SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT NGUYỄN THÁI HỌC
=====***=====
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến: Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào dạy học
phần công dân với đạo đức thuộc chương trình giáo dục công dân lớp 10 nhằm
nâng cao ý thức đạo đức cho học sinh trường Trung học phổ thông A
Tác giả sáng kiến: Nguyễn Văn Khánh
Mã sáng kiến: 05.53
Vĩnh Phúc, Năm 2020
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1. Lời giới thiệu
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta luôn quan tâm đến
công tác giáo dục. Cùng với việc nhấn mạnh vấn đề học tập của thanh thiếu niên thì
Bác cũng đặc biệt chú trọng đến việc giáo dục đạo đức. Bác đã từng nói:
“Hiền dữ đâu phải là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên”.
( Trích “Nhật kí trong tù”)
Đức tính của con người không phải là sẵn có ngay từ khi mới sinh ra, mà là
ảnh hưởng phần lớn do sự giáo dục, môi trường sống. Cùng với sự phấn đấu và rèn
luyện của mỗi bản thân cá nhân mà hình thành những con người thiện, ác khác
nhau. Mặt khác, giáo dục còn là sự kết hợp giữa giáo dục gia đình, nhà trường và
xã hội. Trong đó, giáo dục nhà trường giữ một vai trò rất quan trọng.
Trong hệ thống các môn học ở bậc phổ thông, môn Giáo dục công dân có vai
đức” ở chương trình Giáo dục công dân lớp 10 để học sinh biết vận dụng những
kiến thức đã được học vào cuộc sống, nhằm nâng cao ý thức đạo đức cho học sinh
trường Trung học phổ thông A, đúng như câu nói của Bác Hồ: “Học đi đôi với
hành, lí luận gắn liền với thực tiễn”.
2. Tên sáng kiến: Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào dạy học phần
công dân với đạo đức thuộc chương trình giáo dục công dân lớp 10 nhằm nâng cao
ý thức đạo đức cho học sinh trường Trung học phổ thông A
3. Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Nguyễn Văn Khánh
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Nguyễn Văn Khánh
- Số điện thoại: 0982160983
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Văn Khánh – Giáo viên trường THPT
Nguyễn Thái Học
5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục (phương pháp giảng dạy môn giáo dục
công dân)
6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: ngày 06/01/2019 (học kì
2 năm học 2018 - 2019)
7. Mô tả bản chất của sáng kiến:
7.1. Về nội dung của sáng kiến:
I. Thực trạng giải pháp đã biết của việc vận dụng một số phương pháp dạy
học tích cực vào dạy học phần công dân với đạo đức thuộc chương trình Giáo
dục công dân lớp 10 nhằm nâng cao ý thức đạo đức cho học sinh trường Trung
học phổ thông A
1. Đặc điểm chung.
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức của con người như gốc của cây, như nguồn
của sông. Người luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng và tích cực của đạo đức trong
đời sống xã hội. Người nói: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà
không có tài làm việc gì cũng khó”.
việc sử dụng phương pháp học tập nhằm thực hiện mục đích, yêu cầu học tập đề ra
phù hợp với cấp học, người học chương trình học cụ thể đã được xác định.
2.3. Phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực, hay phương pháp giáo dục chủ động, phương
pháp sư phạm hiện đại,… là những cách gọi để chỉ những phương pháp, cách thức,
kỹ thuật đề cao chủ thể nhận thức, chủ yếu phát huy tính tự giác, nhiệt tình chủ
động của người học, làm cho giờ học trở nên sinh động, hấp dẫn, người học được
tham gia làm việc, được sáng tạo,… giải quyết các vấn đề phù hợp với khả năng
hiểu biết của mình, đề xuất ý kiến, tự nguyện trình bày hay tham gia tranh luận
trước tập thể và người dạy.
