Phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch ở quảng ninh - Pdf 63

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Ngô Quang Duy

PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA
TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 9319042

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Hà Nội - 2020


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Ngô Quang Duy

PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA
TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 9319042


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT........................................................................................................ iii
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ............................................................................................................ iv
MỞ ĐẦU................................................................................................................................................... 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ
PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH...............9

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu....................................................................................... 9
1.2. Cơ sở lý luận về phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch. 30
Chương 2. ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA
TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở QUẢNG NINH........................................................... 57

2.1. Tổng quan về di sản văn hóa Quảng Ninh và thực trạng phát triển du lịch
Quảng Ninh........................................................................................................................................ 57
2.2. Đánh giá khả năng và thực trạng phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát

triển du lịch ở Quảng Ninh......................................................................................................... 72
2.3. Đánh giá chung về thực trạng phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát
triển du lịch ở Quảng Ninh...................................................................................................... 100
Chương 3. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA TRONG

PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở QUẢNG NINH........................................................................... 107

3.1. Căn cứ đề xuất giải pháp phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển
du lịch................................................................................................................................................. 107
3.2. Đề xuất nhóm giải pháp về tổ chức quản lý di sản văn hóa trong phát triển
du lịch ở Quảng Ninh................................................................................................................. 114
3.3. Đề xuất nhóm giải pháp phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du
lịch ở Quảng Ninh........................................................................................................................ 124
KẾT LUẬN......................................................................................................................................... 145
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ .. 147


: Di sản văn hóa phi vật thể

HDV

: Hướng dẫn viên

HTX

: Hợp tác xã

ICOMOS

: Hội đồng Di tích và Di chỉ Quốc tế

LVThS

: Luận văn thạc sĩ

LATS

: Luận án tiến sĩ

NCS

: Nghiên cứu sinh

Nxb

: Nhà xuất bản

Bảng 1.1. Bảng phân hạng nhóm chỉ tiêu cấp 1.............................................................. 51
Bảng 1.2. Bảng đánh giá khả năng thu hút du khách của điểm có DSVH........51
Bảng 1.3. Bảng phân hạng nhóm chỉ tiêu cấp 2.............................................................. 54
Bảng 1.4. Bảng đánh giá khả năng cung ứng của điểm du lịch có DSVH.......54
Bảng 1.5. Bảng tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá khả năng khai thác du lịch tại
điểm du lịch có di sản văn hóa................................................................................................. 55
Bảng 1.6. Bảng đánh giá khả năng khai thác du lịch của điểm du lịch có di sản
văn hóa.................................................................................................................................................. 55
Bảng 2.1. Bảng tổng hợp điểm nhóm chỉ tiêu cấp 1 của Quần thể di tích và danh

thắng Yên Tử..................................................................................................................................... 77
Bảng 2.2. Bảng tổng hợp điểm nhóm chỉ tiêu cấp 1 của Vùng văn hóa Hạ Long .. 84

Bảng 2.3. Bảng tổng hợp điểm nhóm chỉ tiêu cấp 2 của Quần thể di tích và danh

thắng Yên Tử..................................................................................................................................... 91
Bảng 2.4. Bảng tổng hợp điểm nhóm chỉ tiêu cấp 2 của Vùng văn hóa Hạ Long
................................................................................................................................................................... 98
Bảng 2.5. Bảng tổng hợp điểm các chỉ tiêu đánh giá khả năng khai thác du lịch

của Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử...................................................................... 99
Bảng 2.6. Bảng tổng hợp điểm các chỉ tiêu đánh giá khả năng khai thác du lịch

của Vùng văn hóa Hạ Long....................................................................................................... 99
Sơ đồ 1: Vị trí di tích khảo cổ hang Bồ Nâu..................................................................... 64
Sơ đồ 2: Vị trí di tích khảo cổ hang Trống......................................................................... 65
Sơ đồ 3. Vị trí di tích khảo cổ động Mê Cung................................................................. 67


1


2

cộng đồng. Sản phẩm du lịch di sản văn hóa là yếu tố tạo nên nét khác biệt cho hệ
thống sản phẩm du lịch Việt Nam, kết nối và đa dạng hóa các tours, tuyến du lịch.
Ở vị trí địa đầu của Tổ quốc, Quảng Ninh có lợi thế nổi bật về tài nguyên du
lịch phong phú, độc đáo và hấp dẫn du khách không chỉ bởi Di sản thiên nhiên thế
giới Vịnh Hạ Long được du khách năm châu biết đến với hai lần được UNESCO
vinh danh các giá trị ngoại hạng về thẩm mỹ, giá trị địa chất – địa mạo mà Quảng
Ninh còn hấp dẫn du khách bởi giá trị văn hóa chứa đựng bên trong di sản thiên
nhiên ấy cùng hệ thống nhiều di sản văn hóa khác mà điển hình như quần thể di tích
và danh thắng Yên Tử và chính con người nơi đây. Là vùng đất cổ, Quảng Ninh
được xem như một trong những cái nôi của văn hoá Việt Nam. Các di chỉ khảo cổ
học, các thư tịch cổ sưu tầm được đã minh chứng rõ điều này. Quảng Ninh có hơn
20 dân tộc sinh sống, mỗi dân tộc là một nét văn hoá riêng biệt. Lịch sử phát triển
đã mang lại cho Quảng Ninh kho tàng các di tích lịch sử - văn hoá, các kiến trúc độc
đáo; phong tục, tập quán, tín ngưỡng, vốn văn hoá dân gian và một số hệ thống lễ
hội dân gian đặc sắc [133]. Tất cả đã tạo nên sự phong phú, đa dạng đậm bản sắc
văn hóa của vùng đất, vùng biển địa đầu Đông Bắc đất nước.
Tuy nhiên, trong những năm vừa qua du lịch Quảng Ninh hầu như mới chỉ
dừng lại ở việc phát huy giá trị các tài nguyên tự nhiên để phát triển sản phẩm du
lịch. Rất nhiều các giá trị DSVH dường như còn bị bỏ ngỏ, nên sản phẩm du lịch
chưa phong phú, chưa thực sự hấp dẫn và giữ chân được du khách. Các sản phẩm
du lịch, đặc biệt là những sản phẩm du lịch đặc thù với hàm lượng văn hóa cao chưa
được quan tâm đầy đủ với những luận chứng khoa học thuyết phục. Đây là một
trong những nguyên nhân quan trọng làm cho du lịch Quảng Ninh phát triển chưa
tương xứng với tiềm năng và chưa đóng góp tích cực, hiệu quả cao cho phát triển
kinh tế - xã hội, phát triển du lịch của Quảng Ninh và cả nước như kỳ vọng.
Mong muốn đưa Quảng Ninh trở thành một trung tâm du lịch tầm cỡ khu vực và
thế giới, trung tâm du lịch chất lượng cao của khu vực có đẳng cấp ở châu lục vào năm

DSVH trong phát triển du lịch.
-

Phân tích và đánh giá thực trạng phát huy giá trị DSVH trong phát triển du

lịch ở một số địa bàn điển hình tại tỉnh Quảng Ninh, từ đó làm rõ bức tranh phát huy
giá trị DSVH trong phát triển du lịch toàn tỉnh.


4

- Đề xuất giải pháp nhằm phát huy giá trị DSVH ở Quảng Ninh trong phát
triển du lịch.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là việc phát huy giá trị các DSVH có
ý nghĩa trong phát triển du lịch ở Quảng Ninh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Nghiên cứu toàn diện nội hàm phát huy giá trị DSVH
trong phát triển du lịch với lựa chọn khảo sát hai trường hợp đặc thù: quần thể di
tích và danh thắng Yên Tử và vùng văn hóa Hạ Long.
Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các DSVH ở Quảng Ninh
với hai trường hợp điển hình là quần thể di tích và danh thắng Yên Tử và vùng văn
hóa Hạ Long (Khảo sát thực tế trên vịnh Hạ Long gồm 3 địa điểm: hang Trống,
hang Bồ Nâu, động Mê Cung) bởi đây là những DSVH tiêu biểu của tỉnh, góp phần
tạo dựng bức tranh tổng thể phát huy DSVH trong phát triển du lịch ở Quảng Ninh.
Phạm vi thời gian: Các nghiên cứu hiện trạng tập trung trong thời gian từ 2011 –
2018; Đề xuất giải pháp và kiến nghị của luận án hướng đến dự báo cho 2025, tầm nhìn
2030 phù hợp với giai đoạn phát triển đề ra trong văn bản từ trung ương đến địa phương.


thuyết về đánh giá tài nguyên du lịch; và DSVH ở Quảng Ninh. Các nguồn tài liệu
cung cấp cho 4 chủ đề trên được tập hợp qua cả 2 nguồn sơ cấp và thứ cấp.
2) Phương pháp quan sát tham dự: Phương pháp này được áp dụng tại các điểm
khảo sát thực tế là quần thể di tích và danh thắng Yên Tử và vùng văn hóa Hạ Long.
Ngoài khảo cứu tình trạng tại chỗ của di sản, NCS còn tiến hành khảo cứu thực tế trên
toàn bộ chuyến đi với các đối tượng quan sát trực tiếp như: hệ thống đường giao thông,
phương tiện di chuyển, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tại Quảng Ninh,
hoạt động của du khách tại các điểm di sản. NCS cũng tiến hành tham gia trực tiếp vào
hoạt động du lịch trong vai trò là du khách để quan sát hoạt động tiếp đón phục vụ của
những người làm du lịch tại các điểm khảo sát… Phương pháp này được áp dụng để
ghi chép, sao chụp, quan sát thực tế, thu thập dữ liệu thực tế về đặc điểm của đối tượng
nghiên cứu và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch.
3)

Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp này được áp dụng để thu thập

các dữ liệu chuyên sâu và mang tính chất định tính như tình hình quản lý DSVH ở


6

địa bàn, các chủ trương phát triển du lịch của địa phương, mong muốn và kỳ vọng
của cộng đồng trong hoạt động du lịch. Đối tượng mà luận án hướng đến của
phương pháp này là: quản lý nhà nước cấp tỉnh, thành phố trực thuộc tỉnh; ban quản
lý di sản, di tích; cộng đồng địa phương; người làm trong ngành du lịch ở Quảng
Ninh như người kinh doanh dịch vụ, người phục vụ khách du lịch trực tiếp, hướng
dẫn viên; nhà đầu tư và các nhân tố khác như nhà khoa học [Phụ lục 2, tr.167].
4) Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Phương pháp này được sử dụng để
thu thập các dữ liệu mang tính chất định lượng, có sự đánh giá, minh chứng cho tính
hấp dẫn của điểm di sản, và cho những đánh giá của du khách về khả năng phát

nghiên cứu, luận án đã cố gắng lượng hóa dữ liệu để xác định khả năng phát huy giá
trị DSVH trong phát triển du lịch Quảng Ninh. Sử dụng phương pháp xử lý số liệu
điều tra xã hội học bằng phần mềm Excel. Kết quả được trình bày dưới dạng bảng
biểu, biểu đồ.
6. Đóng góp khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1. Đóng góp khoa học
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về DSVH và phát triển du lịch giúp
hoàn thiện hệ thống lý luận về vấn đề này.
- Đóng góp cơ sở lý luận cho việc đánh giá tài nguyên du lịch dựa vào các
giá trị DSVH tại địa phương.
- Vận dụng lý thuyết về bảo tồn và phát huy các DSVH trong mối quan hệ
với phát triển du lịch vào thực tiễn hoạt động du lịch ở Quảng Ninh từ đó đóng góp
lại vào lý luận của khoa học chuyên ngành.
6.2. Đóng góp thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cho các nhà quản lý văn hóa và du lịch

