CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN - Pdf 63

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN
1.1. Tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường:
1.1.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng:
Tín dụng là một khái niệm đã tồn tại rất lâu đời, theo nghĩa latinh tín dụng là
creditim, sự tín nhiệm, tin tưởng. Tên gọi này xuất phát từ bản chất của quan hệ tín dụng,
trong quan hệ đó người cho vay tin tưởng người đi vay sẽ sử dụng vốn đúng mục dích,
đúng các thỏa thuận, làm ăn có lãi và có khả năng hoàn trả tiền vay.
Ngày nay, có rất nhiều diễn giải và định nghĩa về tín dụng, xong có thể định nghĩa tín
dụng Ngân hàng như sau: Tín dụng Ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một
bên là Ngân hàng, một tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổ chức,
cá nhân trong xã hội, trong đó Ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người
cho vay.
Hiện nay, Ngân hàng thương mại là tổ chức cho vay lớn nhất đối với các tổ chức kinh
tế và dân cư. Hoạt động tín dụng ngân hàng đã góp phần đáp ứng nhu cầu vốn cho các tổ
chức và cá nhân, đã và đang là nhân tố thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, điều tiết và
di chuyển, tăng thêm tính hiệu quả của vốn tiền tệ trong nền kinh tế thị trường.
1.1.2. Các loại hình tín dụng ngân hàng:
1.1.2.1. Phân loại theo thời hạn tín dụng:
Thời hạn tín dụng đó chính là thời hạn mà trong đó Ngân hàng cam kết cấp cho khách
hàng một khoản tín dụng và nó được xác định cụ thể ngày, tháng, năm, hay thời hạn tín
dụng còn được hiểu là thời hạn được tính từ lúc đồng vốn đầu tiên của Ngân hàng được
phát ra cho đến lúc đồng vốn và lãi cuối cùng phải thu về. Phân loại tín dụng theo thời hạn
có ý nghĩa quan trọng đối với các Ngân hàng, nó phản ánh khả năng hoàn trả, độ rủi ro
cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến tính an toàn và sinh lợi của Ngân hàng thương mại. Nếu
căn cứ vào thời hạn, tín dụng được chia thành các loại sau đây:
Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn từ 12 tháng trở xuống. Tín dụng ngắn hạn thường gắn
liền với các khoản vay của cá nhân dành cho bổ sung vốn kinh doanh… hay các doanh
nghiệp để bổ sung vào tài sản lưu động.
Tín dụng trung hạn: có thời gian từ trên 12 tháng đến 60 tháng. Tín dụng trung hạn
thường sử dụng cho mục đích mua các loại tài sản cố định như phương tiện sản xuất,

kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các công trình mới….
1.1.2.5. Phân loại theo tín dụng tài sản đảm bảo:
Tín dụng đảm bảo: đó là sự cam kết của khách hàng về việc dùng tài sản đảm bảo
thuộc sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ tài chính trong trường hợp không trả được
nợ. Tín dụng đảm bảo được áp dụng đối với những khách hàng có rủi ro cao, có tình hình
tài chính không ổn định…
Tín dụng không có tài sản đảm bảo (tín chấp): là hình thức mà khách hàng có nhu cầu
vay vốn với hạn mức nhất định mà không cần tài sản đảm bảo. Tín dụng này thường cấp
cho khách hàng có uy tín cao, có quan hệ tốt và lâu dài với Ngân hàng, có tình hình tài
chính lành mạnh ổn định.
1.1.2.6. Phân loại theo đối tượng khách hàng:
Tín dụng doanh nghiệp: là hình thức cấp tín dụng nhằm mục đích hỗ trợ cho việc đầu
tư sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Nhóm khách hàng này thường có nhu cầu
vốn lớn, tuy nhiên số lượng khách hàng thường không lớn lắm. Do đó các Ngân hàng cần
đặc biệt quan tâm đến từng khách hàng cụ thể nhằm xây dựng mối quan hệ tín dụng lâu dài
với nhóm khách hàng này, góp phần làm tăng lợi nhuận cho Ngân hàng.
Tín dụng cá nhân: Là hình thức cấp tín dụng nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu tiêu
dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền và các khoản cho vay để trang trãi các chi phí
thông thường của đời sống. Nhóm đối tượng này có số lượng rất lớn và thường có nhu cầu
vay các khoản nhỏ lẽ. Tuy nhiên, đây là nhóm khách hàng khá nhạy cảm nên Ngân hàng
cần có phương thức tiếp cận và khai thác tốt.
1.2. Hoạt động tín dụng trung và dài hạn:
1.2.1. Khái niệm tín dụng trung và dài hạn:
Tín dụng trung và dài hạn “là hoạt động tài chính cho khách hàng vay vốn trung và
dài hạn nhằm thực hiện các dự án phát triển sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống”. Hoạt
động tín dụng trung hạn thường có thời gian từ 1 đến 5 năm, còn hoạt động tín dụng dài
hạn thường có thời gian trên 5 năm.
Hoạt động tín dụng trung và dài hạn bao gồm các hình thức sau: tín dụng theo hình
thức dự án đầu tư, hính thức cho thấu chi, bảo lãnh trung và dài hạn…
1.2.2. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn:

huy động còn dư thừa tại mỗi Ngân hàng thương mại. Vì vậy cần nâng cao hiệu quả hoạt
động tín dụng trung và dài hạn để giải quyết vấn đề huy động và sử dụng vốn có hiệu quả,
thu được lợi nhuận, tăng cường khả năng cạnh tranh của Ngân hàng.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng trung và dài hạn:
1.3.1. Các nhân tố từ phía ngân hàng:
Đây là các nhân tố thuộc về bản thân, nội tại các Ngân hàng, liên quan đến sự phát
triển của Ngân hàng, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tín dụng trung và dài hạn, bao
gồm: công tác thẩm định dự án đầu tư, chính sách tín dụng, công tác tổ chức Ngân hàng,
trình độ lao động, quy trình nghiệp vụ tín dụng, lãi suất cho vay, sản phẩm dịch vụ tín
dụng, hoạt động marketing tiếp thị, kiểm tra kiểm soát và trang thiết bị.
Công tác thẩm định dự án đầu tư: việc thẩm định nhằm rút ra những kết luận chính
xác về tính khả thi, khả năng trả nợ và những rủi ro có thể xảy ra khi quyết định cho vay
hay từ chối cho vay. Công tác thẩm định ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tín dụng của các
Ngân hàng, nếu việc thẩm định được thực hiện một cách nghiêm túc, chặt chẽ, cẩn thận với
chất lượng cao sẽ mang lại các quyết định chính xác, hạn chế rủi ro, đảm bảo khả năng thu
hồi vốn và lợi nhuận cho Ngân hàng.
Chính sách tín dụng: là đường lối chủ trương đảm bảo cho hoạt động tín dụng được
thực hiện một cách tốt nhất, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của một Ngân hàng.
Một chính sách tín dụng đúng đắn, phù hợp sẽ thu hút được nhiều khách hàng, đảm bảo
khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng, từ đó sẽ mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status