BỘ TÀI CHÍNH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
---------------
ĐẶNG THỊ QUỲNH MAI
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN
CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN VN - INDEX
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : PGS.TS. HỒ THỦY TIÊN
TP. HCM - NĂM 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “ Tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số
giá chứng khoán Vn-Index” là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu được
sử dụng trong đề tài được thu thập từ các tổ chức trong và ngoài nước, có nguồn gốc rõ
ràng, đáng tin cậy; kết quả nghiên cứu từ luận văn là hoàn toàn trung thực và khách
quan.
Nếu phát hiện bất kỳ gian lận nào, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Người thực hiện luận văn
Đặng Thị Quỳnh Mai
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN ......................................................................... 5
2.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN .................................. 5
2.1.1 Khái niệm ........................................................................................................... 5
2.1.2 Phƣơng pháp tính chỉ số giá chứng khoán ..................................................... 5
2.2 CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG
KHOÁN ......................................................................................................................... 8
2.2.1 Tỷ giá hối đoái ................................................................................................... 8
2.2.2 Giá dầu ............................................................................................................... 9
2.2.3 Lãi suất ............................................................................................................. 10
2.2.4 Giá trị sản xuất công nghiệp .......................................................................... 11
2.2.5 Lạm phát .......................................................................................................... 11
2.2.6 Cung tiền .......................................................................................................... 12
2.3 CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY .................................................................. 14
2.3.1 Một số mô hình nghiên cứu trên thế giới ...................................................... 14
2.3.2 Một số mô hình nghiên cứu trong nƣớc ........................................................ 18
2.4 Đánh giá chung về các nghiên cứu thực nghiệm trƣớc đây .............................. 20
CHƢƠNG 3: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ..................................................................... 27
3.1 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU .................................................................................... 27
3.2 MÔ TẢ CÁC BIẾN .............................................................................................. 27
3.3 GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU ................................................................................ 30
3.4 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ................................................................................... 31
3.5 CÁC PHƢƠNG PHÁP KIỂM ĐỊNH ................................................................. 33
3.5.1 Kiểm định nghiệm đơn vị (Unit Root Tests) ................................................. 33
3.5.2 Kiểm định đồng liên kết (Cointegration Tests) ............................................ 35
3.5.3 Mô hình véctơ hiệu chỉnh sai số (VECM) ..................................................... 35
3.5.4 Kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger (Granger Causality Tests) ..... 36
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ..................................... 38
4.1 PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MÔ TẢ CÁC BIẾN .............................................. 38
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
CPI
Tiếng Anh
Consumer Price Index
Tiếng Việt
Chỉ số giá tiêu dùng
DN
Doanh nghiệp
DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
EIA
Energy Information
Administration
Cơ quan Quản lý Thông tin Năng
lượng Hoa Kỳ
EX
M2
MS
Money Supply
Cung ứng tiền tệ
MSCI
Morgan Stanley Capital
International
Tổ chức cung cấp các công cụ hỗ
trợ quyết định đầu tư trên toàn thế
giới
NHNN
Ngân hàng nhà nước
NHTM
Ngân hàng thương mại
NHTW
Ngân hàng trung ương
OLS
Mô hình vector hiệu chỉnh sai số
VND
Việt Nam Đồng
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU
Số hiệu
Tên đồ thị, hình vẽ, bảng
Trang
Hình 1.1
Cung ứng tiền tệ
12
Bảng 2.1
Tóm tắt các kết quả nghiên cứu trước đây
20
Bảng 3.1
Tóm tắt các biến nghiên cứu
45
Đồ thị 4.5
Quan hệ giữa chỉ số sản xuất công nghiệp và Vn-Index
47
Đồ thị 4.6
Quan hệ giữa lạm phát và Vn-Index
48
Đồ thị 4.7
Quan hệ giữa cung tiền mở rộng và Vn-Index
50
Bảng 4.1
Thống kê mô tả
51
Bảng 4.2
Kiểm định nghiệm đơn vị
tăng trưởng chưa tích cực do nhà đầu tư thường chạy theo phong trào, thị trường thiếu
vắng các nhà đầu tư dài hạn, hệ thống các tổ chức trung gian hỗ trợ hoạt động còn
nhiều hạn chế, khung pháp lý của thị trường còn nhiều bất cập…Hiện nay các cơ quan
ban ngành đã và đang tích cực đưa ra những giải pháp nhằm đưa TTCK về đúng với
vai trò của nó đối với nền kinh tế, để làm được điều này, chúng ta cần đặt ra câu hỏi:
những nguyên nhân nào làm cho TTCK Việt Nam diễn biến phức tạp như thời gian
vừa qua, đâu là giải pháp hữu hiệu nhất? Có thể thấy những thông tin tiêu cực về kinh
tế vĩ mô đã có tác động không nhỏ đến sự sụt giảm của TTCK trong thời gian vừa qua,
như vậy câu hỏi đặt ra là giữa TTCK Việt Nam và các yếu tố kinh tế vĩ mô thật sự có
mối tương quan nào không?
Thực tế, đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến vấn đề này của các tác
giả trên thế giới. Tuy nhiên, tại những thị trường khác nhau đã đưa ra những kết quả
không giống nhau. Cụ thể như: theo nghiên cứu năm 2009 của Asmy, Mohamed &
cộng sự tại Malaysia giai đoạn trước và sau khủng hoảng (1987-1995 & 1999-2007)
cho thấy lạm phát có tương quan thuận, cung tiền tương quan nghịch, còn tỷ giá hối
đoái có tương quan quan thuận trong giai đoạn trước khủng hoảng và tương quan
nghịch sau khủng hoảng với chỉ số giá chứng khoán; nghiên cứu của Adman Hussian
tại thị trường Karachi (Pakistan) năm 2009 cho thấy, trong dài hạn, các yếu tố chỉ số
sản xuất công nghiệp, tỷ giá hối đoái thực, dự trữ ngoại hối, cung tiền và chỉ tiêu tổng
tài sản cố định có tương quan thuận, lãi suất ảnh hưởng không đáng kể, còn lạm phát
lại có tương quan nghịch với giá cổ phiếu; nghiên cứu tại thị trường chứng khoán
Trung Quốc và Ấn Độ của Seyed Mehdi Hosseini, Zamri Ahmad & Yew Wah Lai
1
năm 2011 có kết quả như sau: tại Trung Quốc giá dầu thô và cung tiền đồng biến với
chỉ số giá chứng khoán trong dài hạn, tại Ấn Độ thì ngược lại, tuy nhiên trong ngắn
hạn tại Trung Quốc giá dầu thô nghịch biến, cung tiền và lạm phát đồng biến với giá
chứng khoán và ở Ấn Độ cũng có kết quả ngược lại. Mặc dù kết quả khác nhau nhưng
nhìn chung những yếu tố vĩ mô hầu hết đều có ảnh hưởng đến giá chứng khoán, chỉ có
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Các yếu tố kinh tế vĩ mô: hoạt động kinh tế thực, tỷ giá hối đoái, lạm phát, lãi
suất, cung tiền, giá dầu tác động lên chỉ số giá chứng khoán Vn-Index.
Chỉ số giá chứng khoán Vn- Index.
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE).
Chỉ số giá chứng khoán Vn-Index thu thập từ sàn HOSE trong giai đoạn từ
tháng 1/2006 đến tháng 07/2014.
Dữ liệu được thu thập từ các nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO), các
chỉ tiêu tài chính của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IFS-IMF), Cục thông tin năng lượng Hoa
Kỳ (EIA), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ủy ban chứng khoán Nhà nước trong giai
đoạn 2006 – 2014.
1.4
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên
cứu định tính và định lượng sau đây:
Nghiên cứu định tính
Được sử dụng bằng cách thu thập các số liệu và thông tin liên quan để quan sát
sự biến động của chỉ số giá chứng khoán Vn-Index thông qua sự tác động của các biến
kinh tế vĩ mô. Phân tích mối quan hệ giữa các biến và đưa ra đánh giá sơ bộ.
Nghiên cứu định lƣợng
Được sử dụng nhằm đo lường và đánh giá mối liên hệ giữa các biến, cho phép
suy luận thống kê từ kết quả thu được từ các mẫu cho kết quả của tổng thể. Trong
phạm vi bài nghiên cứu, tác giả sử dụng chương trình Eviews 6.0 để kiểm định các giả
thuyết thông qua các phương pháp: kiểm định nghiệm đơn vị, kiểm định đồng liên kết,
của đề tài, tóm tắt bố cục của đề tài.
4
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN
2.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN
2.1.1 Khái niệm
Chỉ số giá chứng khoán là số tương đối biểu hiện (bằng điểm), bằng sự tương
quan so sánh giữa giá cổ phiếu bình quân kỳ nghiên cứu (hiện tại) với giá bình quân kỳ
gốc đã chọn (thường coi là 100 hoặc 1000). Chỉ số giá chứng khoán được cấu thành
bởi 2 yếu tố là loại chứng khoán (trọng số) và giá của từng chứng khoán cấu thành.
Chỉ số giá chứng khoán là một giá trị thống kê phản ánh tình hình của thị trường
chứng khoán. Chỉ số giá chứng khoán được tổng hợp từ danh mục các chứng khoán
theo phương pháp tính nhất định. Thông thường, danh mục sẽ bao gồm các chứng
khoán có những đặc điểm chung như cùng niêm yết tại cùng một sở giao dịch, cùng
ngành hay cùng mức vốn hóa thị trường.
Ý nghĩa
Chỉ số giá chứng khoán phản ánh xu hướng vận động chung của toàn bộ thị
trường nên nó là một thông tin không thể thiếu trong bất cứ một thông tin báo cáo nào
về hoạt động giao dịch trên thị trường chứng khoán.
Chỉ số giá chứng khoán cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư đánh giá và phân
tích thị trường chứng khoán một cách tổng quát khi cho thấy tình hình biến động giá
chứng khoán cũng như của cả thị trường, là cơ sở để đưa ra những quyết định đầu tư
mang tính chiến lược và dài hạn chứ không chỉ nhằm mục đích kiếm lời từ những biến
động giá tạm thời. Đây là thông tin rất quan trọng đối với các công ty niêm yết, đối với
nhà đầu tư và việc đánh giá thị trường chứng khoán.
2.1.2 Phƣơng pháp tính chỉ số giá chứng khoán
Phƣơng pháp Passcher
Đây là loại chỉ số giá thông dụng nhất và nó là chỉ số giá bình quân gia quyền giá
I p : chỉ số giá Passcher
p t : giá thời kỳ t
p 0 : giá thời kỳ gốc
q t : khối lượng (quyền số) thời điểm tính toán (t) hoặc cơ cấu của khối lượng thời
điểm tính toán
i: số cổ phiếu i tham gia tính chỉ số giá
n: số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số
Chỉ số giá bình quân Passcher là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị lấy quyền
số là quyền số thời kỳ tính toán, vì vậy kết quả tính toán sẽ phụ thuộc vào cơ cấu
quyền số (cơ cấu chứng khoán niêm yết) vào thời kỳ tính toán.
Các chỉ số KOSPI (Hàn Quốc), S&P 500 (Mỹ), ET-SE 100 (Anh), TOPIX
(Nhật), CAC (Pháp), TSE (Đài Loan), Hangseng (HongKong)… và Vn-Index của Việt
Nam áp dụng phương pháp này để tính chỉ số giá cổ phiếu.
Phƣơng pháp Laspeyres
Chỉ số giá bình quân Laspeyres là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị, lấy
quyền số là số cổ phiếu nêm yết thời kỳ gốc. Như vậy, kết quả tính sẽ phụ thuộc vào
cơ cấu quyền số thời kỳ gốc.
n
IL
(q
0
xp t )
I F (I P xI L )
Trong đó:
I F : là chỉ số giá Fisher
I P : là chỉ số giá Passcher
I L : là chỉ số giá bình quân Laspayres
Theo thống kê chưa thấy quốc gia nào sử dụng phương pháp tính chỉ số giá này.
Phƣơng pháp số bình quân đơn giản
Phương pháp này đơn giản là lấy tổng thị giá của chứng khoán chia cho số chứng
khoán tham gia tính toán:
n
IP
p
i 1
i
n
Trong đó:
I P : giá bình quân
p i : giá của chứng khoán i
n: số lượng chứng khoán đưa vào tính toán
7
doanh nghiệp nước ngoài. Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu, việc giảm giá đồng
nội tệ sẽ làm tăng giá nguyên liệu, hàng hóa nhập khẩu tính bằng đồng nội tệ, từ đó
làm giảm lợi nhuận và giảm lợi thế cạnh tranh với hàng hóa trong nước. Ngược lại, đối
với các doanh nghiệp xuất khẩu, việc giảm giá đồng nội tệ sẽ tạo lợi thế cạnh tranh với
các doanh nghiệp nước ngoài.
Khi tỷ giá tăng lên tức đồng nội tệ giảm giá sẽ thu hút một lượng vốn đầu tư
nước ngoài, vì cùng một lượng ngoại tệ sẽ đổi được nhiều nội tệ hơn để đầu tư, từ đó
giúp thị trường chứng khoán tăng điểm. Tuy nhiên, nếu đồng nội tệ tiếp tục mất giá
liên quan đến sự bất ổn của nền kinh tế thì các nhà đầu tư sẽ trở nên e ngại vì sợ rủi ro
8
tỷ giá, hoạt động đầu tư sẽ không còn hấp dẫn, thị trường chứng khoán cũng sẽ bị ảnh
hưởng.
Có nhiều nghiên cứu đã cố gắng tìm ra mối quan hệ giữa giá chứng khoán và tỷ
giá tại các quốc gia trên thế giới với nhiều TTCK khác nhau. Theo Dornbusch &
Fisher (1980) có mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ giá và giá chứng khoán; theo Ong &
Izan (1999), có một mối liên hệ yếu giữa tỷ giá và giá chứng khoán Úc cũng như các
nước G7; Bahmani – Oskooee và Sohrabian (1992) lại cho rằng không có mối liên hệ
dài hạn giữa giá chứng khoán và tỷ giá tại Mỹ; Tabak (2006) cho thấy tỷ giá và giá
chứng khoán có mối tương quan ngược chiều. Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của
Nguyễn Minh Kiều và cộng sự (2013) không tìm thấy mối liên hệ nào giữa tỷ giá và
giá chứng khoán, trong khi kết quả của Phan Thị Bích Nguyệt và Phạm Dương
Phương Thảo (2013) thì tác động này là ngược chiều.
2.2.2 Giá dầu
Dầu là ngành năng lượng quan trọng hàng đầu trên thế giới vì nó cần thiết cho
các hoạt động sản xuất. Các nước càng gia tăng tốc độ phát triển thì giá dầu lại càng
được theo dõi sát sao vì nó liên quan đến chi phí đầu vào của nền kinh tế. Một số quốc
gia trên thế giới đã chuyển từ nước xuất khẩu dầu sang nhập khẩu dầu mỏ trong những
năm gần đây vì nhu cầu năng lượng tăng cao, mặc dù các nền kinh tế lớn đã hạn chế
dù trong ngắn hạn hay dài hạn đều ảnh hưởng đến lãi suất phi rủi ro danh nghĩa và qua
đó ảnh hưởng đến lãi suất chiết khấu và TTCK. Reily & Brown (2000) cho rằng dòng
tiền vào TTCK có thể thay đổi theo lãi suất và cũng không chắc chắn rằng nó sẽ tăng
hay giảm khi lãi suất thay đổi theo một hướng nào đó. Patanapakorn & Sharma (2007)
lại cho thấy mối quan hệ tích cực giữa lãi suất ngắn hạn và giá chứng khoán. Tóm lại,
các nghiên cứu về mối quan hệ giữa lãi suất vẫn chưa có một kết quả rõ ràng.
Lãi suất thấp cũng là điều kiện để kênh đầu tư chứng khoán trở nên hấp dẫn hơn
bởi nhà đầu tư sẽ không còn mặn mà với các khoản đầu tư có lãi suất cố định như trái
phiếu, gửi tiền ngân hàng…và có xu hướng vay vốn chi phí thấp để chuyển qua đầu tư
trên thị trường chứng khoán với kỳ vọng lợi nhuận cao và điều này làm cho giá cổ
phiếu tăng.
Ngược lại khi lãi suất tăng: thứ nhất, các kênh đầu tư có tính an toàn cao như gửi
tiền ngân hàng, đầu tư vàng lại được ưa chuộng nên lượng tiền đầu tư trên thị trường
chứng khoản giảm và kéo theo đó giá cổ phiếu cũng giảm; thứ hai, lãi suất tăng có tác
dụng thu hút nguồn vốn ngoại tệ đổ vào, gián tiếp làm cho đồng nội tệ tăng giá và tác
động làm giảm tỷ giá hối đoái, các DN xuất khẩu trong trường hợp này sẽ gặp khó
khăn khi hàng hóa của họ trở nên đắt đỏ cộng với chi phí vốn tăng lên, hệ quả là doanh
thu và lợi nhuận kỳ vọng giảm và ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của DN; thứ ba, lãi suất
10
tăng lên khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh vì chi phí vốn
tăng cao, doanh nghiệp bắt buộc hoặc phải giảm các khoản đầu tư tăng trưởng hoặc
chấp nhận chi phí vốn bình quân tăng lên, kết quả là lợi nhuận giảm, giá trị doanh
nghiệp giảm và giá cổ phiếu giảm theo.
