Thực trạng đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân Hàng
TMCP các Doanh nghiệp ngoài Quốc Doanh ( VPBank)
I. Giới thiệu chung về Ngân Hàng VPBank
1.Quá trình hình thành và phát triển của Ngân Hàng:
- Tên Ngân hàng : Ngân hàng Thương mại Cổ phần các Doanh nghiệp Ngoài
quốc doanh Việt Nam
- Tên Tiếng Viết tắt : VPBANK.
- Tên tiếng Anh: Vietnam Commercial Joint-stock Bank for Private
Enterprises
- Trụ sở chính: Phòng giao dịch Hồ Gươm. số 8 Lê Thái Tổ.
Ngân hàng VPBank được thành lập theo Giấy phép hoạt động số 0042/NH-GP
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 12 tháng 8 năm 1993
với thời gian hoạt động 99 năm. Ngân hàng bắt đầu hoạt động từ ngày 04 tháng
9 năm 1993 theo Giấy phép thành lập số 1535/QĐ-UB ngày 04 tháng 09 năm
1993.
Các chức năng hoạt động chủ yếu của VPBank bao gồm: Huy động vốn ngắn
hạn, trung hạn và dài hạn, từ các tổ chức kinh tế và dân cư; Cho vay vốn ngắn hạn,
trung hạn và dài hạn đối với các tổ chức kinh tế và dân cư từ khả năng nguồn vốn
của ngân hàng; Kinh doanh ngoại hối; chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và các
chứng từ có giá khác; Cung cấp các dịch vụ giao dịch giữa các khách hàng và các
dịch vụ ngân hàng khác theo quy định của NHNN Việt Nam.
Vốn điều lệ ban đầu khi mới thành lập là 20 tỷ VND. Sau đó, do nhu cầu phát
triển, theo thời gian VPBank đã nhiều lần tăng vốn điều lệ. Đến tháng 8/2006, vốn
điều lệ của VPBank đạt 500 tỷ đồng. Tháng 9/2006, VPBank nhận được chấp
thuận của NHNN cho phép bán 10% vốn cổ phần cho cổ đông chiến lược nước
ngoài là Ngân hàng OCBC - một Ngân hàng lớn nhất Singapore, theo đó vốn điều
lệ sẽ được nâng lên trên 750 tỷ đồng. Tiếp theo, đến cuối năm 2006, vốn điều lệ
của VPBank sẽ tăng lên trên 1.000 tỷ đồng. Và hiện nay vốn điều lệ của VPBank
đã tăng lên 1.500 tỷ đồng vào tháng 7/2007.
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, VPBank luôn chú ý đến việc mở
rộng quy mô, tăng cường mạng lưới hoạt động tại các thành phố lớn. Cuối năm
lên 50 chi nhánh và phòng giao dịch. Hiện tại VPBank đã có 90 Chi nhánh và
Phòng giao dịch hoạt động tại 34 tỉnh, thành trên cả nước.
Số lượng nhân viên của VPBank trên toàn hệ thống tính đến nay có trên 2.600
người, trong đó phần lớn là các cán bộ, nhân viên có trình độ đại học và trên đại
học (chiếm 87%). Nhận thức được chất lượng đội ngũ nhân viên chính là sức mạnh
của ngân hàng, giúp VPBank sẵn sàng đương đầu được với cạnh tranh, nhất là
trong giai đoạn đầy thử thách sắp tới khi Việt Nam bước vào hội nhập kinh tế quốc
tế. Chính vì vậy, những năm vừa qua VPBank luôn quan tâm nâng cao chất lượng
công tác quản trị nhân sự.
Đại hội cổ đông năm 2005 được tổ chức vào cuối tháng 3/2006, một lần nữa,
VPBank khẳng định kiên trì thực hiện chiến lược ngân hàng bán lẻ. Phấn đấu trong
một vài năm tới trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu khu vực phía Bắc và nằm
trong nhóm 5 Ngân hàng dẫn đầu các Ngân hàng TMCP trong cả nước.
2. Cơ cấu tổ chức của ngân Hàng VPBank:
Theo quyết định số 481/2002/QĐ-HĐQT về việc ban hành quy chế tổ chức và
hoạt động của các chi nhánh VPBank, Ngân hàng thương mại cổ phần ngoài quốc
doanh là 1 pháp nhân duy nhất bao gồm:
• Hội sở, các chi nhánh cấp 1, và các văn phòng đại diện.
• Các chi nhánh cấp II trực thuộc các chi nhánh cấp I.
