinh vật”- Sinh học 10- THPT
5.7. Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra hiệu quả của các biện pháp sử dụng
+ Về tính tự lực trong hoạt động học tập của HS.
+ Về khả năng lưu giữ thông tin (độ bền kiến thức) của HS.
7. Đóng góp mới của đề tài
- Hệ thống hoá thêm cơ sở lí luận về việc sử dụng CH, BT trong hướng dẫn HS
tự học SGK.
- Xác định thực trạng năng lực tự học SGK của HS lớp 10 THPT nói chung.
- Xác định thực trạng hướng dẫn HS tự học và các biện pháp sử dụng CH, BT
để hướng dẫn HS tự học SGK ở GV THPT.
- Xác định những năng lực tự học SGK cần có của HS
- 2 -
- Xác định được các biện pháp sử dụng CH, BT để rèn năng lực tự học SGK
cho HS lớp 10 THPT qua dạy phần “Sinh học vi sinh vật”- Sinh 10.
- Thiết kế được một số giáo án có sử dụng CH, BT theo hướng rèn luyện năng
lực tự học SGK trong DH phần “Sinh học vi sinh vật”- Sinh học 10.
PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
1.1.1.Trên thế giới
1.1.2.Trong nước
Trong nghị quyết của bộ chính trị về CCGD (11/1/1979) đã viết “Cần coi trọng
việc bồi dưỡng hứng thú, thói quen và phương pháp tự học cho HS, hướng dẫn HS
biết cách nghiên cứu SGK, thảo luận chuyên đề, ghi chép tư liệu, tập làm thực
nghiệm khoa học ”.
GS Nguyễn Cảnh Toàn trong tác phẩm “Học và dạy cách học” đã đề cập đến
vai trò của người học, người dạy và mô hình tự học. Từ 1977- 1987, dưới sự chủ trì
của ông, tập thể các nhà KH đã nghiên cứu và triển khai chương trình “Tự học có
hướng dẫn kết hợp với thực tập dài hạn ở trường phổ thông”
Ngoài ra còn nhiều tài liệu, luận văn thạc sỹ của nhiều tác giả cũng nghiên cứu
về xây dựng và sử dụng CH, BT để dạy các phần khác nhau của Sinh học phổ thông:
bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình
cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ,
không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học…) để chiếm lĩnh
một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”
+ Theo tác giả Lưu Xuân Mới: “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của
cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính bản thân người học
tiến hành ở trên lớp hoặc ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và SGK đã
được qui định ”
+ Theo tác giả Nguyễn Như An: “Tự học, tự đào tạo, tự lực trong công tác học
tập là yếu tố quan trọng và là nguyên nhân bên trong trực tiếp tác động đến chất
lượng đào tạo”
Tự học có vai trò và ý nghĩa rất lớn trong GD nhà trường và trong cả cuộc sống
người học. Tự học còn tạo điều kiện hình thành và rèn luyện khả năng hoạt động độc
lập, sáng tạo của mỗi người, trên cơ sở đó tạo tiền đề và cơ hội cho họ học tập suốt đời.
1.2.1.2. Khái niệm về năng lực tự học.
* Năng lực tự học:
Kết quả tự học cao hay thấp là phụ thuộc NLTH của mỗi cá nhân. Mỗi người
có một cách học khác nhau. Cách học ở đây là cách tác động của người học đến đối
tượng học.
- 4 -
Theo Nguyễn Kỳ, trong bất cứ con người Việt Nam nào trừ những người bị
khuyết tật, tâm thần – đều tiềm ẩn một năng lực, một tài nguyên quốc gia vô cùng quí
giá đó là năng lực tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề thực tiễn, tự đổi mới,
tự sáng tạo trong công việc hàng ngày gọi chung là NLTH sáng tạo.
Tóm lại: NLTH được hiểu là khả năng HS tự khám phá được kiến thức, kĩ
năng theo mục đích nhất định dưới sự hướng dẫn của GV.
* Năng lực tự học SGK
Tự học SGK là quá trình HS thực hiện các thao tác với SGK để tự mình chiếm
lĩnh nội dung học tập.
1.2.2. Vai trò của CH, BT trong dạy học.
1.2.2.1. Khái niệm CH, BT
* Khái niệm câu hỏi.
Hỏi: Là nêu ra điều mình muốn người khác trả lời về một vấn đề nào đó.
* Câu hỏi định hướng nghiên cứu SGK và tài liệu:
Là hệ thống CH được xây dựng dựa trên nền tảng nội dung kiến thức giáo khoa
từng bài học trong một thời gian nhất định nhằm định hướng quá trình nghiên cứu
SGK của HS theo ý đồ, kinh nghiệm của GV, giúp người học có phương pháp nghiên
cứu cụ thể SGK mất ít thời gian nhưng lại có hiệu quả cao. Các CH này được xây
dựng theo hệ thống logic, qua việc thực hiện các CH này HS sẽ tự lĩnh hội được kiến
thức, tăng cường tính tự học, tự nghiên cứu cho người học.
* Khái niệm bài tập.
Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (2000) thì BT là bài ra cho HS
làm để vận dụng những điều đã học được
1.2.2.2. Vai trò của CH, BT trong dạy học.
CH, BT vừa là nội dung, vừa là phương tiện, phương pháp, biện pháp tổ chức
quá trình DH, giúp kiểm tra đánh giá kết quả đạt được của mục tiêu và điều chỉnh quá
trình tiến tới mục tiêu DH.
