CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ
2.1 Giới thiệu về ngân hàng bán lẻ (NHBL)
Lâu nay, các ngân hàng thương mại (NHTM) thường chú trọng nhiều hơn
đến các dịch vụ cho khách hàng là công ty, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn trong
các ngành kinh tế mũi nhọn như: các khoản cho vay mở L/C, chiết khấu chứng từ,
tiền gửi thanh toán…từ tiền tỷ, chục tỷ đến hàng trăm tỷ VND. Vì vậy, mảng kinh
doanh này quen thuộc và đáng quan tâm hơn đối với các ngân hàng hơn là các
khoản cho vay nhỏ lẻ mà giá trị chỉ vài triệu đến vài chục triệu VND. Riêng tiền gửi
dân cư thì các ngân hàng có sự quan tâm đúng hơn.
Như vậy, phát triển mảng NHBL chính là sự quan tâm của các ngân hàng
như đã thực hiện đối với mảng tiết kiện dân cư - mảng sản phẩm thuộc tài sản nợ,
nhưng cần được nâng cấp, chuyên môn hóa và phát triển lên cho toàn bộ các mảng
dịch vụ NHBL khác đặc biệt là các sản phẩm thuộc tài sản có như: sản phẩm cho
vay hoặc các sản phẩm dịch vụ thu phí khác như: dịch vụ thẻ, chuyển tiền, kiều
hối…
2.1.1 Khái niệm
Hoạt động ngân hàng bán lẻ là hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính
từ giản đơn đến phức tạp cho mọi tầng lớp cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp vừa
và nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu tiết kiệm, tiêu dùng và vay vốn của các đối tượng
này.
2.1.2 Đặc điểm
Hoạt động ngân hàng bán lẻ có các đặc điểm sau:
- Hoạt động ngân hàng cung cấp các dịch vụ sản phẩm ngân hàng đến trực tiếp đến
khách hàng với số lượng nhỏ, tối đa không quá 15 tỷ đồng (“Hoạt động ngân hàng
buôn bán và thực tiển tại Việt Nam” – Th.S Nguyễn Văn Nguyên,
www.gov.com.vn). Lợi nhuận đối với mỗi giao dịch không nhiều nhưng về tổng thể
thì lớn.
- Do việc ngân hàng cung cấp các dịch vụ tài chính cho nhiều người, phân tán nên
đầu tư ở lĩnh vực này sẽ giảm bớt rủi ro cho ngân hàng.
- Khách hàng của ngân hàng bán lẻ rất đa dạng, nhu cầu tài chính cũng rất đa dạng,
từ tín dụng, thanh toán tới các giao dịch thẻ, séc….Do đó, ngân hàng phải đa dạng
mảng kinh doanh chủ đạo của ngân hàng và hoạt động khá độc lập cũng như đồng
đẳng nhau.
Tóm lại, hoạt động NHBL là các hoạt động giao dịch ngân hàng với khách hàng
cá nhân mà giá trị chỉ từ vài triệu đến vài triệu VND.
2.2 Ngân hàng bán lẻ với hai chức năng Front Office và Back Office
Trong hoạt động NHBL, mối quan hệ giữa hai chức năng này không thể
hiện rõ như trong hoạt động ngân hàng doanh nghiệp, có thể hình dung như sau:
Các cán bộ KHCN chuyên lo việc giới thiệu, quảng bá, tiếp thị, đánh giá
năng lực và cung ứng sản phẩm cho KHCN,…Đây là chức năng của Front Office.
Sau khi KHCN đươc tiếp thị, được nghe giới thiệu và đến với nghân hàng
giao dịch như: gửi/rút tiền, kiều hối, nhờ thu, đổi tiền, chuyể tiền, rút vay vốn, trả
tiền vay,… Thì các bộ phận xử lý các yêu cầu của KHCN là bộ phận của Back
office- Thực chất là các Teller và các cán bộ hậu kiểm.
2.3 Một số sản phẩm ngân hàng bán lẻ
2.3.1 Các sản phẩm cho vay cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ
Cho vay cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ là việc ngân hàng
cung cấp tín dụng cho khách hàng là các cá nhân có nhu cầu vốn cho mục đích tiêu
dùng, mua sắm, sửa chữa nhà ở, đất đai, sản xuất kinh doanh,…
Hoạt động tín dụng cá nhân là một mảng khá quan trọng của hoạt động
ngân hàng bán lẻ nói chung. Hoạt động này được chuyển khai tại Sacombank Cần
Thơ với các lĩnh vực sau:
- Cho vay tiêu dùng
- Cho vay cán bộ - công nhân viên
- Cho vay bất động sản
- Cho vay tiểu thương (cho vay góp chợ)
- Cho vay sản xuất kinh doanh (SXKD) – khách hàng cá nhân (cho vay cá thể
SXKD)
- Cho vay nông nghiệp
- Cho vay cầm cố số tiền gửi (cho vay thế chấp sổ)
Bên cạnh những nét đặc thù riêng đối với mỗi hình thức cho vay thì đa số mỗi
- Do quy mô các khoản vay thường nhỏ nên dẫn đến chi phí để cho vay cao, lãi suất
cho vay tiêu dùng thường cao hơn cho vay thương mại.
- Nguồn trả nợ của khách hàng được trích từ thu nhập của khách hàng, không nhất
thiết phải từ kết quả của các khoản vay đó. Những khách hàng có việc làm, mức thu
nhập ổn định, trình độ học vấn là những tiêu chí quan trọng để ngân hàng quyết định
cho vay.
- Mức cho vay tối đa không quá 100 triệu
- Thời hạn cho vay tối đa là 36 tháng
2.3.1.2 Cho vay cán bộ - công nhân viên (CB –CNV)
a) Khái niệm
Cho vay CB – CNV là hình thức tín dụng được ngân hàng mới triển khai
trong những năm gần đây, là một trong những lĩnh vực thuộc hoạt động tín dụng cá
nhân với những nét cơ bản sau:
- Đối tượng sử dụng: gồm các cá nhân là CB – CNV đang công tác tại các đơn vị
sau:
+ Các cơ quan hành chính sự nghiệp; Cơ quan bảo vệ pháp luật từ cấp quận, huyện,
thị xã trở lên; các trường học, bệnh viện và các đoàn thể khác.
+ Các do Nhà nước (DNNN); Các công ty cổ phần hoạt động ổn định và hiệu quả.
+ Cán bộ - công nhân viên đang công tác tại Sacombank
- Cho vay theo dạng tín chấp, tối đa là 15 triệu
- Thời hạn cho vay tối đa là 36 tháng
Để đủ điều kiện vay vốn, khách hàng phải được Chủ tịch Công đoàn xác
nhận mục đích vay vốn, được Thủ trưởng đơn vị xác định mức lương, thâm niên
công tác, cam kết trích trả nợ và có ít nhất 3 năm công tác liên tục tại đơn vị.
2.3.1.3 Cho vay bất động sản
a) Khái niệm
Cho vay bất động sản là việc ngân hàng trợ vốn cho khách hàng nhằm bổ
phần vốn thiếu trong xây dựng, sữa chữa, nâng cấp nhà, trả tiền mua bất động sản.
b) Đặc điểm
Cho vay bất động sản có một số đặc điểm như sau: