ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHO VAY MUA NHÀ ,XÂY MỚI VÀ SNN TẠI
NH TMCP CÔNG THƯƠNG-CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
3.1. Kết quả đạt được
Hoạt động cho vay mua nhà,xây mới và SCN ở tại chi nhánh tuy tỉ trọng còn thấp
trong tổng dư nợ bình quân và lợi nhuận mang lại, nhưng nếu xét trên con số tuyệt đối thì
hoạt động này cũng mang lại kết quả không nhỏ. Điều này cũng nhờ sự nỗ lực, cố gắng hết
mình của chi nhánh trong thời gian qua với nhiều mặt mạnh như:
3.1.1. Trước hết, tỷ lệ nợ xấu tại chi nhánh trong thời gian qua còn khá thấp: dưới
1% và hoàn toàn trong mức kiểm soát với mục tiêu nợ xấu dưới 2%, dư nợ bình quân có
tăng trưởng mặc dầu tình hình kinh tế gặp rất nhiều khó khăn, điều này chứng tỏ công tác
thẩm định, kiểm tra và giám sát các khoản vay rất chặt chẽ với mục tiêu đảm bảo an toàn
nguồn vốn, thể hiện tinh thần, trách nhiệm và năng lực của cán bộ đội ngũ nhân viên trong
chi nhánh nói chung và CBTD nói riêng. Theo tình hình thời gian qua ta thấy CBTD rất
thận trọng trong tiếp nhận hồ sơ và cho vay. Mặc dầu, cho vay mua nhà, xây mới và SCN ở
với hình thức bảo đảm chủ yếu là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, đây là loại
hình tài sản rất đa dạng và phức tạp nhưng vẫn đảm bảo chất lượng vay tốt và nhiều hồ sơ
khi rơi vào tình trạng nợ xấu, công tác phát mãi tài sản thế chấp thu hồi nợ tổn thất không
nhiều cũng chính nhờ vào năng lực của CBTD.
3.1.2. Trong thời gian qua, chi nhánh cũng đã có sự quan tâm đến huấn luyện, đào
tạo chuyên môn nghiệp vụ cho CBTD:
như mới đây 9/2009 tổ chức hướng dẫn cho họ về cho vay mua nhà dự án trong toàn hệ
thống ngân hàng.
3.1.3. Chính sách cho vay: mức cho vay tối đa trên TSBĐ tương đối phù hợp, chấp nhận
nhiều hình thức bảo đảm khác nhau, thời gian vay mua nhà lên đến 20 năm, lãi suất mang
tính cạnh tranh.
3.1.4.Có mạng lưới phòng giao dịch rộng khắp trên địa bàn như:
Hệ thống nằm rải rác trên các tuyến đường Hùng Vương, Trần Cao Vân, Núi Thành, Phan
Châu Trinh,..và mới đây nhất là trên đường Ông Ích Đường thuộc quận Cẩm Lệ - mới đưa
vào hoạt động năm 2008. Đây là khu vực mới được quy hoạch, số lượng hộ gia đình có
nhu cầu mua nhà, xây mới là rất lớn, bên cạnh đó do bị địa bàn thấp trũng nên chịu ảnh
hưởng nặng nề của ngập lụt, nhu cầu sửa chữa nhà ở cũng rất cao. Việc phát triển thêm
3.2. Hạn chế :
Mặc dù cho vay mua nhà,xây mới và SCN ở trong những năm qua đã phát triển nhanh
chóng nhưng nếu đem so sánh với dư nợ chung của cả ngân hàng thì tỷ lệ này vẫn chiếm
một phần rất nhỏ, và tương ứng với tỷ trọng doanh thu từ hoạt động này cũng sẽ không
cao. Bên cạnh những nguyên nhân nêu trên còn do những hạn chế sau:
3.2.1. Về chính sách cho vay và áp dụng chính sách cho vay: Do yếu tố lịch sử của chi
nhánh, trứơc đây đối tượng cho vay chủ yếu của chi nhánh là những pháp nhân, việc triển
khai cho vay tiêu dùng nói chung và mua nhà, xây mới và SCN ở nói riêng chưa được quan
tâm đúng mức trong chính sách cũng như áp dụng chính sách trong thực tế như:
+ Thời hạn cho vay xây nhà còn ngắn: một mặt,chưa mang tính cạnh tranh với các ngân
hàng hàng khác trên địa bàn. Mặt khác, còn gây khó khăn cho người vay khi áp lực chi trả
hàng kì quá cao phần lớn chưa đáp ứng đủ.