1.2.2.3. Tiêu chuẩn của CH, BT để hướng dẫn HS tự học SGK.
Để hướng dẫn HS rèn luyện NLTH SGK thì các CH, BT cần được thiết kế cho
tất cả các khâu trong quá trình DH. Trong giới hạn của luận văn sẽ chỉ tập trung chủ
yếu vào các CH, BT sử dụng trong khâu nghiên cứu tài liệu mới. Các CH, BT sử
dụng trong khâu này được lựa chọn theo những tiêu chuẩn sau:
+ Mỗi CH, BT phải định hướng rõ vấn đề cần nghiên cứu mà nội dung tri thức
có ở SGK.
+ Mỗi CH, BT phải chứa đựng cách thức tổ chức các hoạt động tự lực của HS
khi làm việc với SGK, để khi HS trả lời CH, BT sẽ hình thành và phát triển các
NLTH SGK.
+ Mỗi CH, BT phải hàm chứa một lượng kiến thức và phải được sắp xếp có hệ
thống để khi tổ chức HS trả lời CH hoặc giải BT sẽ lĩnh hội được kiến thức mới có hệ
BT và đề xuất thắc mắc dưới dạng các CH.
GV tổ chức cho HS thảo luận nhóm hoặc thảo luận trên toàn lớp để thống nhất
phương án trả lời CH, BT, giải quyết thắc mắc cá nhân và chỉ ra các vấn đề chưa
giải quyết được cần có sự hỗ trợ của GV
GV hướng dẫn, chỉ đạo giải quyết các vấn đề còn tranh luận bằng cách ra thêm
các CH định hướng hoặc các tài liệu bổ sung cho HS nghiên cứu. GV hướng
dẫn HS rút ra kết luận, chính xác hoá kiến thức.
Vận dụng kiến thức mới
nhóm ý rồi tổng hợp và khái quát chúng thành các khái niệm, qui luật hay học thuyết,
hoặc nội dung cơ bản của phần tài liệu và ghi nhớ chúng trên nền thông hiểu.
1.2.3.3. Năng lực diễn đạt kết quả thu được từ SGK.
Năng lực diễn đạt kết quả thu được từ SGK là khả năng diễn đạt đúng nội dung
theo đúng chủ đề bằng sơ đồ, hình vẽ, lời mô tả…
Có thể trình bày nội dung đọc được bằng nhiều hình thức khác nhau như: bằng
văn nói, văn viết, lập bảng, biểu so sánh và sơ đồ hoá…. nhưng cốt yếu phải là ngôn
ngữ chính của HS, diễn đạt theo cách hiểu của HS chứ không phải là chép lại SGK.
Khi hình thành và phát triển năng lực diễn đạt kết quả thu được từ SGK sẽ có
tác dụng rèn luyện và phát triển các kĩ năng tư duy, đặc biệt là kĩ năng tự học: biết
thu thập, xử lí thông tin, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá. lập bảng biểu, vẽ đồ
thị, làm việc cá nhân hay làm việc theo nhóm, làm báo cáo, kĩ năng ngôn ngữ ở mức
độ cao, giúp HS lưu giữ thông tin một cách vững chắc, tạo thuận lợi cho việc trình
bày bằng lời trong thảo luận hay khi ôn tập để kiểm tra, thi cử.
1.2.3.4. Năng lực vận dụng kiến thức
Năng lực vận dụng kiến thức là khả năng sử dụng các kiến thức thu nhận và xử lí
được để nhận thức, cải tạo thực tiễn.
Năng lực vận dụng kiến thức được thể hiện ở việc HS sử dụng những kiến thức
đã lĩnh hội được vào việc giải thích các hiện tượng có trong thực tiễn hoặc giải quyết
một nhiệm vụ cụ thể nào đó như giải các BT…. .
1.3. Cơ sở thực tiễn của đề tài.
1.3.1. Phương pháp xác định thực trạng
Khi xây dựng các CH, BT để hướng dẫn HS
tự học SGK thì thầy cô xây dựng loại CH,
BT sau đây ở mức độ nào?
+ Tái hiện 35 70 15 30 0 0
+ Hiểu 27 54 23 46 0 0
+ Vận dụng 28 56 22 44 0 0
+ Sáng tạo 11 22 27 54 12 24
3 Trong khâu nghiên cứu tài liệu mới, các
thầy cô sử dụng CH, BT nhằm mục đích sau
đây ở mức độ nào?
+ Định hướng HS tự đọc SGK 30 60 15 30 5 10
+ Để tổ chức HS thảo luận nhóm 17 34 19 38 14 28
+ Để HS tự lực nghiên cứu một đơn vị kiến
thức trên lớp
19 38 28 56 3 6
+ Định hướng, hướng dẫn HS tự đặt CH
phát hiện kiến thức trên lớp.
22 44 26 52 2 4
4 Những loại kiến thức sau HS thường khó trả
lời ở mức độ nào?
+ Khái niệm 6 12 38 76 6 12
+ Cơ chế của quá trình 31 62 19 38 0 0
+ Giải thích hiện tượng 33 66 17 34 0 0
+ Vận dụng 28 56 18 36 4 8
5 Khi HS gặp khó khăn trong việc trả lời CH,
BT thì các thầy cô hướng dẫn bằng các cách
sau ở mức độ nào?
+ Đưa ra các CH phụ để gợi ý ra từng vấn 39 78 11 22 0 0
- 9 -