Phương pháp dạy học tích cực là hướng tới khả năng chủ động, sáng tạo của
người học chứ không phải hướng tới việc phát huy tính tích cực của người dạy,
người thầy đóng vai trò là người hướng dẫn, rèn luyện cho học sinh phương pháp
tự học độc lập suy nghĩ thông qua việc thảo luận, thí nghiệm, thực hành, thâm nhập
thực tế theo mục tiêu, nội dung của bài học, người thầy là người tổng hợp hoạt
động, ý kiến của người học để xây dựng nội dung bài học.
2.4. Ý thức đạo đức
Ý thức đạo đức: “Là ý thức về hệ thống những nguyên tắc, chuẩn mực hành
vi phù hợp với những quan hệ đạo đức đã và đang tồn tại. Mặt khác, nó còn bao
hàm cả những cảm xúc, những tình cảm đạo đức của con người”. Với tư cách là
một hình thái ý thức xã hội, ý thức đạo đức là sự thể hiện thái độ nhận thức của con
người trước hành vi của mình trong sự đối chiếu với hệ thống chuẩn mực hành vi
và những quy tắc đạo đức xã hội đặt ra; qua đó giúp con người tự giác điều chỉnh
hành vi và hoàn thành một cách tự giác, tự nguyện những nghĩa vụ đạo đức. Về mặt
cấu trúc, ý thức đạo đức gồm tình cảm đạo đức, tri thức đạo đức, lý tưởng đạo đức,
ý chí đạo đức. Trong đó, tình cảm thể hiện cảm xúc của con người trước hiện tượng
đạo đức, tri thức đạo đức giúp con người lựa chọn cái gì nên làm và cái gì không
nên làm; lý tưởng đạo đức quyết định phương hướng, mục đích hoạt động của con
đạo đức thuộc chương trình Giáo dục công dân lớp 10 nhằm nâng cao ý thức đạo
đức cho học sinh trường Trung học phổ thông A.
2. Mô tả chi tiết bản chất, nội dung của giải pháp
2.1. Mục tiêu chung của giải pháp
- Giáo viên vận dụng một số phương pháp dạy học vào giảng dạy phần công
dân với đạo đức thuộc chương trình giáo dục công dân lớp 10 nhằm nâng cao ý
thức đạo đức cho học sinh tại trường Trung học phổ thông A.
- Thông qua nội dung kiến thức phần “công dân với đạo đức” giúp học sinh
nhận thức được tầm quan trọng của môn Giáo dục công dân nói chung và Giáo dục
công dân lớp 10 nói riêng (đặc biệt nội dung phần công dân với đạo đức) trong việc
giáo dục và nâng cao ý thức đạo đức con người.
- Giúp cho học sinh vận dụng các kiến thức đã học vào cuộc sống một cách có
hiệu quả nhất, học sinh biết tự giác thực hiện các hành vi đạo đức hàng ngày để
biến ý thức đạo đức thành thói quen đạo đức.
2.2. Tính mới của giải pháp so với giải pháp đã áp dụng
Thông qua việc vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực như: Thảo
luận nhóm, nêu gương, kể chuyện, nghiên cứu trường hợp điển hình, vấn đáp...
vào giảng dạy phần Công dân với đạo đức Giáo dục công dân lớp 10 đã thu hút
được sự chú ý, hứng thú, phát huy mặt tích cực, chủ động, tự giác của học sinh, các
em thực hiện tốt các chuẩn mực đạo đức, ý thức đạo đức của các em đã được nâng
lên. So với phương pháp dạy học truyền thống làm cho tiết học khô khan, nhàm
chán dẫn đến học sinh không hứng thú, yêu thích môn học, ngại học. Nên dẫn đến
thực trạng một số học sinh có biểu hiện thường xuyên gây mất trật tự trong lớp,
trốn tiết đi chơi điện tử, vô lễ với thầy cô, nói dối cha mẹ, thầy cô và bạn bè; xưng
hô mày tao...
2.3. Nội dung của việc vận dụng một số phương pháp dạy học vào giảng dạy
đến người nghe về một nhân vật, một sự kiện lịch sử, hoặc một hiện tượng tự nhiên,
một phát minh khoa học, một vùng đất mới.