• Các chi nhánh cấp III trực thuộc các chi nhánh cấp II.
• Các phòng giao dịch trực thuộc chi nhánh.
ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN KIỂM SOÁT
P. kiểm toán nội bộ
Các ban tín dụng
Phòng Thanh toán quốc tế Kiều hối
Phòng Pháp chế
Văn phòng
Trung tâm Western Union
hảo là thị trường cạnh tranh có quá nhiều người bán và quá nhiều người mua
cùng một hang hóa đồng nhất đến mức không ai có thể ảnh hưởng tới giá cả
thị trường. Nếu có ít nhất người bán lớn đến mức có thể ảnh hưởng tới giá cả thị
trường thì xuất hiện cạnh tranh không hoàn hảo ( tình trạng độc quyền).Độc
quyền được biểu hiện dưới các dạng : độc quyền tuyệt đối (Monopoly ) Khi một
ngành chỉ có một nhà cung cấp. Độc quyền mua (Monopsony) Khi chỉ duy nhất
có một nhà tiêu thụ ; Độc quyền Nhóm (Một ngành do một số ít nhà cung cấp
chi phối) . hay là một dạng đặc biệt trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Chủ
nghĩa tư bản độc quyền nhà nước.(Sự câu kết giữa nhóm tài phiệt tư bản với nhà
nước tư bản).
Khả năng cạnh tranh của ngân hang được đánh giá như một chỉ tiêu tổng
hợp phản ánh khả năng kết hợp các lợi thế cạnh tranh mà ngân hang đang có để
biến đổi thành những công cụ hữu hiệu trong việc khẳng định vị trí của Ngân
hang trên thị trường.
Cùng với khái niệm cạnh tranh thì “ lợi thế cạnh tranh ” đã trở thành một nội
dung quan trọng với bất cứ cá nhân hay tổ chức nào hoạt động trong nền kinh tế.
Theo từ điển doanh nhân của nhà xuất bản Longman “ Lợi thế cạnh tranh là một
khía cạnh của một sản phẩm hay một dịch vụ do một công ty cung cấp đã mang lại
lợi thế cho công ty đó so với các đối thủ khác.” Nhưng theo Michael Porter .Một
nhà nghiên cứu kinh tế chuyên sâu về cạnh tranh thì về cơ bản lợi thế cạnh tranh
phát triển dựa vào những sản phẩm mà công ty có thể cung cấp cho người mua có
giá trị cao hơn chi phí công ty phải chịu để tạo ra được sản phẩm đó. Giá trị của
sản phẩm là thứ mà người mua sẵn sang trả tiền. và lợi nhuận tăng them từ xuất
phát của việc mời chào giá cả thấp hơn của đối thủ cạnh tranh để giành được lợi
nhuận tương đương hoặc cung cấp những dịch vụ duy nhất có lợi ích lớn hơn, đủ
để bù đắp cho giá thành cao hơn . Như vậy , có hai hình thức cơ bản của lợi thế
cạnh tranh là : Dẫn đầu về Giá và sự phân biệt
2.Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của một Doanh Nghiệp:
2.1 Thị Phần:
Các doanh Nghiệp cạnh tranh với nhau mà một trong những kết quả của
phản ánh một cách chính xác và đầy đủ, chi tiết, cung cấp cho chúng ta những
nhận xét thấu đáo hơn về hoạt động của một Doanh nghiệp trong tương lai.
2.4 Chất lượng sản phẩm:
Trong môi trường phát triển kinh tế hội nhập ngày nay, cạnh tranh trở thành
một yếu tố mang tính quốc tế đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển
của mỗi doanh nghiệp. Chất lượng sản phẩm trở thành một trong những chiến lược
quan trọng nhất làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chấp nhận kinh tế
thị trường nghĩa là chấp nhận cạnh tranh, chịu tác động của quy luật cạnh tranh.
Sản phẩm, dịch vụ muốn có tính cạnh tranh cao thì chúng phải đạt được những
mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng, của xã hội về mọi mặt một cách
kinh tế nhất (sản phẩm có chất lượng cao, giá rẻ). Với chính sách mở cửa, tự do
thương mại, các nhà sản xuất kinh doanh muốn tồn tại thì sản phẩm, dịch vụ của họ
phải có tính cạnh tranh cao, nghĩa là doanh nghiệp phải có khả năng cạnh tranh về
nhiều mặt.
Quan tâm đến chất lượng, quản lý chất lượng chính là một trong những phương
thức tiếp cận và tìm cách đạt được những thắng lơi trong sự cạnh tranh gay gắt trên
thương trường nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Chất lượng
sản phẩm làm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp vì:
Tạo ra sức hấp dẫn thu hút người mua: Mỗi sản phẩm có rất nhiều các thuộc
tính chất lượng khác nhau. Các thuộc tính này được coi là một trong những yếu tố
cơ bản tạo nên lợi thế cạnh tranh của mối doanh nghiêp. Khách hàng quyết định
lựa chọn mua hàng vào những sản phẩm có thuộc tính phù hợp với sở thích, nhu
cầu và khả năng, điều kiện sử dụng của mình. Họ so sánh các sản phẩm cùng loại
và lựa chọn loại hàng n ào có những thuộc tính kinh tế - kỹ thuật thỏa mãn những
mong đợi của họ ở mức cao hơn. Bởi vậy sản phẩm có các thuộc tính chất lượng
cao là một trong nhữngcăn cứ quan trọng cho quyết định mua hàng và nâng cao
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Nâng cao vị thế, sự phát triển lâu dài cho doanh nghiêp trện thị trường: Khi sản
phẩm chất lượng cao, ổn định đáp ứng được nhu cầu của khách hàng sẽ tạo ra một
biểu tượng tốt, tạo ra niềm tin cho khách hàng vào nhãn mác của sản phẩm. Nhờ
2.7 Áp dụng khoa học công nghê:
Khi mà cơ chế là như nhau, lợi ích, và sản phẩm đem đến cho các khách hàng
là như nhau thì công nghệ được nhiều người nhìn nhận sẽ trở thành yếu tố then
chốt trong cuộc chạy đua giữa các Doanh nghiệp trong "hành trình" tìm kiếm sự
ủng hộ của những người sử dụng sản phẩm . Một DN đi đầu về công nghệ tiên
phong cho một loại sản phẩm mới nào đó thì DN đó là người có doanh thu và lợi
nhuận cao nhất khi nắm trong tay công nghệ mới . và sẽ là yếu tố thúc đẩy các DN
khác cạnh tranh trong cuộc chạy đua công nghệ sản phẩm mới. Chính vì vậy công
nghệ cũng là yếu tố then chốt để các DN cạnh tranh với nhau .
3.Đầu tư Nâng cao năng lực cạnh tranh của một Ngân Hàng:
3.1. Tính đặc thù trong cạnh tranh của các ngân hàng thương mại (NHTM)
Cạnh tranh là một hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường, chỉ xuất hiện
trong điều kiện của kinh tế thị trường. Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới
đều thừa nhận cạnh tranh là môi trường tạo động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh
(KD) phát triển và tăng năng suất lao động, hiệu quả của các tổ chức, là nhân tố
quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội. Kết quả cạnh tranh sẽ xác định
vị thế, quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của mỗi tổ chức. Vì vậy, các tổ
chức đều cố gắng tìm cho mình một chiến lược phù hợp để chiến thắng trong cạnh
tranh.
KD trong lĩnh vực tiền tệ là lĩnh vực KD rất nhạy cảm, chịu tác động bởi rất
nhiều nhân tố về kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý, truyền thống văn hoá… mỗi một
nhân tố này có sự thay đổi dù là nhỏ nhất cũng đều tác động rất nhanh chóng và
mạnh mẽ đến môi trường KD chung. Chẳng hạn: Chỉ cần một tin đồn thổi dù là
thất thiệt cũng có thể gây nên cơn chấn động rất lớn, thậm chí đe dọa sự tồn vong
của cả hệ thống các tổ chức tín dụng. Một NHTM hoạt động yếu kém, khả năng
thanh khoản thấp cũng có thể trở thành gánh nặng cho nhiều tổ chức kinh tế và dân
chúng trên địa bàn… Chính vì vậy, trong KD, các NHTM vừa phải cạnh tranh để
từng bước mở rộng KH, mở rộng thị phần, nhưng cũng không thể cạnh tranh bằng
mọi giá, sử dụng mọi thủ đoạn, bất chấp pháp luật để thôn tính đối thủ của mình,
bởi vì, nếu đối thủ là các NHTM khác bị suy yếu dẫn đến sụp đổ, thì những hậu
chỉnh bởi rất nhiều thông lệ, tập quán KD tiền tệ của các nước, sự cạnh tranh trước
hết phải dựa trên nền tảng kỹ thuật công nghệ đáp ứng được yêu cầu của hoạt động
KD tối thiểu; bởi vì, một NHTM mở ra một loại hình DV cung ứng cho KH là đã
phải chấp nhận cạnh tranh với các NHTM khác đang hoạt động trong cùng lĩnh
vực, tuy nhiên, muốn lĩnh vực DV này được thực hiện thì đòi hỏi phải đáp ứng tối
thiểu về điều kiện hạ tầng cơ sở tài chính mà thiếu nó thì không thể hoạt động
được. Rõ ràng là, sự cạnh tranh của các NHTM loại hình cạnh tranh bậc cao, đòi
hỏi những chuẩn mực khắt khe hơn bất cứ loại hình KD nào khác.