ở địa phương thêm tài liệu tham khảo khá đầy đủ và có hệ thống về phát huy DSVH
trong phát triển du lịch.
- Các giải pháp được đề xuất phát huy giá trị các DSVH trong phát triển du

lịch ở Quảng Ninh là tài liệu tham khảo tốt cho các nhà quản lý, hoạch định chính
sách cũng như cho chính các nhà đầu tư, doanh nghiệp du lịch trong quá trình định
hướng, quản lý khai thác phát triển du lịch, sản phẩm du lịch.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu (7 trang), Kết luận (2 trang), Tài liệu tham khảo (10 trang),

Phụ lục (36 trang), nội dung luận án gồm 3 chương:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về
phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch (47
trang);

đích hiện tại [116]. Tác giả đưa ra quan điểm di sản cần được nhìn nhận tách biệt khỏi
lịch sử bởi ông lo ngại rằng việc gom nhặt các “mảnh vụn” di sản để phục vụ cho các
mục đích hiện tại trong khi bản thân chúng lại không bao chứa toàn bộ sự thật lịch sử
sẽ khiến cho tính chân thực của lịch sử bị sai lệch. Tiếp cận từ một quan điểm khác,
công trình Archaeology and Heritage: An Introduction của John Carman (2002) lại cho
rằng có những di sản hoàn toàn không liên quan gì đến sự xưng tụng của niềm tin hay
sự sùng tín nào đó mà đơn giản nó được tạo ra trong quá trình phân loại. Những nơi
này có một vị trí đặc biệt, có một loạt các nghĩa vụ, cả hợp pháp và “đạo đức”, phát
sinh từ việc được đưa vào sổ đăng ký di sản [120]. Ra đời sau và kế thừa toàn bộ các
nghiên cứu từ trước, cũng không xuất phát từ bất kỳ quan điểm nào, tác giả Jokilehto,


10

J (2005) trong Definition of Cultural Heritage - Reference to Documents in history lại
tập hợp các định nghĩa và rút ra được 60 khái niệm về DSVH/tài sản văn hóa [121].
Các định nghĩa này được cung cấp để làm tài liệu tham khảo căn bản cho tổ chức
ICCROM (Trung tâm quốc tế về nghiên cứu Bảo tồn và Bảo quản các tài sản văn hóa)
trong công tác hoạch định các kế hoạch chiến lược. Trong số các định nghĩa đó có đến
18 định nghĩa của UNESCO. Các định nghĩa này được sử dụng phổ biến nhất trong các
công trình nghiên cứu học thuật và trong các văn kiện pháp lý quốc tế và quốc gia

ở tất cả các nước có quan tâm đến di sản và tài sản văn hóa.
Năm 2010, trong cuốn Understanding the politics of heritage (Manchester:
Manchester University Press) Harrison, R đã dành hẳn một chương để bàn luận “What
is heritage?” (di sản là gì?). Ở đây, Harrison không hướng đến mục đích xây dựng một
khái niệm chung chung về di sản mà ông muốn chỉ ra một cách cụ thể: cái gì được coi
là di sản? Là một tòa nhà, một di tích hay một bản nhạc, một tập thơ? Ông đã đưa ra
định nghĩa của từ điển Anh ngữ Oxford rằng “di sản” có thể được hiểu là một “đối
tượng” vật chất: một mảnh tài sản, một tòa nhà hoặc một nơi có thể được 'sở hữu' và

từ di sản đã hàm nghĩa một thứ gì đó được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác,
đóng vai trò chuyên chở các giá trị lịch sử từ quá khứ và giao các giá trị này cho thế hệ
hiện tại như một phần của truyền thống văn hóa của một xã hội”