- Vận dụng phương pháp kể chuyện vào giảng dạy vào bài 10: “Quan niệm về
đạo đức” cụ thể mục: Đạo đức là gì? Giáo viên kể câu chuyện “Cậu bé Tích Chu”
để học sinh hiểu được khái niệm đạo đức và biết được đạo đức của người học sinh.
Ngày xửa ngày xưa, có một em bé tên là Tích Chu, bố mẹ em mất sớm nên em
ở với bà. Hàng ngày bà phải làm việc quần quật, vất vả kiếm tiềm để nuôi Tích
Chu. Có thức gì ngon bà cũng dành hết cho Tích Chu. Ban đêm, khi Tích Chu ngủ
thì bà thức quạt cho Tích Chu, bà thương Tích Chu vô cùng.
Thế nhưng khi lớn lên, Tích Chu lại chẳng thương bà. Bà thì suốt ngày làm
việc vất vả, còn Tích Chu suốt ngày rong chơi. Vì làm việc vất vả, ăn uống lại
kham khổ nên bà bị ốm. Bà lên cơn sốt mà chẳng có ai chăm sóc bà. Tích Chu thì
mải rong chơi với bạn bè, chẳng nghĩ gì đến bà đang ốm. Một buổi trưa, trời nóng
nực, con sốt lên cao, bà khát nước quá liền gọi:
Tích Chu ơi, cho bà ngụm nước, bà khát cổ quá! Bà gọi một lần, hai lần... rồi
ba lần nhưng vẫn không thấy Tích Chu đáp lại. Mãi sau Tích Chu thấy đói mới
chạy về nhà kiếm thức ăn. Tích Chu hết sức ngạc nhiên khi thấy bà biến thành chim
và vỗ cánh bay lên trời. Tích Chu hoảng quá và kêu lên:
Bà ơi! Bà đi đâu? Bà ở lại với cháu. Cháu sẽ mang nước cho bà, bà ơi!
Cúc cu... cu! Cúc... cu cu! Chậm mất rồi cháu ạ, bà khát quá không thể chịu
nổi phải hóa thành chim để bay đi kiếm nước. Bà đi đây, bà không về nữa đâu!
Nói rồi chim vỗ cánh bay đi.
Tích Chu hoảng quá vội chay theo bà, cứ nhằm hướng chim bay mà chạy. Cuối
cùng Tích Chu gặp chim đang uống nước ở một dòng suối mát. Tích Chu gọi:
Bà ơi! Bà trở về vơi cháu đi. Cháu sẽ lấy nước cho bà, cháu sẽ giúp đỡ bà,
cháu sẽ không làm bà buồn nữa!
Cúc... cu... cu, muộn quá rồi cháu ơi! Bà không trở lại được nữa đâu!
Nghe chim nói Tích Chu òa khóc. Tích Chu thương bà và hối hận. Giữa lúc đó
tiễn và giải quyết các vấn đề của tình huống đặt ra. Tình huống là hoàn cảnh thực tế, trong
đó chứa đựng những mâu thuẫn, xung đột.
- Vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình (hay còn gọi là phương
pháp tình huống) vào bài 11: “Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học” cụ thể mục
Nghĩa vụ giáo viên có thể lấy ví dụ về tình huống sau:
Mười năm học luôn đạt danh hiệu học sinh tiến tiến, đạo đức tốt của lớp. Thời
gian gần đây do cha mẹ mải đi làm ăn xa, rất ít có thời gian quan tâm sát sao đến
M. Bị bạn bè rủ rê lôi kéo nên M thường xuyên trốn học đi chơi điện tử. Khi bị cô
giáo đã nhắc nhở nếu em còn vi phạm thì có sẽ tiến hành kỉ luật em. Nghe cô giáo
nói vậy M còn tỏ thái độ vô lễ và cãi lại cô giáo.
Giáo viên: Em có nhận xét gì về hành động của M? Nếu là M em sẽ cư xử như
thế nào?