3.2. Các nhân tố tác động đến cạnh tranh của các NHTM:
Nhóm nhân tố khách quan.
Có 4 lực lượng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của một NHTM, đây là
những nhân tố khách quan và có thể được mô tả qua sơ đồ 1.1 dưới đây
* Tác nhân từ phía NHTM mới tham gia thị trường. Các NHTM mới tham
gia thị trường với những lợi thế quan trọng như:
- Mở ra những tiềm năng mới;
- Có động cơ và ước vọng giành được thị phần;
- Đã tham khảo kinh nghiệm từ những NHTM đang hoạt động;
- Có được những thống kê đầy đủ và dự báo về thị trường… Như vậy, bất kể
thực lực của NHTM mới là thế nào, thì các NHTM hiện tại đã thấy một mối đe
dọa về khả năng thị phần bị chia sẻ; ngoài ra, các NHTM mới có những kế
sách và sức mạnh mà các NHTM hiện tại chưa thể có thông tin và chiến lược
ứng phó.
*Tác nhân là các đối thủ NHTM hiện tại. Đây là những mối lo thường trực
của các NHTM trong KD. Đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng đến chiến lược hoạt động
KD của NHTM trong tương lai. Ngoài ra, sự có mặt của các đối thủ cạnh tranh
thúc đẩy ngân hàng (NH) phải thường xuyên quan tâm đổi mới công nghệ, nâng
cao chất lượng các DV cung ứng để chiến thắng trong cạnh tranh.
* Sức ép từ phía KH. Một trong những đặc điểm quan trọng của ngành NH
là tất cả các cá nhân, tổ chức KD sản xuất hay tiêu dùng, thậm chí là các NH khác
cũng đều có thể vừa là người mua các sản phẩm (SP) DVNH, vừa là người bán
NHTM bị chi phối bởi các đặc điểm hoạt động KD của nó. SP chính sử dụng trong
hoạt động KD của NHTM là tiền, đó là loại SP có tính xã hội và tính nhạy cảm
cao, chỉ một biến động nhỏ (thay đổi lãi suất) cũng có ảnh hưởng to lớn đến hoạt
động KD của các NHTM nói riêng và hoạt động của toàn xã hội nói chung. Từ đặc
điểm này dẫn đến cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng trở nên quyết liệt. Cạnh
tranh giữa các NHTM là nỗ lực hoạt động đồng bộ của NH trong một lĩnh vực khi
cung ứng cho KH những SP DV có chất lượng cao nhằm khẳng định vị trí của NH
vượt lên khỏi các NH khác trong cùng lĩnh vực hoạt động ấy. Có nghĩa là, chính vì
SPKD có tính nhạy cảm cao đã làm tăng tính cạnh tranh trong hoạt động KD của
NHTM.
Về đặc điểm của Khách Hàng. Khách Hàng của NHTM không phải là
Khách Hàng luôn “trung thành” mà rất dễ bị lôi kéo và thay đổi quan hệ giao dịch.
Mức độ trung thành của Khách Hàng phụ thuộc vào sự đối xử của NHTM với họ,
mà cao nhất là lợi ích trực tiếp thu được từ quan hệ giao dịch với NH. KH có thể
ngay lập tức thay đổi quan hệ với NH để tìm mối lợi lớn hơn nếu họ biết rằng mức
lãi mà họ nhận được cao (nếu là SP bán) và mức lãi suất thấp (nếu là SP mua) so
với NH họ quan hệ. Như vậy, sự cạnh tranh của NH cũng được nhân lên do đặc
điểm KH rất dễ thay đổi quan hệ với NH.
