BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
TRẦN NGỌC THẢO
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN HUYẾT ÁP Ở NGƯỜI LỚN
VÀ HƯỚNG PHÒNG BỆNH LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
MÃ SỐ: 60310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GSTS. HOÀNG THỊ CHỈNH
TP. HCM, năm 2015
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn này: “Tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến
huyết áp ở người lớn và hướng phòng bệnh” hoàn toàn là công trình nghiên cứu
nghiêm túc của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và khảo
sát từ tình hình thực tiễn.
Các trích dẫn tài liệu và các số liệu nghiên cứu đều được dẫn nguồn và có độ
chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi.
Chương 1: Giới thiệu
nghiên cứu
11.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1. Mục tiêu tổng quát 3
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 3
1.3. Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4. Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu 4
1.5. Bố cục đề tài 4
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
62.1. Khái quát chung về huyết áp và tăng huyết áp 6
2.1.1. định nghĩa về huyết áp 6
2.1.2. Phân loại về huyết áp và tăng huyết áp 7
2.1.3. Định nghĩa về tăng huyết áp 8
2.1.3.1. Tăng huyết áp tâm thu đơn độc 9
2.1.3.2. Tăng huyết áp tâm thu đơn độc ở người trẻ tuổi 9
2.1.3.3. Tăng huyết áp tâm trương đơn độc 9
4.1. Xu hướng tác động của các yếu tố đối với huyết áp 52
4.1.1. Yếu tố tuổi tác tác động lên huyết áp 52
4.1.2. Yếu tố giới tính tác động đến huyết áp 53
4.1.3. Yếu tố hút thuốc tác động lên HA 54
4.1.4. Yếu tố uống rượu/ bia tác động lên HA 57
4.1.5. Hoạt động thể lực tác dụng lên HA 58
4.1.6. Tiền sử gia đình ảnh hưởng đến HA 59
4.1.7. Ăn mặn ảnh hưởng đến HA 60
4.1.8. Béo phì ảnh hưởng đến HA 61
4.1.9. Lễ Phật tác dụng với HA 62
4.1.10. Số năm đi học ảnh hưởng đến HA 63
4.2.Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố lên huyết áp 68
4.2.1. Tác động biên của từng yếu tố lên THA loại I 68
4.2.2. Tác động biên của từng yếu tố lên THA loại II 69
4.2.3. Tác động biên của từng yếu tố lên nhóm k THA 71
4.2.4. Tóm lược xu hướng tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến HA 74
4.3. Hướng phòng bệnh 74
Chương 5: Bàn luận – Kết luận – Khuyến nghị
77
5.1. Bàn luận 77
5.2. Kết luận 80
5.3. Khuyến nghị 81
Tài liệu tham khảo
HA Huyết áp
HATT Huyết áp tâm thu
HATr Huyết áp tâm trương
ISH
International Society of Hypetension
(Hội Tăng Huyết áp Quốc tế)
JNC VII
Joint National Committee 7
(Báo cáo lần 7 của Ủy ban liên quốc gia Hoa Kỳ)
k THA không tăng huyết áp
NHANES
National Health and Nutrition Examination Survey
(Y tế quốc gia và khảo sát kiểm tra dinh dưỡng)
P Xác suất
SK Sức khỏe
TB trung bình
THA Tăng huyết áp
WHO World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH
Mục trang
Bảng 2.1: Phân độ tăng huyết áp theo WHO/ISH 2003 7
Bảng 2.2: Phân độ HA theo JNC VII 7
Bảng 2.3: Tỷ lệ THA theo lứa tuổi và giới từ năm 2007-2010 tại hoa Kỳ 8
Bảng 2.4: Tiêu chuẩn chẩn đoán béo phì của TCYTTG năm 2002 20
Bảng 3.4: Giả thuyết kỳ vọng về các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến HA 48
Bảng 4.1.1: Yếu tố tuổi tác tác động lên huyết áp 52
Bảng 4.1.2: Yếu tố giới tính tác động lên huyết áp 53
chứng nặng nề, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả kinh tế và nguồn lực
y tế của quốc gia, khu vực và thế giới.
Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về HA và THA. Tuy nhiên, những
nghiên cứu này chỉ tập trung chủ yếu vào chuyên môn sâu của y khoa để tìm ra
nguyên nhân, phương pháp điều trị và dịch tể học. Trong khi đó, ở giác độ Kinh tế
Sức khỏe thì hầu như có rất ít nghiên cứu về các yếu tố thực sự tác động đến HA và
THA. Ngoài các yếu tố nguy cơ làm ảnh hưởng HA như: tuổi, giới tính, tiền sử gia
đình, hút thuốc, uống nhiều rượu / bia, ăn mặn, béo phì, số năm đi học, luyện tập thể
lực thì yếu tố Lễ Phật cũng có tác động đến HA ở chiều hướng tích cực. Đó cũng là
điểm mới của đề tài này mà tác giả muốn nghiên cứu.
Đề tài này nhằm tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ tác động
đến huyếp áp như thế nào, đồng thời khảo sát thêm tác động của yếu tố lễ Phật đến
HA. Xu hướng và các mức độ ảnh hưởng này được xem xét ở khía cạnh HA của
người lớn, từ đó đưa ra hướng phòng bệnh tích cực. Số liệu được sử dụng để phân
tích là số liệu sống được thu thập trong và ngoài khoa Nội Tim mạch - Bệnh viện đa
khoa tỉnh Kiên Giang trong khoảng thời gian từ tháng 11 / 2014 đến tháng 04 /
2015, sử dụng phương pháp định tính và định lượng, điều tra bằng bảng khảo sát,
phối hợp với thống kê mô tả. Kết quả thu được 306 quan sát gồm 2 nhóm chính:
nhóm có THA (102 quan sát gồm THA loại I và THA loại II) và nhóm đối chứng
(không THA: 204 quan sát) nhằm so sánh mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố nguy
cơ - đặc biệt là mức độ ảnh hưởng của yếu tố Lễ Phật - tác động lên huyết áp của
mỗi cá nhân. Kết quả phân tích cho thấy các yếu tố nguy cơ, bao gồm một số yếu tố
nguy cơ không thể kiểm soát được ( như: tuổi tác, giới tính, tiền sử gia đình) và một
số yếu tố nguy cơ có thể kiểm soát được (như: hút thuốc lá / thuốc lào, số năm đi
học, ăn mặn, béo phì, hoạt động thể lực, uống nhiều rượu / bia) đều có ảnh hưởng
đáng kể đến tình trạng THA ở người lớn. Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng cho
thấy không có sự khác biệt giữa nam và nữ khi xác suất xảy ra THA được tác động
từ các yếu tố. Đề tài cũng chỉ ra xu hướng THA biến thiên theo độ tuổi và thói quen
sinh hoạt: tuổi càng lớn thì nguy cơ THA càng cao; những người trẻ tuổi và những
người chuyên tâm lễ Phật hàng ngày sẽ rất ít nguy cơ THA hơn so với những người
vong vì tai nạn giao thông”.
(Huỳnh Văn Minh và CS (2008)).
“Tỷ lệ người mắc THA ngày một tăng nhanh chóng ở các nước đang phát triển
(Châu Á, Châu Phi). Theo thống kê tại Hoa Kỳ năm 2006, có khoảng 74,5 triệu
người Mỹ bị THA; cứ ba người lớn thì có một người bị THA. Ngay tại Việt
Nam, thống kê mới nhất năm 2007 cho thấy tỷ lệ THA ở người lớn là 27,4%”.
(Phạm Gia Khải và CS (2010)).
“Đối với người bị THA, nguy cơ bị đột quỵ (tai biến mạch máu não) tăng gấp
bốn lần, nguy cơ bị Nhồi máu cơ tim tăng gấp hai lần so với người không bị
THA. Nguy cơ tử vong sẽ tăng gấp đôi khi số HA của chúng ta tăng mỗi
2
20mmHg đối với huyết áp tâm thu (HATT) và tăng 10mmHg đối với huyết áp
tâm trương (HATTR). Năm 2008 có khoảng 16,5 triệu người chết vì THA trên
toàn thế giới. Thống kê tại Hoa Kỳ năm 2006 cho thấy có khoảng 56.561 người
Mỹ chết vì THA”.