+ Mức cho vay tối đa, thời gian vay và đối tượng cho vay bảo đảm không bằng TS còn
hạn chế.
+ Tỷ trọng cho vay /giá trị tài sản bảo đảm chưa linh hoạt: theo chính sách cho vay tiêu
dùng tại chi nhánh thì khách hàng được vay tối đa 70% giá trị của tài sản đảm bảo(phần
lớn là giá trị nhà đất) giá trị này do CBTD định giá (và thường thấp hơn so với giá trị thị
trường). Mặc dầu đã có những biện pháp điều chỉnh so nhằm phù hợp hơn với tình hình giá
cả thị trường song do công tác phân công trách nhiệm tại chi nhánh tạo nhiều áp lực cho
CBTD, khả năng thu thập thông tin còn hạn chế. Bên cạnh đó, chưa có tổ chuyên môn
định giá nên đa số vẫn áp dụng theo phương pháp cũ nên ngân hàng thường chỉ cho vay ở
mức 45%-60% giá trị tài sản đảm bảo, không thỏa mãn được tối đa nhu cầu của khách
hàng.
+ Phương thức thu nợ, thời gian giải quyết hồ sơ, mức phí chưa thực sự mang
tính cạnh tranh: phí hồ sơ vay cũng là điều cần cân nhắc cùng với khả năng cho vay tối
đa của ngân hàng. Tuy nhiên, hiện nay nhiều ngân hàng đều không thu phí làm hồ sơ vay
tín chấp như ABC,SacomBank, MB… trong khi đó hiện nay ngân hàng chưa có chính sách
miễn giảm phí đối với lĩnh vực cho vay này.
+ Tài sản đảm bảo là nhà đất được quyền thế chấp thì phải được cấp giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở: Vì thế nhiều khách hàng có nhân thân tốt,
đẩy nhanh quá trình hoàn thiện hồ sơ. Bên cạnh đó, thì quá trình xét duyệt hồ sơ còn mang
tính thủ công phải tới ngân hàng để nộp hồ sơ và biết kết quả làm tốn nhiều thời gian và
công sức của khách hàng.
3.2.2. Về công tác Marketing:
+ Trong số các ngân hàng trên địa bàn NHTMCP Công Thương – Chi nhánh Đà Nẵng chưa
tạo được hình ảnh và uy tín như một số các NHCP khác như ACB, Sacombank, hay NH
Đông Á trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng.
+ Cùng đối tượng khách hàng cá nhân nhưng chi nhánh chưa có chiến lược kinh doanh cụ
thể để cạnh tranh về sản phẩm, dịch vụ ( về giá cả, thời gian phục vụ, ưu đãi khuyến mãi,..)
so với các ngân hàng khác. Các sản phẩm, dịch vụ chưa gắn kết được với công nghệ hiện
đại. Hiện nay, các NHTM đưa ra các sản phẩm tuy không mới về nội dung nhưng mới về
hình thức, như sản phẩm “ nhà mới ” của Techcombank, “ an cư lạc nghiệp ” của
Sacombank,…
+ Bên cạnh đó, hoạt động markeing chưa thực sự phát huy hiệu quả, hiện tại chi nhánh đã
có bộ phận marketing và phát triển sản phẩm mới, thuộc phòng tổng hợp với nhiệm vụ tìm
kiếm các cộng tác viên và phát triển sản phẩm mới, tuyên truyền, quảng cáo. Nhưng sự
phối kết hợp các hoạt động giữa các phòng ban chưa tốt dẫn đến hiệu quả hoạt động chung
của toàn chi nhánh chưa cao. Hoạt động marketing của bộ phận tín dụng chủ yếu do CBTD
đảm trách, song song với theo dõi quản lý hồ sơ cho vay họ còn phải tiếp thị mở rộng thị
trường.