Các đặc điểm nêu trên được coi là các nhân tố về phía NHTM tạo nên tính
cạnh tranh cao của KDNH, từ đó góp phần tạo sức mạnh nội lực cho NHTM. Nếu
một NH có thể phát huy tối đa sức mạnh của các yếu tố trên, kết hợp với việc nắm
bắt thông tin về các đối thủ mới gia nhập, thận trọng với các đối thủ hiện tại, đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao thì cạnh tranh không phải là điều đáng lo ngại.
3.3. Các công cụ cạnh tranh của NHTM:
Cạnh tranh bằng chất lượng
Trong nền kinh tế hiện đại ngày nay, khi mà khoa học công nghệ phát triển
như vũ bão, sản phẩm ra đời ngày càng phong phú đa dạng, tạo thuận lợi cho sự
lựa chọn của người tiêu dùng và đặt nhà sản xuất trước các áp lực cạnh tranh ngày
càng gay gắt và để chiến thắng trong cạnh tranh thì buộc các nhà sản xuất phải
nghiên cứu vận dụng nhiều phương thức và công cụ cạnh tranh khác nhau. Một
chiếm lĩnh thị trường. Lãi suất và phí là tín hiệu phản ánh tình hình biến động của
thị trường, là thông số qua đó các NHTM có thể nắm bắt được khả năng thanh
toán của KH cũng như khả năng cạnh tranh của các đối thủ trên thương trường.
Do vậy, việc xác định lãi suất trên thị trường là quan trọng, song theo dõi thông tin
phản hồi từ khách hàng là rất cần thiết để NHTM đưa ra mức lãi suất và phí có tính
cạnh tranh. Đôi khi lãi suất và phí mà các NHTM xác định chỉ thu được lợi nhuận
nhỏ, hoà vốn thậm chí chịu thua lỗ tạm thời. Khi thực sự chiếm lĩnh thị trường,
cũng là lúc NHTM lấy lại những gì đã chi phí trong cạnh tranh.
Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối
Tổ chức hoạt động tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình kinh
doanh. Tổ chức tiêu thụ sản phẩm chính là hình thức cạnh tranh phi giá cả và gây
ra sự chú ý và thu hút khách hàng. Sản phẩm DV của NH có một trong những đặc
tính là nhanh tàn lụi, không thể lưu trữ, nên việc xây dựng các kênh phân phối
(mạng lưới bán hàng) trở thành một vấn đề hết sức trọng yếu trong kinh doanh ở
các NH. Kênh phân phối là phương tiện trực tiếp đưa sản phẩm DV của NH đến
KH, đồng thời giúp NH nắm bắt chính xác và kịp thời nhu cầu của KH, qua đó,
NH chủ động trong việc cải tiến, hoàn thiện sản phẩm DV, tạo điều kiện thuận lợi
trong việc cung cấp sản phẩm DV cho KH.
Để mở rộng thị phần bán lẻ, các NH phát triển các hình thức phân phối
cùng nhiều tiện ích:
* Kênh phân phối truyền thống. Bao gồm: (1) Hệ thống các Chi nhánh; (2)
NH Đại lý (Thường được áp dụng đối với các NHTM chưa có chi nhánh).
* Kênh phân phối hiện đại. Trước năm 1950, các NH thường phát triển
mạnh mẽ mạng lưới chi nhánh để mở rộng thị phần và gây sức ép lên các đối thủ
cạnh tranh. Tuy nhiên, từ năm 1980 trở lại đây, các kênh phân phối hiện đại với ưu
thế về nhiều mặt đang dần trở thành xu hướng chung. Bao gồm:
(1) Các chi nhánh tự động hoá hoàn toàn. Đặc điểm của kênh phân phối này
là hoàn toàn do máy móc thực hiện, dưới sự điều khiển của các thiết bị điện tử. Nó
có những ưu thế to lớn về chi phí giao dịch và tốc độ thực hiện nghiệp vụ, đáp ứng
nhu cầu ngày càng đa dạng của KH.
sở kỹ thuật công nghệ hiện đại thì các NHTM mới có điều kiện triển khai các loại
hình DV mới, mở rộng đối tượng và phạm vi KH. Công nghệ thông tin cho phép
các NHTM nắm bắt cập nhật và đầy đủ các thông tin từ phía KH, cho phép giảm
thiểu rủi ro từ lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Công nghệ hiện đại cũng cho
phép các NHTM giảm chi phí, giảm thời gian trong giao dịch, tăng độ an toàn cho
KH - đây vốn là những yêu cầu bắt buộc trong KD của các NHTM.