123

. Marta

de la Torre vào năm 2002 đã có một báo cáo nghiên cứu khá đầy đủ về giá trị của
DSVH mang tên Assessing the Values of Cultural Heritage. Trong báo cáo này, tác giả
cho rằng tầm quan trọng của một địa điểm được coi là di sản được xác định bởi sự tổng
hợp của các giá trị chứ không đơn thuần chỉ có giá trị lịch sử. Các giá trị được xem xét
phải bao gồm các giá trị do các chuyên gia như các nhà sử học, khảo cổ học, kiến trúc
sư… và các giá trị khác do các bên liên quan hoặc các thành phần khác đưa ra, như các
giá trị xã hội và kinh tế. Từ những nhận định, đánh giá về giá trị của di sản, hầu hết các
nhà nghiên cứu đều cho rằng giá trị của di sản là giá trị tự thân vốn có. Tuy nhiên, thách
thức ý tưởng rằng giá trị di sản là hiển nhiên, và mọi thứ phải được bảo tồn bởi chúng
có tầm quan trọng cố hữu, Uses of Heritage (2006) của Smith đã mạnh mẽ chứng minh
rằng giá trị di sản không phải là vốn có trong các vật thể hoặc các địa điểm vật lý mà
chúng được sử dụng để cung cấp tính xác thực cho các giá trị văn hóa của các cộng
đồng khác nhau và khẳng định những giá trị đấy. Nhưng dù là vai trò gì đi chăng nữa
thì giá trị của di sản đối với một xã hội là không thể phủ


12

nhận về mọi mặt, từ lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ, giáo dục đến kinh tế. Điều này đã được
khẳng định lại một lần nữa trong Hướng dẫn thực hiện Công ước Di sản Thế giới
Operational guidelinesforthe implementation of the World Heritage convention của
UNESCO ban hành năm 2015: “DSVH và thiên nhiên là một trong những tài sản vô

người xác định vai trò của họ như là người giám hộ tài sản văn hoá công cộng. Sự
chuyển đổi sang quan điểm bảo tồn trong những năm 1960 đã mở rộng đối tượng quan
tâm đến các khu vực xung quanh và do đó liên quan đến những hoạt động hiện đại của
các khu vực. Định nghĩa bảo tồn tốt, như “bảo vệ một cách có mục đích”, giúp nâng
cao chất lượng và đưa các nhà quy hoạch cùng người quản lý vào quá trình ra quyết
định cùng với kiến trúc sư và sử gia. Các mục tiêu trở nên mở rộng đối với việc tái tạo
hoặc phục hồi các khu vực phải đạt được thông qua kế hoạch quản lý sử dụng đất cũng
như các chỉ thị bảo vệ. Cuối cùng, sự chuyển đổi rõ ràng gần đây hơn đối với định
hướng thị trường tập trung vào các di tích lịch sử như một sản phẩm, được lựa chọn
theo các tiêu chí của nhu cầu tiêu dùng và được quản lý thông qua sự can thiệp vào thị
trường. Trong trường hợp này, việc tìm kiếm mô hình quy trình để giải thích điều gì
đang xảy ra phải được tiến hành trong khoa học tiếp thị” [108]. Từ đây, tiếp nối trong
một công trình khác của Ashworth (1997) là Elements of planning and managing
heritage sites, tác giả đã phân tích sâu hơn các quan điểm tiếp cận di sản nêu trên. Ông
đã đưa lại một lần nữa mô hình về những tranh luận của hai hướng tiếp cận đầu tiên và
đưa ra hướng tiếp cận thứ ba [109]. Kế thừa quan điểm của Ashworth, Zhan Chang
Yuan (2010) cũng đề cập việc quản lý DSVH như một ngành công nghiệp mà những
người tham gia cần chú ý tới chính sách, nguồn tài nguyên, nhân lực thực hiện… Các
nhà quản lý luôn phải đối mặt với vấn đề cân bằng bảo tồn và phát huy giá trị di sản sao
cho hợp lý. Peter Howard (2002) cho rằng các nhà quản lý luôn phải đặt ra câu hỏi:
chúng ta cần bảo tồn cái gì, tại sao và cho ai? Việc bảo tồn nhằm gìn giữ lại tối đa
những giá trị của di sản, làm cơ sở để khai thác, phát huy các giá trị đó trong đời sống.
Việc khai thác, phát huy giá trị là điều cần để làm cho di sản thực sự trở thành một bộ
phận của cuộc sống hiện tại. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng lưu ý rằng việc khai thác
cần quan tâm đến vấn đề phát triển bền vững, tránh tình trạng khai thác quá mức dẫn
tới những ảnh hưởng không tốt đến giá trị của di sản đó. Trước đó, Brian Garrod, Alan
Fayall trong nghiên cứu về quản lý di sản và du lịch Managing heritage tourism [112]
đã thừa nhận rằng cần có sự cân bằng giữa



hóa với phát triển du lịch (2010) lại sử dụng khái niệm DSVH do Luật Di sản của nước
ta quy định, và đưa ra 9 dạng khác nhau của DSVH [66]. Cũng sử dụng khái niệm
DSVH do Luật Di sản của nhà nước ban hành, song công trình Quản lý di


15

sản văn hóa (2014) của Nguyễn Thị Kim Loan và Nguyễn Trường Tân lại có sự dẫn
dắt tiếp cận từ góc độ văn hóa, khái niệm văn hóa. Công trình này cũng có sự phân loại
di sản khá cụ thể khi tiến hành phân chia theo ba hệ thống tiêu chí khác nhau
[64]. Gần đây nhất, công trình Văn hóa du lịch (2016) của Nguyễn Phạm Hùng cũng đã
chọn định nghĩa theo luật Di sản để nêu bật lên bản chất của DSVH. Khác với các

công trình trước, tác giả phân di sản thành hai loại: vật thể và phi vật thể, trong đó
làm rõ các hình thái khác nhau của DSVH vật thể [54].
Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu về giá trị, vai trò của DSVH. Nhìn chung,
các công trình nghiên cứu đều khẳng định sự đóng góp to lớn của di sản đối với đời
sống kinh tế, văn hóa, xã hội của các cộng đồng sở hữu di sản. Nguyễn Quốc Hùng
(2006) khẳng định DSVH ngày càng có nhiều đóng góp quan trọng vào sự phát triển
của đất nước. Nhiều di sản đã trở thành điểm đến quan trọng trong các tuyến du lịch,
góp phần đáng kể vào nguồn thu ngân sách của cả nước và địa phương (thông qua
nguồn thu từ vé tham quan, tạo công ăn việc làm, thu hút đầu tư nước ngoài, nâng cấp
cơ sở hạ tầng địa phương) [56]. Giáo trình Quản lý di sản văn hóa với phát triển du
lịch (2010) cũng khẳng định vị trí quan trọng của DSVH trong việc hình thành loại
hình du lịch văn hóa. Các tác giả đã liệt kê một số DSVH và nêu đặc trưng phù hợp của
chúng để trở thành sản phẩm du lịch của từng loại [66]. Như một sự tiếp nối quan điểm,
cuốn Văn hóa du lịch (2016) của Nguyễn Phạm Hùng cũng đề cập đến vai trò của
DSVH trong phát triển du lịch nhưng nội dung truyền tải ở mức độ chuyên sâu hơn. Vai
trò của di sản được chỉ rõ trong từng thành tố của ngành du lịch [54].


tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị DSVH trong điều kiện hiện nay [55]. Không đi
vào các biện pháp cụ thể, Bùi Hoài Sơn trong tham luận “Các quan điểm lý thuyết về
quản lý di sản” trong Hội thảo Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu chương
trình KX.09, Hà Nội, 30/10/2005 đã giới thuyết về các quan điểm lý thuyết về quản lý
di sản, lấy đó làm định hướng cho các biện pháp quản lý, bảo tồn DSVH cụ thể. Đặt
tình hình trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, Đặng Văn Bài đã bàn đến “Tính liên
ngành trong hoạt động bảo tồn di sản văn hóa” Tạp chí Di sản văn hóa, năm 2010 như
là một hướng tiếp cận cần thiết và phù hợp với thực tiễn hệ thống quản lý DSVH hiện
nay ở Việt Nam. Tiếp tục xuất phát từ bối cảnh đổi mới sâu rộng và hội nhập quốc tế
của nước nhà, cuốn Quản lý văn hóa Việt Nam