(Phạm Gia Khải và CS (2010)).
“Với sự tham gia trực tiếp của Viện Tim Quốc gia, Bộ Y tế Hoa Kỳ đã quyết
định tiến hành điều tra dịch tễ học các bệnh tim mạch trong 20 năm tại một thị
trấn Framingham 28.000 dân thuộc bang Massachusetts. Từ những kết quả thu
được, người ta thấy có liên quan chặt chẽ giữa trị số HA với nhồi máu cơ tim,
tai biến mạch máu não, suy tim, suy thận. Những thử nghiệm lớn về điều trị
trong THA cho thấy tác dụng tích cực của điều trị lên tỷ lệ bệnh lý và tỷ lệ tử
vong do tim mạch. THA đóng một vai trò bệnh sinh chủ yếu trong hình thành
bệnh lý mạch máu não, bệnh tim thiếu máu cục bộ, suy tim và suy thận. Việc
điều trị THA làm giảm khoảng 40% nguy cơ đột quỵ và khoảng 15% nguy cơ
nhồi máu cơ tim. Mặc dù việc điều trị THA cho thấy ngăn chặn được bệnh tim
mạch và kéo dài, nâng cao đời sống con người, nhưng THA vẫn chưa được điều
trị một cách đầy đủ ở mọi nơi. Đồng thời THA thường đi kèm những yếu tố
nguy cơ khác như hút thuốc lá, uống nhiều rượu / bia, ăn mặn, béo phì, là
Xác định khuynh hướng tác động và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố nguy
cơ có gây THA ở người lớn hay không?
Yếu tố lễ Phật có ảnh hưởng như thế nào trong việc ngăn ngừa THA?
Hướng phòng bệnh là gì?
1.4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu xu hướng và phân tích mức độ ảnh hưởng của
các yếu tố nguy cơ và yếu tố lễ Phật tác động đến HA ở người lớn như thế nào.
Vì thế, mẫu gồm 2 nhóm: nhóm có THA là những BN đang được điều trị tại
khoa Nội Tim mạch 102 quan sát - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang
(BVĐKKG) và nhóm không THA (dùng làm nhóm đối chứng) được lấy ngẫu
4
nhiên trong và ngoài bệnh viện 204 quan sát. Cách tính mẫu sẽ được tác giả
trình bày chi tiết hơn ở chương III.
Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn của tỉnh Kiên Giang và địa phương lân
cận. Với nguồn lực và thời gian có hạn của tác giả, nghiên cứu này khó thể thực
hiện trên phạm vi toàn quốc nên tác giả chọn Kiên Giang là vùng đất rộng
người đông và số mẫu có thể tạm thời đại diện được cho tổng thể dân cư.
Nghiên cứu này khảo sát nhằm vào hai nhóm đối tượng: nhóm thứ nhất là
những bệnh nhân đang được điều trị THA tại bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên
Giang, khoa Nội Tim mạch. Nhóm thứ hai (không THA) là những người khỏe
mạnh ở độ tuổi trưởng thành trở lên, đang sinh sống trên địa bàn của tỉnh Kiên
Giang và địa phương lân cận như An Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ.
1
.5. Bố cục đề tài:
gồm năm chương:
- Chương 1: trình bày về sự cần thiết của đề tài nghiên cứu trong xã hội hiện nay.
6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1. Khái quát chung về HA và THA:
2.1.1. Định nghĩa về HA:
Tim bơm máu đi nuôi các cơ quan của cơ thể thông qua hệ thống động mạch
(ĐM). Ví như một máy bơm nước đẩy nước qua các ống dẫn. Khi máu được
tim bơm đầy, và chảy trong lòng các mạch máu, sức ép của máu vào thành
mạch máu sẽ tạo một áp suất (pressure) gọi là huyết áp (blood pressure). HA
thay đổi tùy lúc, và tùy vào hoạt động của cơ thể. HA xuống thấp hơn lúc ta
ngủ, nghỉ và lên cao hơn khi tinh thần ta kích động.
HA được thể hiện bằng hai con số với đơn vị là mmHg hoặc cmHg. Có 2 chỉ số
HA: huyết áp tâm thu (HATT), còn gọi là HA tối đa, là số đo biểu hiện sức ép
của máu vào lòng ĐM mỗi khi tim co bóp để tống máu đi đến các cơ quan, bình
thường HA tối đa dao động từ 90-139 mmHg. Huyết áp tâm trương (HATTr),
còn gọi là HA tối thiểu, là biểu hiện trương lực của thành mạch, là áp suất trong
lòng ĐM khi con tim dãn ra giữa hai nhịp co bóp, bình thường từ 60-89 mmHg.
Theo bác sĩ Lê Trung Hiếu (Trung tâm Y khoa Kỳ Hòa) định nghĩa: “HA là áp
Phân loại HATT(mmHg) HATTr(mmHg)
HA tối ưu <120 <80
HA bình thường <130 <85
HA bình thường cao 130-139 85-89
THA độ 1 140-159 90-99
THA độ 2 160-179 100-109
THA độ 3
≥180 ≥110
THA tâm thu đơn độc
≥140
<90
(Nguồn: Huỳnh Văn Minh và cộng sự (2008))
Bảng 2.2: Phân độ HA theo JNC VII
Phân loại HATT(mmHg) HATTr(mmHg)
Bình thường <120 <80
Tiền tăng huyết áp 120-139 80-89
THA loại I 140-159 90-99
THA loại II
≥160 ≥100
(Nguồn: Trương Tấn Minh, Trần Văn Huy và cộng sự (2004))
2.1.3. Định nghĩa về THA:
8
Một trong các định nghĩa cập nhật gần đây về THA đã chấp nhận trong Hướng
dẫn quản lý THA của Hội THA Châu Âu (ESH) và Hội Tim mạch Châu Âu
(ESC) cho rằng: THA, còn gọi là cao huyết áp, được định nghĩa là khi chỉ số
HATT và / hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) cao hơn mức bình thường.
cao nhưng HATTr và HA trung bình bình thường. Huyết áp ĐM chủ tuy vậy
cũng bình thường. Điều này có thể dựa vào sự phân tích sóng mạch”.
2.1.3.3.THA tâm trương đơn độc:
“Thường xảy ra ở người trung niên, THA tâm trương thường được định nghĩa
khi HATT < 140 và HATTr > 90 mmHg. Mặc dù HATTr thường được cho là
yếu tố tiên lượng tốt nhất về nguy cơ ở BN tuổi <50 một số tiền cứu về THA
tâm trương đơn độc cho thấy tiên lượng có thể lành tính, tuy vậy, vấn đề đang
còn tranh luận”.
2.1.3.4. THA “áo choàng trắng” và hiệu ứng “áo choàng trắng”:
“Một số BN HA thường xuyên tăng tại bệnh viện hoặc phòng khám bác sĩ trong
khi HA hằng ngày hoặc đo 24h lại bình thường. Tình trạng này gọi là “THA áo
choàng trắng”, cho dù một thuật ngữ khác ít mang tính cơ chế hơn là “THA
phòng khám hoặc bệnh viện đơn độc”. Tỷ lệ hiện mắc ”THA áo choàng trắng”
là 10-30%, chiếm một tỷ lệ không phải không đáng kể trên những đối tượng
THA. THA áo choàng trắng tăng theo tuổi và tỷ lệ này < 10% ở THA độ 2, độ 3
khi đo tại phòng khám. Tăng HA áo choàng trắng có thể là khởi đầu của THA
thực sự và có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch mặc dù không phải nghiên
cứu nào cũng trả lời như thế. Nghi ngờ THA áo choàng trắng khi HA đo tại
phòng khám tăng hoặc kháng trị trong khi không có tổn thương cơ quan đích.
Những người THA phòng khám đơn độc có nguy cơ tim mạch thấp hơn những
người vừa THA phòng khám và THA 24h”.
