Thực trạng của xếp hạng tín dụng nội bộ tại Sacombank
2.1 Cơ sở lý luận về xếp hạng tín dụng nội bộ.
2.1.1 Khái niệm về hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ
Trong một thời gian dài các tổ chức tài chính thực hiện quản lý rủi ro dựa
trên việc giám sát mức độ tín nhiệm của từng người đi vay riêng lẽ. Nhưng sau
cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra thì việc quản lý trên được thay thế bằng phương
pháp quản lý và phân tích rủi ro dựa trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ.
Hệ thống xếp hạng nội bộ giúp cho các tổ chức tài chính quản lý và kiểm
soát được rủi ro tín dụng mà họ có thể phải gánh chòu trong hoạt động tín dụng và
các hoạt động khác bằng cách phân loại và quản lý mức độ tín nhiệm của người đi
vay cũng như chất lượng các khoản vay.
2.1.2 Đặc điểm của xếp hạng tín dụng.
2.1.2.1 Độc lập
Đây là nhân tố quan trọng hàng đầu, bất kỳ việc xếp hạng tín dụng nào
muốn đảm bảo chất lượng cũng cần phải đảm bảo không chòu sức ép chính trò hay
sức ép của khách hàng. Việc xếp hạng tín dụng không vì sức ép kinh tế hay vì bất
cứ lý do nào mà ấn đònh xếp hạng cao hơn cho họ. Kết quả xếp hạng tín dụng có
được phải đảm bảo sự công bằng, khách quan, phản ánh trung thực tình hình thực tế
của khách hàng. Đây là đặc điểm quan trọng nhất của xếp hạng tín dụng.
2.1.2.2 Minh bạch
Việc xếp hạng tín dụng phải được tiến hành một cách minh bạch. Các tổ
chức xếp hạng tín dụng cần công bố rộng rãi chính sách công bố kết qủa đánh giá,
báo cáo và cập nhật kết quả đánh giá đònh mức tín dụng của mình.
Ngoại trừ các trường hợp cá biệt thì các tổ chức xếp hạng tín dụng cần phải
công bố thông tin ra công chúng cho mọi đối tượng và miễn phí mọi thông tin liên
quan đến các chứng khoán được phát hành.
Sinh viên thực tập: Phạm Huỳnh Khuê Trang
19
Thực trạng của xếp hạng tín dụng nội bộ tại Sacombank
2.1.2.3 Đáng tin cậy, được thừa nhận.
Từ nguồn thông tin có được, sau khi được xử lý thì kết quả xếp hạng của tổ
đầu có khó khăn về tài chính để giúp ngăn chặn được sự tiếp tục xuống hạng của
họ.
Giám sát toàn bộ danh mục tín dụng: Ngân hàng có thể nhận ra tài sản giảm
giá trò trong danh mục cho vay bằng việc giám sát ma trận dòch chuyển về xếp
hạng và thay đổi về dư nợ cho vay của mỗi hạng đối với mỗi ngành và khu vực.
Lượng hóa rủi ro tín dụng và phân bổ vốn: Các đònh chế tài chính có thể sử
dụng xác suất vỡ nợ của mỗi hạng như là dữ liệu đầu vào để tính rủi ro tín dụng.
Thêm vào đó, họ có thể phân bổ vốn cho mỗi lónh vực dựa vào mức rủi ro tính toán
được.
Đònh giá khoản vay phản ánh rủi ro tín dụng: Ngân hàng thường đònh lãi suất
cho mỗi khoản vay bằng cách cộng thêm một tỷ lệ chi phí tín dụng vào chi phí huy
động vốn, tỷ lệ chi phí hoạt động và tỷ lệ lợi nhuận mục tiêu. Ngân hàng có thể
ước lượng tỷ lệ chi phí tín dụng bằng việc sử dụng xác suất vỡ nợ của mỗi hạng.
Khi ngân hàng sử dụng xác suất vỡ nợ của mỗi hạng để phân bổ vốn tương ứng, họ
cũng sử dụng xác suất vỡ nợ cuả mỗi ngân hàng để ước tính tỷ lệ chi phí vốn làm
cơ sở cho việc xác đònh lãi suất cho vay.
Dự đoán trên cơ sở đònh lượng khách quan về rủi ro trong cấp phát tín dụng.
Kết quả xếp hạng này là sự đánh giá khoa học. Nó mang đến cho các tổ chức tài
chính nhiều ý tưởng hơn trong việc phát triển sản phẩm và là cơ sở thống nhất để
đưa ra các quyết đònh trong quản trò ngân hàng.
Là một công cụ để ngân hàng ra quyết đònh cấp tín dụng. Việc xác đònh
khách hàng có khả năng trả được lãi và gốc của mình vào ngày đáo hạn và rủi ro
đối với khoản tiền được ấn đònh trong khế ứơc giữa khách hàng và ngân hàng. Từ
Sinh viên thực tập: Phạm Huỳnh Khuê Trang
21
Thực trạng của xếp hạng tín dụng nội bộ tại Sacombank
đó ngân hàng ra các quyết đònh cấp phát tín dung. Kết qủa xếp hạng tín dụng có
được bằng cách phân tích đánh giá các thông tin:
+ Lòch sử phát triển của công ty
+ Cơ cấu tổ chức tại công ty
gian đáo hạn dài hơn và lãi suất cố đònh được biết trước, ổn đònh qua nhiều năm và
không những huy động được trên thò trường vốn trong nước mà còn tìm kiếm các
đối tượng là các nhà đầu tư trên khắp thế giới để gia tăng số ngân quỹ mà họ cần.
Các nhà phát hành có thứ hạng xếp hạng tín dụng cao, có thể huy động được số
lượng nợ lớn hơn, thường xuyên hơn, tạo thêm nhiều quyền lựa chọn tài trợ cho họ
hơn.
c. Chi phí vay thấp hơn
Đối với các nhà đầu tư thì lợi nhuận sẽ đi đôi với rủi ro. Do vậy tại cùng một
thời điểm và một số điều kiện khác tương tự như nhau thì các nhà đầu tư sẽ yêu
cầu nhà phát hành có chỉ số xếp hạng tốt phải trả mức lãi suất thấp hơn. Như vậy
hệ số tín dụng giúp tổ chức phát hành có chỉ số tín dụng cao thuận lợi trong việc
huy động vốn với chi phí thấp. Thông qua những chỉ số đánh giá của tổ chức xếp
hạng tín dụng đưa ra, nhà đầu tư dễ dàng và tin tưởng tiếp cận với tổ chức phát
hành, cũng có nghóa là tổ chức phát hành sẽ tiết giảm được chi phí, thời gian và
tiền bạc cho việc tiếp thò, quảng cáo. Đặc biệt là chi phí cho các nhà bảo lãnh phát
hành sẽ thấp hơn. Do rủi ro thấp nên tổ chức phát hành có thể phát hành trái phiếu
với lãi suất thấp mà vẫn thu hút được nhà đầu tư.
Ngoài ra xếp hạng tín dụng còn là cơ hội để các doanh nghiệp được “Khám
sức khỏe” từ đó có những điều chỉnh hợp lý hơn.
Sinh viên thực tập: Phạm Huỳnh Khuê Trang
23
Thực trạng của xếp hạng tín dụng nội bộ tại Sacombank
2.1.3.3 Đối với các nhà quản lý
Trong vai trò quản lý của mình thì việc Ngân hàng nhà nước yêu cầu các
ngân hàng thực hiện trích lập dự phòng rủi ro là điều tất yếu. Tuy nhiên trích lập
bao nhiêu? Tỷ lệ như thế nào đối với một khoản nợ là một vấn đề hết sức nhạy
cảm. Hiện nay việc xác đònh nợ xấu gặp nhiều khó khăn do những qui đònh khác
nhau. Chẳng hạn:
- Theo đònh nghóa nợ xấu của Việt Nam tại Quyết đònh 493/2005/QĐ-Ngân
hàng Nhà nước ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước như sau: “Nợ xấu là
thống xếp hạng tín dụng nội bộâ. Như vậy xếp hạng tín dụng nội bộ sẽ góp phần
giảm thiểu những rủi ro tín dụng có thể xảy, đồng thời giúp cho công tác quản lý
được dễ dàng, minh bạch hơn.
2.1.4 Đối tượng xếp hạng.
Về nguyên tắc xếp hạng tín dụng được áp dụng cho cả người đi vay và các
giao dòch tín dụng. Tuy nhiên do tính chất khác nhau giữa các khách hàng. Để
chấm điểm và xếp hạng tín dụng khách hàng một cách khoa học thì Ngân hàng
phân chia khách hàng thành 3 nhóm:
- Nhóm khách hàng là doanh nghiệp.
- Nhóm khách hàng là cá nhân vay mục đích tiêu dùng.