2.2.4 Giá trị sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp là một chỉ tiêu phản ánh toàn bộ giá trị sản phẩm vật
chất và dịch vụ của toàn ngành công nghiệp được sản xuất ra trong một thời kỳ nhất
định.
Fama (1990) và Geske & Roll (1983) đã chỉ ra mối quan hệ đồng biến giữa sản
bảo kế hoạch lợi nhuận. Nếu giá bán tăng quá cao, người tiêu dùng sẽ chuyển qua sử
dụng sản phẩm thay thế khác làm doanh thu tiêu thụ giảm và lợi nhuận doanh nghiệp
không đạt được như kế hoạch dẫn đến giá chứng khoán giảm, chi trả cổ tức khó khăn.
Kết quả nghiên của tại New Zealand (1990 – 2003) của Christopher Gan, Minsoo
Lee, Hua Hwa Au Yong, Jun Zhang (2006) và tại Việt Nam (2004 – 2011) của
Nguyễn Minh Kiều và cộng sự (2013) cho thấy lạm phát và TTCK có mối quan hệ
ngược chiều. Tuy nhiên, kết quả ngược lại được chứng minh trong các nghiên cứu của
Asmy Mohamed, Rohilina Wisam, Hassama Aris và Fouad Md (2009) tại Malaysia
(1987 – 2007). Vì vậy, mối quan hệ giữa lạm phát và cổ phiếu là một câu hỏi thực
nghiệm khó có câu trả lời chính xác và mối quan hệ này sẽ thay đổi theo thời gian.
2.2.6 Cung tiền
Cung tiền là lượng tiền cung cấp cho nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu mua
hàng hóa, dịch vụ, tài sản…của các cá nhân và doanh nghiệp (không kể các tổ chức tín
dụng).
Hình 1.1: Cung ứng tiền tệ
(Nguồn: Cfoviet.com)
12
Trong đó:
M0 = Tổng lượng tiền NHTW phát hành đang được lưu thông (tiền cơ sở)
M1 = M0 + tiền mà các NHTM gửi tại NHTW (tiền mạnh)
M2 = M1 + chuẩn tệ ( tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn…tại các tổ
chức tín dụng)
M3 = M2 + tất cả các khoản tiết kiệm khác gửi tại các tổ chức tín dụng
(trái phiếu, quốc gia, tín phiếu…)
M4 (áp dụng ở Anh) = M0 + tiền trong tài khoản các loại
Tính thanh khoản theo nghĩa rộng = M3 + các trái phiếu + các khoản đầu tư tín
thác
tại Pakistan, Seyed Mehdi Hosseini, Zamri Ahmad & Yew Wah Lai (2011) tại Trung
Quốc và Nguyễn Minh Kiều và cộng sự (2013) tại Việt Nam đều có kết quả có tồn tại
mối quan hệ cùng chiều giữa cung tiền và chỉ số giá chứng khoán. Các nghiên cứu của
Asmy Mohamed, Rohilina Wisam, Hassama Aris và Fouad Md (2009) tại Malaysia,
Christopher Gan, Minsoo Lee, Hua Hwa Au Yong, Jun Zhang (2006) tại New Zealand
đã chứng minh điều ngược lại.
Vì vậy, theo Mukherjee và Naka (1995) ảnh hưởng của cung tiền lên giá chứng
khoán là một câu hỏi thực nghiệm, những nghiên cứu thực nghiệm ở các thị trường
khác nhau sẽ cho ra những kết quả khác nhau, có mối quan hệ cùng chiều, ngược chiều
hay thậm chí không có mối quan hệ nào giữa TTCK và cung tiền là điều hoàn toàn có
thể xảy ra.
2.3 CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY
2.3.1 Một số mô hình nghiên cứu trên thế giới
Asmy, Mohamed; Rohiliana, Wisam; Hassama, Aris và Md.Fouad “Effects
of Macroeconomic Variables on Stock in Malaysia: An Aproach of Error Correction
Model” (2009)
Nghiên cứu tập trung xem xét mối quan hệ nhân quả trong ngắn hạn và dài hạn
giữa Kuala Lumper Composite Index (KLCI) và các biến số kinh tế vĩ mô: lạm phát
(biến đại diện là CPI), cung tiền (M2) và tỷ giá hối đoái danh nghĩa đa phương
(NEER) trong khoảng thời gian trước và sau khủng hoảng 1997 (giai đoạn 1987-1995
và 1999-2007).
14
Phương trình hồi quy được viết như sau:
LnKLCI β0 β1LnCPI β2LnM2 β3LnNEER ε t
Thông qua những phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị, kiểm định đồng tích
hợp, kiểm định nhân quả Granger và kết quả mô hình hiệu chỉnh sai số trong ngắn hạn
Kết quả kiểm định Johansen cho thấy có tồn tại một mối quan hệ dài hạn giữa
NZSE40 và các biến vĩ mô được xem xét. Trong đó, GDP và ROIL đồng biến
NZSE40, ngược lại CPI, M2, LR, SR và EX nghịch biến với NZSE40.
Nhìn chung, NZSE40 luôn bị ảnh hưởng bởi lãi suất, cung tiền và GDP thực trong
khoảng thời gian 1990-2003. Kết quả nhận định rằng nhận thức đầu tư của New
Zealand là sự pha trộn giữa các thị trường chứng khoán khác như Hàn Quốc, Mỹ và
Nhật Bản.
Seyed Mehdi Hosseini, Zamri Ahmad & Yew Wah Lai, “The Role of
Macroeconomic Variables on Stock Market Index in China and India” (2011)
Nghiên cứu sử dụng bốn yếu tố kinh tế vĩ mô giá dầu thô (COP), cung tiền (M2),
chỉ số sản xuất công nghiệp (IP) và tỷ lệ lạm phát (IR) để phân tích tác động của
chúng lên giá chứng khoán tại Trung Quốc (SSE) và Ấn Độ (BSE). Phân tích sử dụng
dữ liệu tháng được thu thập theo tháng từ tháng 1-1999 đến 1-2009.
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy có mối quan hệ giữa bốn yếu tố trên với chỉ số giá
chứng khoán tại hai thị trường Trung Quốc và Ấn Độ như sau:
Long-run
Short-run
China
India
COP
+
-
IR
+
-
Muhammad Hussain, Muhammad Aamir, Rasool, Fayyaz & Mumtaz,
“The impact of Macroeconomic Variables on Stock Prices: An Empirical Analysis
of Karachi Stock Exchange” (2012)
16
Trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả tập trung phân tích mối quan hệ (trong
dài hạn và ngắn hạn) giữa KSE (Karachi Stock Exchange) và các biến số kinh tế vĩ mô
như tỷ giá hối đoái (ER), dự trữ ngoại hối (FER), chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI),
lãi suất (IR), nhập khẩu (IM), cung tiền (MS), chỉ số bán buôn (WPI) và xuất khẩu (X)
ở Pakistan. Dữ liệu về các biến kinh tế vĩ mô (biến độc lập) và giá chứng khoán (biến
phụ thuộc) được thu thập theo tháng từ tháng 1-2001 đến 12-2010.
Thông qua các kỹ thuật thống kê được sử dụng là kiểm định ADF, KPSS, kiểm
định đồng liên kết Johansen, VECM và kiểm tra nhân quả Granger, kết quả cho thấy
trong dài hạn các yếu tố ER, IPI và X có tác động tiêu cực lên giá chứng khoán, trong
khi FER, IR, M và WPI có tác động tích cực lên giá chứng khoán. Và kết quả từ kiểm
định nhân quả Granger cho thấy MS và WPI có mối quan hệ hai chiều trong khi ER,
FER và IM có mối quan hệ một chiều với giá chứng khoán và IPI, IR, X không có
quan hệ nhân quả theo kiểm định này.
Dadgar & Nazari, “The Analysis of Relationship between Stock Prices and
Exchange Rates in Iran” (2012)
Nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán, tỷ giá hối đoái, lạm
phát và giá dầu tại Iran. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu hàng tháng từ tháng 1/2007 đến