+ Việc quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình,báo chí về cho
vay tiêu dùng của chi nhánh còn hạn chế, chủ yếu là trên internet. Việc giới thiệu còn
chung chung chưa thật sự đi vào chi tiết nhằm giúp khách hàng biết được những lợi ích
cũng như việc hướng dẫn chi tiết cho khách hàng về thủ tục hồ sơ thiết yếu,.. như các ngân
hàng khác. Cũng chính vì thế có thể nhận thấy, khách hàng đến vay tiêu dùng tại ngân hàng
chủ yếu là khách hàng truyền thông gắn bó lâu năm với ngân hàng hoặc qua sự giới thiệu
của người thân, bạn bè, cán bộ công nhân viên của chi nhánh. Trong khi sự cạnh tranh diễn
ra ngày một gay gắt thì đây có thể xem là một trong những nguyên nhân cơ bản.
3.2.3. Các nhân tố bên ngoài:
+ Tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và sử dụng đất ở trên địa
điều kiện vay vốn thì không được mua nhà thu nhập thấp. Vì thế, tín dụng cho người có thu
nhập thấp vẫn chưa thực sự có chuyển biến.
Rất dễ hiểu khi trong thời gian qua, các doanh nghiệp công bố rất nhiều dự án nhà giá rẻ,
dành cho người thu nhập thấp với giá bán căn hộ khoảng 300-450 triệu đồng/căn nhưng
chẳng có người thu nhập thấp nào có thể mua được nhà tại các dự án này. Vì nếu mua trả
góp, ngoài khoản tiền 30% đóng trước (khoảng 100 triệu đồng), khách hàng cần phải
chứng minh hàng loạt điều kiện thu nhập mà chỉ những người có thu nhập cao mới đáp
ứng được.Thêm vào đó, thu nhập của người mua nhà sau khi trả tiền hàng tháng thường
còn dư rất ít do đó họ sẽ khó khăn trong việc dành dụm tiền cho các chi tiêu sinh hoạt hàng
ngày. Thời gian trả góp quá ngắn (thường là 10 - 15 năm) nên số tiền trả mỗi tháng lớn.
+ Tồn tại các hình thức cạnh tranh khác: Hiện nay, một số cá nhân kinh doanh mang tính
tập thể như các tiểu thương trong chợ ,tổ hội phụ nữ,…tồn tại rất phổ biến hình thức biêu,
hụi là một dạng tiết kiệm trong dân, đây cũng có thể là nguồn vốn góp hỗ trợ vào mục đích
mua nhà, xây mới và SCN ở rất hữu hiệu, họ cho rằng phương pháp này thuận lợi hơn các
hình thức cho vay với thủ tục phiền hà, tốn nhiều công sức đi lại và khắc phục tâm lý e
ngại khi đến ngân hàng vay vốn.
+ Tình hình biến động giá cả thị trường: Bên cạnh đó, do ảnh hưởng lạm phát, lãi suất,
giá cả nguyên vật liệu tăng cao cũng gây tâm lý e ngại của người dân khi tiến hành vay vốn
để xây dựng, sửa chữa nhà ở trong giai đoạn này.
+ Đối thủ cạnh tranh:
Do sự phát triển ngày càng dày đặt trên địa bàn không chỉ giữa các ngân hàng với nhau mà
với cả các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Cạnh tranh về cả huy động nguồn vốn và cho
vay.
3.3 Định hướng phát triển trong thời gian tới :
Qua hơn nhiều năm hoạt động tại Đà Nẵng.Chi nhánh Công Thương Đà Nẵng đã đạt được
nhiều thành quả to lớn, không những mang lại lời nhuận cho Ngân hàng mà còn giúp hỗ trợ
kịp thời vốn cho các tổ chức và dân cư thực hiện tốt hoạt động sản xuất kinh doanh của
mình, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân.
Phát huy những thành quả đạt được trong thời gian qua, Chi nhánh Công Thương tiếp tục
mở rộng mạng lưới hoạt động, không ngừng nâng cao và xây dựng nền tảng vững chắc để
+ Mở rộng đối tượng vay vốn trong hình thức bảo đảm không bằng TS:
Chi nhánh có thể mở rộng đối tượng vay vốn ra các công ty có vốn đầu tư nước
ngoài,công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân,...Hiện nay, các doanh nghiệp
này phát triển rất nhanh trên địa bàn, thu hút đông đảo số lượng lao động tham gia, họ đa
số là những người trẻ tuổi, người từ nơi khác đến, thu nhậpcũng khá cao và ổn định. Để
đảm bảo an toàn chi nhánh nên đưa ra một số điều kiện, chỉ tiêu đánh giá tình hình hoạt
động ổn định đối với các doanh nghiệp như: phải làm ăn kinh doanh có lãi trong khoản