17

trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế (2012) của hai tác giả Phan Hồng Giang và
Bùi Hoài Sơn đã đề cập đến nhiều lĩnh vực cụ thể của hoạt động quản lý văn hóa
ở nước ta hiện nay trong đó có quản lý DSVH. Ở lĩnh vực này, các tác giả đưa ra thực
trạng quản lý di tích lịch sử văn hóa, bảo tàng và DSVH phi vật thể. Nội dung quản

lý được đề cập trên hai khía cạnh: 1) Công tác quản lý nhà nước: bao gồm việc ban
hành các văn bản pháp quy, các văn bản thể hiện chủ trương, đường lối của Đảng và
Nhà nước về bảo tồn DSVH dân tộc; 2) Công tác phát triển sự nghiệp: tập trung
phân tích những ưu điểm trong hoạt động bảo tồn di tích như nhà nước đã đầu tư
toàn bộ kinh phí cho các di tích cách mạng kháng chiến, các di tích được đầu tư tu
bổ, chống xuống cấp đã trở thành các điểm tham quan hấp dẫn. Đồng thời nêu ra
những hạn chế như chưa có quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị, các dự án chưa
đồng bộ, chưa đáp ứng nhu cầu bảo tồn... Từ thực trạng này các tác giả đã đề ra
những giải pháp cụ thể cho từng lĩnh vực của di tích như: đầu tư đồng bộ trong bảo
tồn, tôn tạo, triển khai việc quy hoạch chi tiết đối với các di tích để giải quyết hợp
lý, hài hòa bền vững…[44]. Năm 2013, Nguyễn Thế Hùng với Đề tài nghiên cứu


1.1.2. Những công trình nghiên cứu về đánh giá và phát huy giá trị của tài
nguyên văn hóa trong phát triển du lịch
Du lịch là một hiện tượng văn hóa, kinh tế, xã hội có nguồn gốc xa xưa và liên
tục phát triển từ khi hình thành đến nay. Do đó, lịch sử nghiên cứu về du lịch cũng có
một bề dày tương ứng. Trên thế giới, đã có không ít các công trình khoa học được thực
hiện và những nghiên cứu mang tính lý luận về du lịch. Christine N. French, Alan
Collier, Stephen J. Craig-Smith trong Principles of Tourism (1995) đã phân tích bối
cảnh phát triển du lịch trên thế giới và cung cấp tổng quan về cấu trúc của ngành du
lịch. Trong khi đó Rober W. McIntosh, Charles R. Goeldner, J.R. Brent Ritchie thông
qua Tourism, Principle, Practices, Philosophies lại cung cấp tổng quan về các nguyên
tắc, thực tiễn và triết lý ảnh hưởng đến khía cạnh văn hoá, xã hội, kinh tế, tâm lý và tiếp
thị của khách du lịch và ngành du lịch. Kế thừa thành tựu của nghiên cứu đi trước,
Chris Cooper, John Fletcher, Alan Fyall, David Gilbert và Stephen Wanh ill, trước bối
cảnh môi trường du lịch có nhiều biến đổi, đã cung cấp cho người đọc các nguyên tắc
cơ bản để tiếp cận nghiên cứu về du lịch, trong đó chú ý nhiều hơn đến sự thay đổi khí
hậu và khả năng đáp ứng của du lịch đối với an toàn, an ninh của du khách trong
Tourism Principle and Practice. Về sau, trong một công trình khác là Contemporary


19

tourism:An international approach, Chris Cooper và C Micheal Hall đã cung cấp hệ
thống lý thuyết về du lịch đương đại gồm 4 phần: hệ thống du lịch (các khái niệm cơ
bản: du lịch, thị trường du lịch, sản phẩm du lịch); khách du lịch (hành vi du lịch, dòng
chảy phát triển của ngành Du lịch, tiếp thị du lịch); điểm đến du lịch và ngành Du lịch.
Trong một phạm vi hẹp hơn, các nhà nghiên cứu quan tâm đến các xu hướng
phát triển mới của du lịch trên thế giới. Một hệ thống lý thuyết và quan điểm về du lịch
sinh thái, du lịch bền vững, trong đó có du lịch văn hóa… ra đời tạo sự đa dạng và hoàn
chỉnh cho cơ sở lý luận về phát triển du lịch nói chung. Dù ban đầu các nhà khoa học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status