Nghĩa vụ là gì? Là học sinh em thấy mình có nghĩa vụ gì?
Học sinh biết được: Nghĩa vụ là trách nhiệm của bản thân đối với yêu cầu và
lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội.
=> Từ khái niệm Nghĩa vụ học sinh sẽ biết được nghĩa vụ của người học sinh:
thực hiện nghiêm túc nội quy của trường, lớp đề ra như: đi học đúng giờ, đeo thẻ,
học và làm bài tập đầu đủ trước khi đến lớp, kính trọng, lễ phép với thầy cô, hòa
nhã với bạn bè, không nói tục, chửi bậy... Từ đó, ý thức đạo đức của các em được
nâng lên, tình trạng học sinh vi phạm nội quy trường, lớp đã giảm.
c. Vận dụng phương pháp vấn đáp đề vào giảng dạy để nâng cao ý thức
đạo đức học sinh.
- Vấn đáp là phương pháp Giáo viên đặt ra những câu hỏi để học sinh trả lời
hoặc học sinh có thể tranh luận với nhau và với cả Giáo viên. Qua đó, học sinh lĩnh
hội được được nội dung bài học.
- Vận dụng phương pháp vấn đáp vào giảng dạy bài: “Công dân với tình yêu,
hôn nhân và gia đình” cụ thể mục Một số điều nên tránh trong tình yêu nam nữ
thanh niên hiện nay.
cứu đói ra đời) và được mọi gia đình hưởng ứng. Khi chuẩn bị bữa ăn, trước khi
cho gạo vào nồi nấu, người nấu tự bốc bớt một phần gạo cho vào hũ. Gạo trong hũ
được định kỳ gửi đến chính quyền cách mạng để ủng hộ (cứu đói) những người dân
thiếu đói.
Bác cũng tự nguyện thực hiện bằng việc mỗi tuần Bác báo cho bộ phận hậu
cần cắt khẩu phần ăn không nấu, để Bác nhịn ăn một bữa. Bác thực hiện rất đều đặn
và thường nhịn ăn vào bữa trưa. Biết chuyện, nhiều đồng chí Trung ương khuyên
Bác làm như vậy ảnh hưởng đến sức khỏe. Bác cười hiền hậu nói: “Mình có đói
mới hiểu nỗi khổ của người đói” và Bác kiên quyết thực hiện. Tiêu chuẩn khẩu
phần ấy hàng tháng được chuyển đến cơ sở cứu đói của địa phương.
Năm 1946, khi dẫn đoàn Chính phủ của ta sang Pháp đàm phán, biết người
dân Pháp cũng còn rất nhiều người đói khổ, kể cả những nhân viên phục vụ nhà
hàng cũng gom nhặt đồ ăn thừa của thực khách. Đoàn ta được tiếp đón và chiêu đãi
rất trọng thịnh, đến bữa ăn Bác nhắc nhở các thành viên trong đoàn: Ăn món nào
thì ăn cho hết, thấy ăn không hết thì nên để lại nguyên món ăn đó. Để cho người
đói như thế cũng là một cách tự tôn trọng mình. Biết được thành tâm của Bác,
không chỉ cán bộ trong đoàn ta xúc động mà các nhân viên phục vụ của Pháp rất
cảm kích. Những việc như trên chính là đạo đức cách mạng, Bác luôn làm gương
tiêu biểu nhất.
Đất nước ta trong những năm qua đã cơ bản giúp người dân xóa được nạn đói,
giảm nghèo. Đây là thành tựu của Đảng ta, toàn dân ta, các nước nghèo khác đang
phải học tập cách làm của ta. Tuy nhiên, người dân ta còn rất là nghèo, nhiều gia
đình còn rất khó khăn, rất cần những tấm lòng thương yêu, chia sẻ của những người
có cuộc sống đầy đủ. Dân tộc ta có câu ngạn ngữ “ Một miếng khi đói bằng cả gói
khi no”. Sự giúp đỡ, ủng hộ dành cho người nghèo là rất đáng trân trọng, ghi nhận.
