CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG
1.1. Khái niệm về xếp hạng tín dụng
Theo Standards & Poor, xếp hạng tín nhiệm là những ý kiến đánh giá hiện
tại về rủi ro tín dụng, chất lượng tín dụng, khả năng và thiện ý của chủ thể đi vay
trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn.
Theo Moody's, xếp hạng tín nhiệm là những ý kiến đánh giá về chất lượng
tín dụng và khả năng thanh toán nợ của chủ thể đi vay dựa trên những phân tích tín
dụng cơ bản và biểu hiện thông qua hệ thống ký hiệu Aaa-C.
Định nghĩa của Viện nghiên cứu Nomura: Xếp hạng tín nhiệm là đánh giá hiện tại
về mức độ sẵn sàng và khả năng trả gốc hoặc lãi đối với chứng khoán nợ của một
nhà phát hành trong suốt thời gian tồn tại của chứng khoán đó
Như vậy, có thể định nghĩa, xếp hạng tín nhiệm là những ý kiến đánh giá về rủi ro
tín dụng và chất lượng tín dụng, thể hiện khả năng và thiện ý trả nợ (gốc, lãi hoặc
cả hai) của đối tượng đi vay để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và
đúng hạn thông qua hệ thống xếp hạng theo ký hiệu.
Trong thực tế, xếp hạng tín nhiệm mới chỉ đánh giá khả năng trả nợ của chủ thể
trong quá khứ và hiện tại. Nên các tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn thường cung cấp
thêm những tín hiệu bổ sung thể hiện những sự kiện xảy ra trong khoảng thời gian
gần (3 tháng) mà có thể tác động đến hạng mức tín nhiệm hay dựa trên cơ sở đánh
giá triển vọng hạng mức tín nhiệm của doanh nghiệp trong tương lai với thời hạn
trung bình (6 - 24 tháng). Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm cũng dự báo hạng mức
tín nhiệm, bằng cách dự phóng báo báo cáo tài chính tương lai rồi xếp hạng lại
hoặc xây dựng mô hình toán học để dự báo hạng mức tín nhiệm doanh nghiệp.
1.2. Sự cần thiết của việc xếp hạng tín dụng nội bộ các doanh nghiệp trong
ngân hàng thương mại.
1.2.1. Theo yêu cầu đảm bảo an toàn của các cơ quan giám sát hoạt động Ngân
hàng.
Ngân hàng là một trung gian tài chính lớn nhất và quan trọng nhất của nền
kinh tế, do vậy, hoạt động của Ngân hàng luôn bị theo dõi giám sát, quản lý về các
mặt rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng bởi các cơ quan giám sát. Một trong những
công cụ quản lý rủi ro mà các cơ quan giám sát hoạt động NH theo tiêu chuẩn quản
loại nợ thì có thể xếp hạng khách hàng theo thời gian quá hạn của khoản nợ tức là
áp dụng theo điều 6 của quyết định trên, và NH nào đã xây dựng cho mình hệ
thống xếp hạng tín dụng nội bộ phân loại và xếp hạng theo kết quả của hệ thống
đó, tức là theo Điều 7 quyết định 493. NHNN cũng ra quy định là sau tối đa 3 năm,
tức đến năm 2008, tất cả các tổ chức tín dụng đều phải hoàn tất công việc xây dựng
và đưa vào sử dụng hệ thống xếp hạng, phân loại nợ khách hàng làm công cụ quản
lý tín dụng và trích lập dự phòng rủi ro.
1.2.2. Yêu cầu tăng cường quản lý tín dụng tập trung thống nhất trong nội bộ
Ngân hàng.
Lượng hóa rủi ro tín dụng mà cụ thể là ước lượng xác suất vỡ nợ đối với mỗi
khách hàng vay và tỷ lệ tổn thất khi xảy ra rủi ro đối với danh mục tín dụng là một
yêu cầu bắt buộc về quản lý giám sát an toàn NH của các cơ quan giám sát cũng
như về tăng cường quản trị điều hành trong NH. Hệ thống xếp hạng tín dụng nội
bộ là một công cụ quản lý tín dụng cho phép các tổ chức tín dụng đưa ra các mức
ước lượng về xác suất vỡ nợ khách hàng và tỷ lệ tổn thất vỡ nợ làm cơ sở cho việc
định giá tín dụng và thực hiện việc trích lập dự phòng rủi ro.
Mặt khác, tại các NH đang diễn ra việc tái cơ cấu NH theo hướng tập trung
hóa quản lý rủi ro với việc tăng cường năng lực quản lý rủi ro tại Hội sở chính.
Điều đó chỉ có thể áp dụng được trên cơ sở chính sách khách hàng thống nhất từ
cấp quản lý đến bộ phận kinh doanh. Một chính sách khách hàng phù hợp chỉ có
thể được xây dựng khi NH biết được khách hàng mang lại lợi ích gì cho NH và các
rủi ro đi kèm trong quan hệ tín dụng. Vì vậy, xếp hạng tín dụng nội bộ là một công
cụ quản lý rủi ro mà các NH cần phải xây dựng khi thực hiện việc tập trung hóa
quản lý.
1.3. Nội dung của công tác xếp hạng tín dụng trong NHTM
1.3.1. Phương pháp được sử dụng để xếp hạng tín dụng
1.3.1.1. Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này thu thập ý kiến của các chuyên gia trong hoặc ngoài doanh
nghiệp theo những mẫu câu hỏi được soạn thảo trong phiếu điều tra.
Các bước thực hiện phương pháp này như sau: