BẢN CHẤT VÀ CHỨC NĂNG CỦA NH THƯƠNG MẠI - Pdf 63

I. BẢN CHẤT VÀ CHỨC NĂNG CỦA NH THƯƠNG MẠI
1. Bản chất của NHTM:
Bản chất của NHTM là thể hiện qua:
NHTM là một loại hình doanh nghiệp và là một đơn vị KT: Nói NHTM là một doanh
nghiệp và là một đơn vị KT nghĩa là NHTM hoạt động trong một ngành KT, có cơ cấu tổ
chức bộ máy như một doanh nghiệp bình đẳng trong quan hệ KT với các doanh nghiệp
khác, phải tự chủ về KT và phải đóng thuế cho nhà nước như các đơn vị KT khác.
Hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh. Để hoạt động kinh doanh,các NHTM phải
có vốn (vốn được cấp nếu là NH công, được cổ đông góp vốn nếu là NH cổ phần…) phải
tự chủ về tài chính (tự lấy thu nhập để bù đắp chi phí), đặc biệt hoạt động kinh doanh cần
đạt đến mục tiêu tài chính cuối cùng là lợi nhuận, hoạt động kinh doanh của NHTM cũng
không nằm ngoài xu hướng đó. Tuy nhiên việc tìm kiếm lợi nhuận là phải chính đáng trên
cơ sở chấp hành luật pháp của nhà nước.
Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ NH. Đây là
lĩnh vực “đặc biệt” vì liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành, liên quan đến mọi mặt của
đời sống KT-XH, lĩnh vực tiền tệ NH là lĩnh vực “nhạy cảm”, đòi hỏi một sự thận trọng và
khéo léo trong điều hành hoạt động NH để tránh những thiệt hại cho xã hội. Lĩnh vực hoạt
động này của NHTM góp phần cung ứng một khối lượng vốn tín dụng rất lớn cho nền KT-
XH…
Tóm lại, NHTM là loại hình định chế tài chính trung gian hoạt động kinh doanh
trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ NH. Đây là loại định chế tài chính trung gian quan trọng
vào loại bậc nhất trong nền KT thị trường, góp phần tạo lập và cung ứng vốn cho nền KT,
tạo điều kiện và thúc đẩy nền KT -xã hội phát triển.
2. Chức năng của NHTM:
2.1. Trung gian tín dụng
Là chức năng quan trọng và cơ bản nhất của NHTM. Với chức năng “trung gian tín
dụng”, NHTM là người trung gian đứng ra tập trung, huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm
thời nhàn rỗi trong nền KT (bao gồm tiền tiết kiệm của các tầng lớp dân cư, vốn bằng tiền
của các đơn vị, tổ chức KT,…) biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay (cấp tín dụng)
đáp ứng các nhu cầu vốn kinh doanh và vốn `đầu tư cho các ngành KT và nhu cầu vốn tiêu
dùng của xã hội.

 Nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn của các đơn vị KT các tổ chức và cá nhân
bằng đồng tiền trong nước và ngoại tệ.
 Nhận tiền gửi tiết kiệm của các tổ chức và cá nhân.
 Phát hành kỳ phiếu và trái phiếu NH để huy động vốn trong xã hội.
Cấp tín dụng đầu tư đáp ứng nhu cầu về vốn cho các chủ thể trong nền KT-XH:
 Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn đối với các đơn vị và cá nhân.
 Chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá đối với các đơn vị, cá nhân.
 Cho vay tiêu dùng, cho vay trả góp và các loại hình tín dụng khác đối với các tổ
chức và cá nhân.
Chức năng trung gian tín dụng của NHTM có vai trò và tác dụng rất to lớn đối với
nền KT-XH. Nhờ thực hiện chức năng này mà hệ thống NHTM huy động và tập trung hầu
hết các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của XH, biến tiền nhàn rỗi từ phương tiện tích
lũy nguồn vốn lớn của nền KT. Và hệ thống NHTM cung ứng một khối lượng vốn tín
dụng rất lớn cho nền KT. Đây là nguồn vốn rất quan trọng vì nó không những lớn về số
tuyệt đối mà vì tính chất luân chuyển không ngừng của nó.
Theo IMF cho biết nước nào có tỉ lệ dư nợ tín dụng trên GDP càng cao, thì hoạt
động có hiệu quả với hệ suất cao của hệ thống NHTM, làm cho nền KT tăng trưởng cao và
ổn định. Tỷ lệ tín dụng/ GDP của các nước công nghiệp phát triển phần lớn đều đạt trên
100% ở châu Á: Thái Lan, Trung Quốc, Singapore đều có tỷ lệ nói trên từ khoảng 120% -
135%. Ở Việt Nam tỷ lệ này chỉ mới đạt khoảng 65%.
Thông qua chức năng trung gian tín dụng NHTM góp phần tạo lợi ích cho tất cả các
chủ thể KT tham gia vào lợi ích chung của nền KT:
• Đối với người gửi tiền : Thông qua cơ chế huy động vốn của NH đã tập hợp các khoản
vốn tạm thời nhàn rỗi, tạo ra thu nhập cho những người gửi tiền dưới hình thức lãi tiền
gửi, bảo an toàn các khoản gửi tiền, cung cấp cho khách hàng những dịch vụ thanh toán
tiện lợi.
• Đối với người vay: Họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu về vốn để kinh doanh, chi tiêu, thanh
toán mà không phải tiêu tốn nhiều chi phí về sức lực, thời gian cho việc tìm kiếm nơi
cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp.
• Đối với bản thân NH: khoản lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất

nghiệp, tổ chức
KT, cá nhân)
Người thụ hưởng
Người bán (công
ty, xí nghiệp,tổ
chức KT,
cá nhân)
Ngân Hàng
Thương Mại
S
n
=
U
1
D ự tr ữ b ắ t bu ộ c
U
1
: tiền gửi ban đầu
Trên thực tế thì:
Kể từ ngày 01/07/2004 tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho các NHTM đô thị là 5% trên tiền
gửi không kì hạn hoặc có kì hạn dưới 12 tháng (được tính lãi suất 1,2%/năm theo quyết
định 923 ngày 20/07/2004 của NHNN Việt Nam).
2.4. Cung ứng dịch vụ NH:
Thực hiện chức năng trung gian gian tín dụng và trung gian thanh toán, vốn đã
mang lại những hiệu quả to lớn cho nền KT-XH. Các NHTM cần đáp ứng tất cả các nhu
cầu của khách hàng có liên quan đến hoạt động NH. Đó chính là việc cung ứng dịch vụ
NH. Nói đến dịch vụ NH, người ta thường gắn nó với hai đặc điểm:
Thứ nhất: Đó là dịch vụ mà chỉ có các NH với những ưu thế của nó mới có thể thực hiện
được một cách trọn vẹn và đầy đủ.
Ưu thế của NHTM được thể hiện qua các đặc điểm:

coi trọng nhiệm vụ này mà xem nhẹ chức năng và nhiệm vụ khác sẽ dẫn đến hoạt động
đơn điệu, thiếu tính phối hợp và hiệu quả sẽ không cao.
Mặt khác, nếu các ngân hàng thương mại đều chú trọng tất cả các chức năng và nhiệm vụ
của mình thì không những làm cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn, tỷ suất lợi
nhuận cao hơn mà còn có khả năng phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Phối hợp hài hòa và coi trọng hơn cả ba mảng hoạt động là tín dụng thanh toán và dịch vụ
ngân hàng, các ngân hàng thương mại sẽ có cơ hội đứng vững hơn trong cuộc chạy đua
trên thị trường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status