Các Website của ngành NH được ví như trung tâm thông tin, các chi nhánh
phân phối ở mọi lúc, mọi nơi, KH có thể truy cập để tìm hiểu, lấy thông tin về các
DV cung cấp, phía NH cũng có thể tiếp cận với KH nhanh chóng và có hiệu quả.
Thứ hai, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong hệ thống hoạt động
NH, rủi ro luôn tiềm ẩn do tất cả các khâu, các công đoạn trong KD của NHTM
đều gắn liền với sự vận động của vốn tiền tệ. Để giảm thiểu rủi ro thì một trong
những yêu cầu bắt buộc là nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho tất cả các
cán bộ, nhân viên trong các NHTM, không chỉ là trình độ chuyên môn nghiệp vụ
tài chính - NH, mà còn đòi hỏi nâng cao trình độ kinh tế tổng hợp, bởi vì, có như
vậy thì các NHTM mới tư vấn cho KH của mình các định hướng đầu tư vốn hiệu
quả, đồng thời qua đó mới thẩm định chính xác các dự án đầu tư tín dụng.
Thứ ba, tăng năng lực tài chính, trong đó quan trọng nhất là vốn điều lệ.
Vốn điều lệ của NHTM được xem là chiếc “đệm” để đối phó có hiệu quả với các
cú sốc từ bên ngoài, bảo đảm một sự an toàn trong KDNH. Nếu vốn điều lệ quá
thấp sẽ khiến các NHTM hoạt động luôn bị bất cập, bởi vì sẽ bị hạn chế trong mở
rộng thị phần cho vay và huy động vốn, sẽ bị hạn chế trong mở các chi nhánh,
phòng giao dịch, và do vậy, sẽ khó có cơ hội ngày càng tiến gần hơn đến các KH
mục tiêu và trên tất cả thì điều này đồng nghĩa với một sự thua kém, bất lợi về khả
năng cạnh tranh. Tuy nhiên, tăng vốn điều lệ bằng cách nào và đạt đến qui mô nào
là tối ưu? Đây luôn là vấn đề không đơn giản, nhất là đối với các NHTM ở các
nước đang phát triển, đang trong quá trình chuyển đổi. Về nguyên tắc, các NHTM
có thể tăng vốn thông qua các kênh: (1) Tăng vốn Ngân sách Nhà nước cấp (đối
với các NHTM nhà nước); (2) Cổ phần hóa NHTM Nhà nước; (3) Phát hành thêm
cổ phiếu mới (đối với các NHTMCP); (4) Sáp nhập, hợp nhất các NHTM. Tuy
hoạt động của ngân hàng. Vốn điều lệ cao sẽ giúp NH tạo được uy tín trên thị
trường và tạo lòng tin với công chúng. Vốn tự có thấp đồng nghĩa với sức cạnh
tranh tài chính yếu và khả năng chống đỡ rủi ro của NH thấp. Theo quy định của
ủy ban Bassel. Vốn tự có của NHTM phải đạt tối thiểu 8% trên tổng tài sản rủi ro
chuyển đổi của NH đó. Đó là điều kiện đảm bảo hoạt động kinh doanh của NH.
*Quy mô và khả năng huy động vốn:
Khả năng huy động vốn là một trong những tiêu chí đánh giá tình hình hoạt động
kinh doanh của NH, Khả năng huy động vốn có thể tính bằng hiệu quả, năng lực va
uy tín của NH đó trên thị trường. Khả năng huy động vốn cũng có nghĩa là N đó sử
dụng các sản phẩm dịch vụ hay công cụ huy động vốn có hiệu quả.
*khả năng thanh khoản:
Theo chuẩn mực quốc tế thì khả năng thanh toán của NH thể hiện qua tỷ lệ giữa tài
sản “có” có thể thanh toán ngay và tài sản “nợ”phải thanh toán ngay. Chỉ tiêu đo
lường khả năng NH có thể đáp ứng được nhu cầu tiền mặt của người tiêu dung.
Khi nhu cầu tiền mặt của người gửi bị giới hạn thì uy tín của NH đó bị giảm 1 cách
đáng kể. kết quả là NHTM sẽ bị phá sản nếu điều đó xảy ra.
*khả năng sinh lời:
Khả năng sinh lời là thước đo đánh giá tình hình KD của NHTM. Mức sinh lời
được phân tích qua thông số sau
ROE =
Thu Nhập sau thuế
Vốn chủ sở hữu
( Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu)
ROE: thể hiện tỷ lệ thu nhập của một đồng vốn chủ sở hữu.
ROA =
Thu nhập sau thuế
Tổng tài sản