10
Chẩn đoán THA phòng khám đơn độc khi HA phòng khám 140/90 mmHg đo
nhiều lần đi khám trong khi đó HA 24 giờ <125/80 mmHg. Nên thăm khám tìm
kiếm các yếu tố nguy cơ chuyển hóa và tổn thương cơ quan đích. Sử dụng
thuốc chỉ nên áp dụng khi có bằng chứng tổn thương cơ quan đích hoặc nguy cơ
tim mạch cao. Thay đổi phong cách sống và theo dõi sát nên được áp dụng cho
tất cả bệnh nhân với THA phòng khám đơn độc chưa sử dụng thuốc.
2.1.3.5. THA ẩn giấu (masked hypertension) hoặc THA lưu động đơn độc:
110mmHg trở lên, và được xem là tình trạng nặng.
(Huỳnh Văn Minh và CS (2008)).
Xác định BN THA nguyên phát: đo HA lâm sàng bằng máy đo tự động
OMRON SEM1 của Nhật trong 24h. Chẩn đoán THA theo tiêu chuẩn khuyến
cáo Hội Tim mạch Việt Nam 2008 như bảng 2.2
. Chẩn đoán BN THA nguyên
phát dựa vào khám lâm sàng, và hồ sơ bệnh án tại khoa.
(Huỳnh Văn Minh và CS (2008)).
Xác định BN không THA: là các BN có trị số HA lâm sàng tâm thu < 140
mmHg và/ hoặc tâm trương < 90 mmHg, không có tiền sử THA và không
đang dùng thuốc hạ áp.
Tuy nhiên, chẩn đoán THA cần dựa vào ba giá trị sau: 1- Trị số HA; 2- Đánh
giá nguy cơ tim mạch toàn thể thông qua tìm kiếm các yếu tố nguy cơ, tổn
thương cơ quan đích, bệnh lý hoặc dấu chứng lâm sàng kèm theo. 3- Xác định
nguyên nhân thứ phát gây THA.
Quá trình chẩn đoán cũng bao gồm các bước chính như: 1- Đo HA nhiều lần
trong ngày; 2- Khai thác tiền sử; 3- Khám thực thể và 4- Thực hiện các khám
nghiệm cận lâm sàng cần thiết.
(Huỳnh Văn Minh và CS (2008))
2.1.4. Hậu quả của THA:
Theo GS.TS. Nguyễn Lân Việt, “THA nếu không được chẩn đoán và điều trị
kịp thời sẽ gây ra biến chứng trên các cơ quan như: tim, não, mắt, ĐM ngoại
biên.
THA
nếu
không
thậm
chí
có
thể
gây
tử
vong
hoặc
để
lại
các
di
chứng
ảnh12
gia
đình
và
xã
hội.
Một
số
biến
chứng
chính
của
THA
như:
- Các
biến
chứng
chứng
về
não:
Xuất
huyết
não,
Nhũn
não,
bệnh
não
do
THA.
-
Các
biến
Mờ
mắt,
xuất
huyết,
xuất
tiết
và
phù
gai
thị.
-
Các
biến
chứng
về
não, nhồi máu cơ tim cấp, bóc tách động mạch chủ, phù phổi cấp, suy thận
cấp.
Biến chứng lâu dài: xảy ra nếu BN sau một thời gian dài THA mà không
được chẩn đoán và điều trị đúng. Biến chứng gồm: Rối loạn tiền đình, bệnh lý
mắt, tim to, suy tim, đau thắt ngực do thiếu máu cục bộ cơ tim, suy thận mãn,
đau cách hồi”.
(Nguyễn Lân Việt, Phạm Thái Sơn và CS (2012)).
“THA kéo dài sẽ làm tổn thương thành mạch. Nhưng chỉ tổn thương trong
lòng các mạch máu nào dễ bị chất mỡ cholesterol và các tế bào tiểu cầu
(platelet) luôn luôn có sẵn trong máu bám vào. Cơ chế dây chuyền này lại
càng khiến lòng mạch máu tổn thương thêm nữa và dần dần nhỏ hẹp lại, đến
một ngày nào đó, sẽ không còn mang đủ máu về nuôi tim. Nếu một phần tim
thiếu máu nuôi trầm trọng, phần tim đó có thể chết và gây ra hiện tượng chết
cơ tim cấp tính (heart attack). Tương tự, THA làm tổn thương các mạch máu
nuôi óc, nuôi thận, nuôi mắt gây các biến chứng tai biến mạch máu não, suy
thận, giảm thị giác. Nếu không chữa, dễ bị bệnh hẹp tắc các động mạch tim
khiến tim lâu ngày bị thiếu máu nuôi (ischemic heart disease) gấp 3 lần, dễ
suy tim gấp 6 lần và dễ bị tai biến mạch máu não gấp 7 lần so với người bình
thường”.
(Nguyễn Lân Việt và CS (2012)).
13
2.1.5. Các yếu tố nguy cơ liên quan đến THA:
Theo Hội Tim Mạch Học Quốc Gia Việt Nam, Các yếu tố nguy cơ liên quan
đến THA bao gồm 2 nhóm chính:
* Nhóm yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được: tuổi -giới- tiền sử gia đình:
Tuổi: được tính đến năm đang tiến hành nghiên cứu. Phân nhóm tuổi thường
được chia thành 3 nhóm < 55 tuổi (1), 55 - 65 (2) và > 65 tuổi (3). THA dễ
xảy ra sau tuổi 35.
Sự biến đổi HA theo tuổi:
(Huỳnh Văn Minh và CS (2008))
Kết quả nghiên cứu tại tỉnh Khánh Hòa năm 2007 của Trần Văn Huy cho thấy
tuổi trung bình thường gặp ở bệnh THA là 60, tối thiểu là 40 và tối đa là 90
tuổi
(Trần Văn Huy (2007))
Giới tính và sự liên quan THA: đàn ông dễ THA hơn phụ nữ. Tuy vậy, phụ
nữ, sau khi mãn kinh, cũng dễ THA hơn lúc chưa mãn kinh. Thống kê gần đây
cho thấy sự đe dọa về bệnh động mạch vành ở phụ nữ trước tuổi mãn kinh thấp
hơn hẳn đối với nam giới. Từ tuổi mãn kinh trở đi, ưu điểm này sẽ giảm dần
cho đến mất hẳn. Phụ nữ từ 35 – 44 tuổi ít mắc bệnh động mạch vành hơn nam
từ 6- 7 lần; từ 45 đến 69 tuổi thì ít hơn 3 lần. Sau khoảng 70 – 75 tuổi thì tỉ lệ
này ngang bằng với nam giới
(Isles C (1995))
Đồng thời, “nghiên cứu về sức khỏe của Hội Điều dưỡng chỉ ra rằng, phụ nữ
sử dụng biện pháp tránh thai có nguy cơ mắc THA sau khi đã hiệu chỉnh tuổi
cao hơn 1,5 lần (độ tin cậy 95% 1,2 - 1,8).
(Nguyễn Lân Việt, Phạm Thái Sơn và CS (2012))
Ở nam giới, HA trung bình thường cao hơn so với nữ có cùng độ tuổi. Theo
Nguyễn Lân Việt và cộng sự
: Một nghiên cứu cắt ngang tiến hành trên 278 nữ
tiền mãn kinh thì tỷ lệ THA là 10% và 184 nữ đã mãn kinh có tỷ lệ THA 40%.
Sau khi hiệu chỉnh tuổi và chỉ số khối cơ thể, thì phụ nữ đã mãn kinh có tỷ lệ
phát triển thành THA cao gấp 2,2 lần so với phụ nữ tiền mãn kinh. Giải thích
cho những kết quả này có thể do tăng cân, hoặc sụt giảm estrogen ở phụ nữ
sau mãn kinh. Tuy nhiên, nghiên cứu dọc Framingham đã thất bại trong việc
tìm kiếm mối liên quan có ý nghĩa giữa mãn kinh và THA. Nghiên cứu của tổ
THA. Sự tương đồng về nguy cơ THA có thể do có cùng môi trường sống”.
(Nguồn: Nguyễn Lân Việt, Phạm Thái Sơn và CS (2012))