- Nhóm khách hàng là các nhân vay mục đích sản xuất kinh doanh.
Do đó với bất kỳ món vay nào dù là khách hàng doanh nghiệp hay khách
hàng cá nhân, dù vay theo món hay vay theo hạn mức tín dụng, dù vay ít hay vay
nhiều thì đều phải xếp hạng tính dụng các món vay. Do tính đa dạng của khách
hàng như thế nên đối tượng của xếp hạng tín dụng rất đa dạng. Có thể tóm tắt lại
gồm các đối tượng sau:
Sinh viên thực tập: Phạm Huỳnh Khuê Trang
25
Thực trạng của xếp hạng tín dụng nội bộ tại Sacombank
2.1.4.1 Xếp hạng các công cụ nợ dài hạn, bao gồm việc xếp hạng tổ
chức phát hành nợ dài hạn và xếp hạng đợt phát hành nợ dài hạn
Xếp hạng tổ chức phát hành nợ liên quan tới việc đưa ra đánh giá chung về
năng lực của tổ chức phát hành nợ, của tổ chức bảo lãnh hoặc cung cấp các hỗ trợ
tín dụng nhằm đáp ứng các cam kết tài chính liên quan đến các nhà phát hành nợ
hoạt động trên thò trường tài chính Việt Nam. Còn xếp hạng đợt phát hành nợ dài
hạn là việc đánh giá khả năng của công ty hoàn trả vốn gốc và lãi vay.
Lý do ưu tiên xếp hạng cho đối tượng này rất rõ ràng và đơn giản. Việt Nam
đang đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa vì vậy nhu cầu đầu tư
được dự đoán sẽ tiếp tục tăng cao. Nền kinh tế trong nước với qui mô nhỏ chưa đáp
ứng được nhu cầu gia tăng đó và chênh lệch cung – cầu này phải được đáp ứng
Việc tiến hành xếp hạng tín dụng đối với các đối tượng này cần được coi là
một điều kiện bắt buộc nhằm bảo vệ công chúng đầu tư nói chung, vì đại bộ phận
trong số họ còn chưa có đầy đủ kiến thức và kinh nghiệm trong lónh vực đầu tư
chứng khoán. Việc xếp hạng bắt buộc này sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư những
thông tin chính xác về chất lượng cũng như những rũi ro trong hoạt động của doanh
nghiệp, giúp tạo ra nguồn thu đáng kể cho các tổ chức xếp hạng trong giai đoạn
đầu khó khăn.
2.1.4.4 Xếp hạng các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam (SMEs)
Hiện SMEs chiếm tới 95% tổng số doanh nghiệp Việt Nam và được coi là
khu vực có nhiều tiềm năng phát triển xen lẫn rủi ro cao. Một trong những vấn đề
nghiêm trọng cản trở việc vay vốn ngân hàng cho đầu tư phát triển của khu vực
SMEs chính là sự thiếu minh bạch thông tin và thiếu những nguồn cung cấp tin
đáng tin cậy về tình hình tài chính của các SMEs. Chính vì vậy, việc xếp hạng các
SMEs được coi là một bước đi quan trọng, vì nó giúp đem lại những lợi ích cho
Sinh viên thực tập: Phạm Huỳnh Khuê Trang
27
Thực trạng của xếp hạng tín dụng nội bộ tại Sacombank
chính các SMEs cũng như cho các tổ chức cho vay và cho sự phát triển nói chung
của kinh tế Việt Nam.
2.1.5 Giới thiệu mẫu quy trình, thang điểm xếp hạng tín dụng.
2.1.5.1 Bước 1: Xác đònh qui mô doanh nghiệp
Căn cứ vào các chỉ tiêu như: vốn, lao động, nghóa vụ thuế, doanh thu để
phân chia qui mô doanh nghiệp thành nhiều nhóm khác nhau:
Đối với tiêu thức về vốn: điểm thấp nhất cho tiêu thức này là 5, cao nhất là
30 và chấm theo nguyên tắc vốn càng cao thì điểm càng cao.
Đối với tiêu thức về doanh thu: Điểm thấp nhất cho tiêu thức này là 2 và cao
nhất là 40 chấm theo nguyên tắc doanh thu càng cao thì điểm càng cao
Đối với tiêu thức về nghóa vụ thuế: Điểm thấp nhất cho tiêu thức này là 1
cao nhất là 5 và chấm theo nguyên tắc nộp thuế càng nhiều thì điểm càng cao.
Đối với tiêu thức về lao động: Điểm thấp nhất cho tiêu thức này là 6 cao
Doanh nghiệp từ 30 – 69 điểm xếp loại qui mô trung bình
Doanh nghiệp có dưới 30 điểm xếp loại qui mô nhỏ
2.1.5.2 Bước 2: Đánh giá các chỉ tiêu tài chính
Sau khi xác đònh qui mô doanh nghiệp nhân viên xếp hạng tiến hành phân
tích và đánh giá các chỉ tiêu tài chính. Bốn loại chỉ tiêu được xem xét bao gồm: chỉ
tiêu đánh giá khả năng thanh khoản, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động, chỉ tiêu
đánh giá khả năng trả nợ và chỉ tiêu đánh giá thu nhập. Các chỉ tiêu tài chính khác
nhau giữa các ngành và qui mô doanh nghiệp. Do vậy phải đánh giá các chỉ tiêu tài
chính vừa theo ngành vừa theo qui mô doanh nghiệp. Dưới đây là thước đo để đánh
giá các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp theo từng ngành nghề:
Sinh viên thực tập: Phạm Huỳnh Khuê Trang
29
Thực trạng của xếp hạng tín dụng nội bộ tại Sacombank
a. Doanh nghiệp ngành nông lâm ngư nghiệp
Bảng 2.2: Tiêu chí đánh giá các chỉ tiêu tài chính DN ngành nông, lâm, ngư nghiệp
Chỉ tiêu
Trọng số
Tiêu chuẩn về các chỉ tiêu tài chính đối với các doanh nghiệp
Quy mô lớn Quy mô trung bình Quy mô nhỏ
A B C D A B C D A B C D
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14
Chỉ tiêu thanh khoản
Khả năng thanh toán ngắn hạn (Lần)
2 2,1 1,5 1 0.7 2.3 1.6 1.2 0.9 2.5 2 15 1
Khả năng thanh toán nhanh (lần)
1 1.1 0.8 0.6 0.2 1.3 1 0.7 0.4 1.5 1.2 1 0.7
Các chỉ tiêu hoạt động
Vòng quay hàng tồn kho
3 4 3.5 3 2 4.5 4 3.5 3 4 3 2.5 2
Kỳ thu tiền bình quân
Chỉ tiêu thanh khoản
Khả năng thanh toán ngắn hạn (Lần)
2 2,1 1.6 1.1 0.8 2.3 1.7 1.2 1 2.9 2.3 1.7 1.4
Khả năng thanh toán nhanh (lần)
1 1.4 0.9 0.6 0.4 1.7 1.1 0.7 0.6 2.2 1.8 1.2 0.9
Các chỉ tiêu hoạt động
Vòng quay hàng tồn kho
3 5 4.5 4 3.5 6 5.5 5 4.5 7 6.5 6 5.5
Kỳ thu tiền bình quân
3 39 45 55 60 34 38 44 55 32 37 43 50
Hiệu quả sử dụng tài sản
3 3 2.5 2 1.5 3.5 3 2.5 2 4 3.5 3 2.5
Các chỉ tiêu nợ
Nợ phải trả/Tổng tài sản
3 35 45 55 65 30 40 50 60 25 35 45 55
Nợ phải trả/ Nguồn vốn chủ sở hữu
3 53 69 122 185 42 66 100 150 33 54 81 122
Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ ngân hàng
3 0 1 1.5 2 0 1.6 1.8 2 0 1.6 1.8 2
Các chỉ tiêu thu nhập
Tổng TN trước thuế / DT thuần
2 7 6.5 6 5.5 7.5 7 6.5 6 8 7.5 7 6.5
Tổng TN trước thuế / Tổng tài sản có
2 6.5 6 5.5 5 7 6.5 6 5.5 7.5 7 6.5 6
Tổng TN trước thuế / NV chủ sở hữu
2
14.2 12.2 9.6 9.8 13.7 12 10.8 9.8 13.3 11.8 10.9 10
Nguồn: Nguyễn Minh Kiều, Tín dụng và thẩm đònh tín dụng ngân hàng, NXB
Tài chính, trang 309
Sinh viên thực tập: Phạm Huỳnh Khuê Trang
3 69 100 150 233 69 100 122 150 66 69 100 122
Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ ngân hàng
3 0 1 1.5 2 0 1.6 1.8 2 0 1 1.5 2
Các chỉ tiêu thu nhập
Tổng TN trước thuế / DT thuần
2 8 7 6 5 9 8 7 6 10 9 8 7
Tổng TN trước thuế / Tổng TS có
2 6 4.5 3.5 2.5 6.5 5.5 4.5 3.5 7.5 6.5 5.5 4.5
Tổng TN trước thuế/ NV chủ sở hữu
2
9.2 9 8.7 8.3 11.5 11 10 8.7 11.3 11 10 9.5
32
Thực trạng của xếp hạng tín dụng nội bộ tại Sacombank
d. Doanh nghiệp ngành công nghiệp
Bảng 2.5: Tiêu chí đánh giá các chỉ tiêu tài chính DN ngành công nghiệp
Chỉ tiêu
Trọng số
Tiêu chuẩn về các chỉ tiêu tài chính đối với các doanh nghiệp
Quy mô lớn Quy mô trung bình Quy mô nhỏ
A B C D A B C D A B C D
1
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13
Chỉ tiêu thanh khoản
Khả năng thanh toán ngắn hạn (Lần)
2 2 1.4 1 0.5 2.2 1.6 1.1 0.8 2.5 1.8 1.3 1
Khả năng thanh toán nhanh (lần)
1 1.1 0.8 0.4 0.2 1.2 0.9 0.7 0.3 1.3 1 0.8 0.6
Các chỉ tiêu hoạt động
Vòng quay hàng tồn kho
3 5 4 3 2.5 6 5 4 3 4.3 4 3.7 3.4
- Giá trò của chỉ tiêu tài chính nằm từ sau D trở về bên phải D: đạt 1 điểm.
Sinh viên thực tập: Phạm Huỳnh Khuê Trang
33
Thực trạng của xếp hạng tín dụng nội bộ tại Sacombank
Ngoài ra cần lưu ý một số trường hợp đặc biệt. Trong một số trường hợp nếu
doanh nghiệp bò lỗ khiến cho các chỉ tiêu phản ánh thu nhập có giá trò âm thì điểm
cho các chỉ tiêu này bằng 0. Tương tự, nếu trường hợp đặc biệt tỷ số Nợ phải trả /
Nguồn vốn chủ sở hữu âm do doanh nghiệp bò lỗ lũy kế nhiều năm làm mất hết
vốn khiến cho nguồn vốn chủ sở hữu âm thì điểm của chỉ tiêu này bằng 0.
2.1.5.3 Bước 3: Tổng hợp kết quả điểm và xếp loại doanh nghiệp
Đứng trên góc độ ngân hàng, là người cung cấp tín dụng, tầm quan trọng của
mỗi chỉ tiêu tài chính khác nhau. Ngân hàng luôn đánh giá các chỉ tiêu về doanh
thu, kỳ thu tiền bình quân, luân chuyển hàng tồn kho là rất quan trọng, vì nó liên
quan mật thiết đến việc thu hồi nợ và lãi của các khoản cho vay. Vì thế, khi tính
điểm các chỉ tiêu tài chính khác nhau được gán cho một trọng số khác nhau, tùy
theo tính chất quan trọng của chỉ tiêu đó, để thể hiện chính xác hơn mức độ tác
động khác nhau của chúng đến khả năng hoàn trả nợ của doanh nghiệp.
Nhìn vào các bảng trên ta thấy: trọng số gán cho mỗi chỉ tiêu tài chính
doanh nghiệp thay đổi từ 1 đến 3, tùy theo sự tác động của các chỉ tiêu tài chính đó
đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Đứng trên góc độ ngân hàng, tiêu chí an
toàn vốn cho vay là quan trọng nhất. Do đó trọng số cao hơn được gán cho các chỉ
tiêu có tác động mạnh đến mức độ an toàn vốn của ngân hàng hay khả năng hoàn
trả nợ của doanh nghiệp.
o Các chỉ tiêu có tác động mạnh và trực tiếp đến khả năng trả nợ bao
gồm nhóm các chỉ tiêu tỷ số hoạt động và tỷ số quản lý nợ. Do vậy, các chỉ tiêu
này được gán trọng số 3.
o Các chỉ tiêu có mức độ tác động trung bình đến khả năng trả nợ bao
gồm các chỉ tiêu tỷ số thu nhập được gán trọng số là 2. Các tỷ số này tuy quan
trọng ở chỗ thể hiện sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, nhưng chưa thể hiện
Sinh viên thực tập: Phạm Huỳnh Khuê Trang