Nhưng phải thật lòng, không nên mang tính bố thí. Đồng thời, với thực hành tiết
kiệm, phải cùng chống lãng phí, chống ở tất cả mọi nơi, mọi việc làm, mọi sinh
hoạt.
thế hệ đi trước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
e. Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào giảng dạy nhằm nâng cao
ý thức đạo đức cho học sinh.
- Phương pháp thảo luận nhóm là tổ chức cho học sinh bàn bạc, trao đổi trong
nhóm. Thảo luận nóm được sử dụng rộng rãi nhằm giúp cho mọi học sinh tham gia
một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho học sinh có thể chia sẻ
kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết vấn đề có liên quan đến nội dung bài
học.
- Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong giảng dạy vào bài: “Công dân
với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” cụ thể mục Trách nhiệm xây dựng Tổ
quốc.
Giáo viên: Tổ chức cho HS thảo luận cặp đôi trong thời gian 5 phút.
Trách nhiệm của công dân trong sự nghiệp xây dựng Tổ quốc? Liên hệ trách
nhiệm của học sinh?
Học sinh trả lời:
- Chăm chỉ, sáng tạo trong học tập và lao động; có mục đích và động cơ học
tập đúng đắn.
- Tích cực rèn luyện đạo đức tác phong. Sống trong sáng, lành mạnh tránh xa
các tệ nạn xã hội; biết đấu tranh với các biểu hiện của lối sống lai căng, thực dụng.
- Quan tâm đến đời sống chính trị của địa phương và đất nước; thực hiện tốt chủ
trương, chính sách của đảng và pháp luật của Nhà nước.
- Tích cực tham gia góp phần xây dựng quê hương bằng những việc làm thiết
thực.
- Phê phán đấu tranh với những hành vi đi ngược lại lợi ích quốc gia dân tộc.
=> Từ trách nhiệm của công dân trong sự nghiệp xây dựng Tổ quốc, các em
nhận thức và ý thức được trách nhiệm của học sinh trong sự nghiệp xây dựng Tổ
quốc là: Tích cực học tập, rèn luyện đạo đức tác phong, có lối sống lành mạnh tránh
xa các tệ nạn xã hội, tích cực tham gia các hoạt động phù hợp với khả năng của bản
- Chuẩn bị bài theo hướng dẫn của giáo viên.
III. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
Tiết 1: - Phần 1: Cộng đồng và vai trò của cộng đồng đối với cuộc sống
của con người.
- Phần 2 - mục 2a – Nhân nghĩa.
1. Hoạt động khởi động
Giáo viên chiếu một số hình ảnh về cộng đồng dân cư, lớp học, trường học...
Con người ta ai cũng sống học tập và làm việc trong cộng đồng. Không ai có thể
sống tách rời khỏi cộng đồng, mỗi người là một thành viên một tế bào của cộng
đồng. Vậy để hiểu cộng đồng là gì? Chúng ta cần phải có trách nhiệm gì đối với
cộng đồng? Chúng ta cùng tìm hiểu bài.
2. Hoạt động hình thành kiến thức.
Hoạt động của GV và HS
Nội dung bài học
Hoạt động 1: GV cho HS tự nghiên 1. Cộng đồng và vai trò của cộng đồng
cứu SGK và trả lời.
đối với cuộc sống của con người.
Gv giải thích cụm từ “cộng đồng”.
a) Cộng đồng là gì?
- Cộng: Là sự kết hợp, là gộp vào, thêm
vào.
- Đồng: Cùng nhau, cùng 1 lúc, cùng
? Em có nhận xét gì về cuộc sống
sinh hoạt của nguời rừng khi mới trở
b) Vai trò của cộng đồng đối với cuộc
về gia đình sau những tháng ngày bị sống của con người.
thất lạc?
? Khi được sự giúp đỡ của cộng đồng
gia đình thì cuộc sống, sinh hoạt của
người rừng thay đổi như thế nào ?
