A. THỰC TRẠNG CÁN CÂN THANH TOÁN
VIỆT NAM TỪ 2007 - 2010
1. Tài khoản vãng lai
Cán cân văng lai từ năm 2007-2010:
2007 2008 2009 2010
Tài khoản văng lai (7) (10.787) (7.440) (6.050)
1. Cán cân thương mai (10.483) (12.782) (8.306) (8.200)
2. Dịch vụ ròng (897) (915) (1.129) 550
3. Chuyển tiền ròng 6.43 7.311 6.527 6.900
4. Thu nhập từ đầu tư ròng
(2.190) (4.401) (4.532) (4.200)
Các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân tài khoản vãng lai:
- Ảnh hưởng của lạm phát:
Lạm phát tăng → mua hàng nước ngoài tăng → giảm cán cân tài khoản vãng lai.
xuất khẩu sang nước khác giảm
Nếu một quốc gia có tỷ lệ lạm phát tăng so với các quốc gia khác có quan hệ mậu dịch thì
tài khoản vãng lai của các quốc gia này sẽ giảm nếu các yếu tố khác bằng nhau.
- Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái:
Hình: Thâm hụt cán cân thương mại nhìn từ góc độ tỷ giá hối
đ
o
á
i
Việc phá giá đồng tiền
t
r
o
n
g
nước sẽ góp phần làm
gi
ây
là
biện
pháp mà nhiều nước đã từng áp dụng như Hoa Kỳ áp dụng năm 1971 và 1973 để phá giá
đồng đô la. Năm 1986, đồng
Yên
buộc phải nâng giá so với các ngoại tệ khác đã làm
cho hàng hoá Nhật Bản trở nên kém tính cạnh tranh hơn so với
các
hàng
hoá nước khác.
Năm 1994, Trung Quốc đã áp dụng biện pháp phá giá đồng nhân dân tệ để thúc đẩy
xuất khẩu
hàng
hoá của Trung Quốc và cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ châu Á năm
1997 đã gây tình trạng phá giá hàng loạt các
đồng
tiền, sau đó 1-1.5 năm, cán cân
thương mại các nước đã được cải thiện đáng kể. Từ góc nhìn tỷ giá và thâm hụt
thương
S$TỶ GIÁ VND/USD
D$
Thâm hụt
PHÁ GIÁ
LƯỢNG USD
mại, biện pháp phá giá đồng tiền được coi là giải pháp thường được lựa chọn hơn cả.
Song trong điều kiện hiện tại,
việc
phá giá đồng tiền chịu tác động của nhiều loại ràng
sau:
Y = C + I + G + X – M
(1)
Trong đó Y là GDP, C là tiêu dùng của dân cư, I là đầu tư, G là chỉ tiêu của chính phủ, X-
M là cán cân thương
mại.
Vì Y = C+S + T (2) và S là tiết kiệm, T là khoản thu thuế của chính
phủ
Kết hợp công thức (1) và (2) thu được:
(S – I) + (T
-
G) = X - M
Cán cân thương mại được đo lường bằng tổng mức tiết kiệm ròng của tư nhân và mức
tiết
kiệm ròng của chính phủ. Công thức trên còn cho thấy mối quan hệ giữa các cân đối
trong nước và cân đối đối
ngoại.
Những mất cân đối đối ngoại đặc biệt là cân đối cán
cân thương mại có thể được sửa chữa bằng các tác động của các
cân
đối đối nội. Biện
pháp để cải thiện cán cân thương mại từ cách tiếp cận này cho thấy cần tăng mức tiết
kiệm trong dân cư
và
tiết kiệm trong chi tiêu của chính phủ hoặc cố gắng để cải thiện
tình hình thu thuế...Trong các biện pháp được đề xuất
từ
góc độ tiếp cận này có thể
thấy việc cắt giảm chi tiêu của chính phủ và cắt giảm chi tiêu của tư nhân là biện pháp
có
thương
mại lên tới gần 12.782 tỷ USD.