HS : Suy nghĩ, trả lời
- Muốn duy trì cuộc sống của mình, con
người phải lao động và liên hệ với những
người khác, với cộng đồng. Không ai có
? Em hãy cho biết cộng đồng có vai thể sống bên ngoài cộng đồng và xã hội.
trò như thế nào đối với cuộc sống của - Cộng đồng là hình thức thể hiện các mối
con người ?
liên hệ và quan hệ xã hội của con người.
HS : Suy nghĩ, trả lời.
- Cộng đồng chăm lo cho cuộc sống của cá
GV: Điều gì sẽ xảy ra nếu như bản nhân, đảm bảo cho mọi người có những
thân em không được đến trường? điều kiện để phát triển.
Việc đến trường đã mang lại những
lợi ích gì cho em ?
HS: suy nghĩ, trả lời
HS: Trả lời
GV: KL
Vậy nhân nghĩa có những biểu hiện
gì ?
GV: Cho HS xem video "Người bình
thường’’
? Em đồng ý với việc làm của ai ? Vì
sao ?
* Khái niệm :
- Nhân: là lòng thương người.
- Nghĩa: là điều được coi hợp theo lẽ phải.
? Nếu là em, em sẽ làm gì giúp cụ già => Nhân nghĩa: lòng thương người và đối
trong hoàn cảnh này ?
xử với người theo lẽ phải.
HS: Suy nghĩ, trả lời
GV: Qua câu chuyện trên theo em,
một người có nhân nghĩa thường có
những biểu hiện gì ?
HS: Suy nghĩ, trả lời.
GV: KL
? Ý nghĩa của nhân nghĩa?
* Ý nghĩa của nhân nghĩa :
- Giúp cho cuộc sống của con người
trở nên tốt đẹp hơn.
- Con người thêm yêu cuộc sống, có
- Quan tâm, chia sẻ, nhường nhịn với
những người xung quanh.
- Cảm thông và sẵn sàng giúp đỡ mọi người
khi gặp khó khăn, hoạn nạn. Tích cực tham
gia hoạt động uống nước nhớ nguồn, đền
ơn đáp nghĩa.
- Kính trọng biết ơn các vị anh hùng dân
tộc, người có công với đất nước.
3. Hoạt động luyện tập- vận dụng
3. 1: Câu hỏi trắc nghiệm
Câu 1. Toàn thể những người cùng chung sống, có những điểm giống nhau, gắn bó
thành một khối trong sinh hoạt xã hội là
A. cộng đồng.
B. tập thể.
C. dân cư.
D. làng xóm.
Câu 2. Cộng đồng là hình thức thể hiện các mối lien hệ và quan hệ xã hội
A. của con người.
B. của đất nước.
C. của cán bộ, công chức.
D. của tập thể người lao động.
Câu 3. Mỗi người là một thành viên, một tế bào
C. theo tình cảm.
D. theo từng trường hợp.
Câu 7. Nhân nghĩa giúp cho cuộc sống của con người trở nên
A. hoàn thiện hơn.
B. tốt đẹp hơn.
C. may mắn hơn.
D. tự do hơn.
3.2 : Bài tập tự luận
Tình huống: Nhà truyền đạo Xing đã phát hiện ra trong một đàn chó sói có
hai em bé gái. Đứa lớn 8 tuổi được đặt tên là A-ma-la, đứa bé là Ca-ma-la. Chẳng
bao lâu sau A-ma-la chết, còn Ca-ma-la sống với người mẹ nuôi là bà Xing thêm 9
năm. Bà đã cố dạy cô bé những thói quen của con người. Lúc đầu Ca-ma-la chỉ có
thể bò bốn chân, ban đêm đi lang thang và hú lên như chó sói. Sau hai năm cô bé
mới bắt đầu phát âm được vài tiếng rời rạc và sau 6 năm mới học được 30 từ. Dần
dần người ta dạy cho cô uống nước bằng cốc. Trong 9 năm lao động kiên trì, người
ta không thể dạy thêm gì cho cô bé.