Nguyên nhân:
Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008: tình trạng bất ổn định tài chính như đói tín
dụng và thu hồi nợ, mất giá tiền tệ, sụt giá chứng khoán diễn ra đồng thời nhiều nơi trên
thế giới từ tháng 8 năm 2008. Cuộc khủng hoảng này là sự phát triển và lan tỏa của cuộc
Khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ năm 2007 và nó tiếp tục diễn ra cho đến năm 2009. Cuộc
khủng hoảng tài chính đă ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế các nước, khởi đầu từ thị
trường tín dụng dưới chuẩn (cho vay thế chấp rủi ro cao) tại Mỹ, sau đó tiếp tục từ lĩnh vực
tài chính-tiền tệ lan sang các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác, gây ra suy thoái kinh tế ở
nhiều nơi và tăng trưởng kinh tế chậm lại ở hầu hết các nước khác.
Khủng hoảng tài chính bắt đầu ở Mỹ lan rộng thành khủng hoảng toàn cầu:
Ngày 15/9/2008, ngân hàng đầu tư lớn thứ 4 của Mỹ Lehman Brothers nộp đơn bảo hộ phá
sản, cùng ngày hôm đó ngân hàng lớn thứ ba Merrill Lynch cũng bị ngân hàng Mỹ mua lại.
Ngày 16/9, công ty Tập đoàn Tài chính Bảo hiểm Quốc tế Mỹ AIG đă bị chính phủ Mỹ tiếp
quản.
Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ lan rộng ra trên khắp các thị trường tài chính
phát triển. Hàng loạt các ngân hàng lớn nhỏ bị sụp đổ, bị sáp nhập hoặc quốc hữu hóa. Tín
dụng toàn cầu bị co rút lại. Có rất nhiều ngân hàng từ châu Á sang châu Âucho Lehman
Brothers và các ngân hàng Mỹ phá sản vay những số tiền rất lớn. Ngoài ra, có nhiều ngân
hàng quốc tế đă bị “nhiễm độc” với trái phiếu MBS và các hợp đồng CDS.
Trong thời đại toàn cầu hóa, khi các ngân hàng toàn cầu có mối quan hệ tín dụng đan xen
nhau nhằng nhịt, cuộc khủng hoảng tài chính của nền kinh tế lớn nhất là Mỹ đă nhanh
chóng lây lan sang các nước khác như hiệu ứng đô-mi-nô.
Cuộc khủng hoảng kinh tế lan rộng: bắt đầu từ địa ốc, ảnh hưởng đến tín dụng, lan dần
sang nhiều ngành nghề công nghiệp: hàng không, sản xuất xe hơi, điện tử, …. Đối với từng
khu vực, từng lĩnh vực, tác động sẽ khác nhau vì nó phụ thuộc vào mối quan hệ kinh tế
thực tế trong lĩnh vực vay trả nợ, xuất nhập khẩu, đầu tư kỹ thuật, công nghệ, những nước
nào hoặc những khu vực nào phụ thuộc hoàn toàn vào Mỹ sẽ chịu ảnh hưởng lớn và bị tác
động trực tiếp.
cầu là có đơn hàng cũng không dám ký vì tình trạng thiếu hụt vốn, giá nguyên liệu đầu vào
lại biến động thất thường. Một số doanh nghiệp ký được đơn hàng phải chịu cảnh giảm giá
hoặc đơn hàng bị sụt giảm nghiêm cảnh giảm giá nghiêm trọng.
- Dầu thô:
Trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, dầu thô luôn được coi là một trong những
nhóm hàng xuất khẩu chủ lực và có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới. Bên
cạnh đó, nguồn thu ngân sách quốc gia Việt Nam cũng phụ thuộc phần lớn vào xuất khẩu
dầu thô và tài nguyên khoáng sản. Chính vì thế, mỗi sự biến động của sản lượng hay giá
xuất khẩu của mặt hàng này, đều ảnh hưởng lớn đến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Và năm 2008 chính là một điển hình cho sự biến động của giá dầu.
Theo số liệu thống kê cho biết, trong quý 1-2008, lượng dầu thô xuất khẩu của Việt Nam là
là 3,67 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 2.757 triệu USD; bằng 149% so cùng kỳ 2007 và
chiếm 21,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Đạt được mức tăng trưởng trên cũng
nhờ sự đóng góp quan trọng của việc giá xuất khẩu dầu tăng.
Tuy nhiên đang từ ngưỡng đỉnh cao 147USD/thùng hồi tháng 7.2008, giá dầu thô thế giới
đột ngột giảm thấp thủng đáy 50USD/thùng. Đối với DN xuất khẩu dầu thô thì việc dầu
giảm giá lại là một tín hiệu không vui. Giá dầu sụt giảm vì những lo ngại là cuộc khủng
hoảng tài chính năm 2008 sẽ làm chậm lại nền kinh tế toàn cầu và giảm bớt mức cầu nhiên
liệu, đặc biệt những nước có nguồn cầu số 1 thế giới phải cắt giảm dự trữ và tiêu thụ như
Mỹ, Trung Quốc khiến dầu tuột dốc không phanh. Giá dầu giảm đương nhiên sẽ tác động
đến nguồn thu từ xuất khẩu dầu mỏ của VN. Ngày 18/12/2008 giá dầu thô đứng ở mức
39,9USD/thùng. Sự sụt giảm giá dầu thô là nguyên nhân chủ yếu khiến xuất khẩu Việt
Nam sụt mạnh trong những tháng cuối năm.
Biểu đồ thể hiện sự biến động của giá dầu thô trên thế giới năm 2008 & đầu 2009.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
đă tác động làm giá dầu thô giảm
mạnh
- Nông sản:
Trong 6 tháng đầu năm 2008, xuất khẩu nông lâm thuỷ sản gặp thuận lợi về giá cả và thị
trường do thị trường thế giới về các mặt hàng nông sản luôn trong tình trạng cung thấp hơn
2.2008 giá cà phê ở vào thời kỳ hoàng kim 40.000 - 42.000 đồng /kg; thì đến cuối năm giá
cà phê trong nước chỉ còn 26.000 - 27.000 đồng /kg
Qua tình hình biến động như trên, ta có thể thấy trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, giá cả
nông sản ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào các yếu tố kinh tế vĩ mô như chính sách tiền
tệ, sự cân bằng ngân sách quốc gia, tỉ giá, các chính sách thương mại quốc tế và cả đầu tư
nước ngoài. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu sẽ khiến cho tất cả các quốc gia xem xét, điều
chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô và điều này sẽ lại làm cho giá cả xuất nhập khẩu trở nên
khó lường. Bên cạnh đó, nhiều quỹ đầu tư đồng loạt rút vốn ra khỏi hoạt động đầu tư nông
sản dẫn tới sự giảm cầu trên các thị trường kỳ hạn, cũng tác động làm giá nông sản giảm
đột ngột. Nhìn lại những diễn biến của thị trường nông sản năm 2008, các chuyên gia đều
đánh giá “nhiều mặt hàng nông sản đă lên rồi xuống giá theo sóng hình sin, với biên độ
doăng ra rất rộng, ngoài khả năng ứng phó của các cơ quan quản lý, DN và nông dân”.
Năm 2009, tình hình vẫn chưa thể chuyển biến theo chiều hướng lạc quan, khi mà các mặt
hàng nông sản xuất khẩu đang là thế mạnh của VN đều bị suy giảm cả về giá và khối
lượng, trong khi sức mua của thế giới vẫn giảm.
Bên cạnh việc xem xét tình hình xuất khẩu nông sản nói chung, chúng ta hăy xem tình hình
xuất khẩu gạo-một mặt hàng nông sản chính và cũng gặp phải nhiều biến động trong năm
qua. Một điều đáng lưu ý là do tác động của khủng hoảng, kim ngạch xuất khẩu của các
mặt hàng nông sản khác sụt giảm nghiêm trọng nhưng gạo lại đạt được sự tăng trưởng
trong kim ngạch của mình.
- Gạo:
Nhìn tổng quan về tình hình phát triển trong năm,có thể đưa ra nhận xét chung rằng thị
trường gạo năm 2008 có nhiều biến động lớn.
Trước hết, lo ngại khủng hoảng lương thực toàn cầu lan rộng từ giữa tháng 4 đến đầu tháng
5 đă khiến giá cả lương thực tăng vọt. Nguyên nhân là do các nước sản xuất gạo chính trên
thế giới như Việt Nam, Ấn Độ áp lệnh cấm xuất khẩu gạo khiến nguồn cung trên thị trường
bị thu hẹp, Philippin, quốc gia nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới, đă gia tăng khối lượng
nhập khẩu gạo lên gấp 1,5 lần so với năm ngoái do lo ngại khan hiếm lương thực. Đến cuối
năm, giá cả hàng hoá lại một lần nữa chịu ảnh hưởng, đồng loạt sụt giảm mạnh khi nền
kinh tế Mỹ có dấu hiệu đi xuống, so với tháng 9, giá lúa gạo trên thị trường trong nước
mức tăng trưởng rất thấp và đang đi xuống. Các doanh nghiệp phải đối mặt với giá giảm,
thị trường bị thu hẹp do tổng cầu thế giới giảm và cạnh tranh trên các thị trường sẽ khó
khăn. . Rõ nhất là nhu cầu tiêu dùng những mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao của Việt Nam
ở nhiều thị trường lớn như Mỹ, EU giảm sút. Đối với những mặt hàng nhu cầu tiêu dùng
không giảm cũng khó khăn do những nhà nhập khẩu ở các thị trường này không vay được
vốn ngân hàng để nhập hàng. Bên cạnh đó, khó khăn lớn khác hiện nay đe doạ khả năng
xuất khẩu của các doanh nghiệp được các chuyên gia chỉ ra là do các đối tác nước ngoài
không thể mở L/C. Đơn giản vì các nước đang siết chặt tín dụng nên các ngân hàng sẽ
ngưng cho vay khiến cho nhiều nhà nhập khẩu không mở được L/C, theo đó phía Việt Nam
sẽ không giao được hàng. Biểu hiện rõ nhất là trong tháng 10, kim ngạch xuất khẩu dự
tính sẽ giảm nhẹ so với mức bình quân từ đầu năm đến nay là 5,4 tỷ USD/tháng, đạt 5,1 tỷ
USD nhưng kết quả thực tế đă giảm khá mạnh chỉ đạt 4,7 tỷ USD, giảm tới 700 triệu USD
so với tháng trước.
Quả thực, kinh tế thế giới suy giảm đă ảnh hưởng rõ nét đến kim ngạch xuất khẩu Việt
Nam trong những tháng cuối năm 2008 và sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến xuất khẩu những
tháng đầu 2009. Trong 13 mặt hàng xuất khẩu chủ lực gồm giầy dép, thủy sản, cà phê, hạt
điều, dệt may, điện tử và linh kiện máy tính thì có đến 12 mặt hàng giảm từ 10-20%.
1.1.1.2. Tình hình nhập khẩu
Tình hình nhập khẩu trong năm 2008.
Do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu khiến giá hàng hoá,
vật tư, máy móc, thiết bị giảm mạnh. Vì vậy, các doanh nghiệp ở trong nước sẽ tranh thủ
cơ hội này để gia tăng lượng hàng nhập về với giá rẻ. Điều này sẽ khiến khối lượng nhập
khẩu ở một số mặt hàng tăng cao, nhất là ở nhóm hàng máy móc, thiết bị.
Năm 2008, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu đạt khoảng 80,4 tỷ USD, tăng 28,3% so với năm
2007, bao gồm khu vực kinh tế trong đạt khoảng 51,8 tỷ USD, tăng 26,5%; khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài đạt 28,6 tỷ USD, tăng 31,7%. Trong tổng kim ngạch hàng hoá nhập khẩu
năm 2008, tư liệu sản xuất chiếm 88,8%; hàng tiêu dùng chiếm 7,8%; vàng chiếm 3,4% (năm
2007 tỷ trọng của 03 nhóm hàng này týõng ứng là: 90,4%; 7,5%; 2,1%). Nếu loại trừ yếu tố
tăng giá của một số mặt hàng thì kim ngạch nhập khẩu năm nay chỉ tăng 21,4% so với năm
2007.
trong các tháng cuối năm, nhu cầu nhập khẩu có thể tăng lên khi các biện pháp hỗ trợ sản