THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ ĐẠI LÝ CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1. Tổng quan về hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng
Sau 2 năm gia nhập WTO, hoạt động đối ngoại trong lĩnh vực ngân hàng của Việt
Nam đã góp phần thực hiện thành công chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa
phương hóa nhằm tăng cường vị thế và uy tín của Việt Nam nói chung và hệ thống ngân
hàng Việt Nam nói riêng trong khu vực và trên thế giới. Một số kết quả đã đạt được như
sau:
Thứ nhất, thực hiện đầy đủ và hiệu quả các cam kết gia nhập WTO trong lĩnh vực
ngân hàng
Thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ nhằm đảm bảo nền kinh tế phát
triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên WTO, NHNN đã ban hành Chương
trình hành động của NHNN thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ sau khi Việt
Nam gia nhập WTO giai đoạn 2007 – 2012. Đến nay, NHNN đã sửa đổi, bổ sung và ban
hành mới nhiều văn bản pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo hướng minh bạch
hoá chính sách, tuân thủ các nguyên tắc thị trường và cam kết quốc tế nhằm tạo môi trường
hoạt động kinh doanh ngày càng thông thoáng, thuận lợi cho các TCTD hoạt động tại Việt
Nam; trong đó NHNN đã tích cực triển khai tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện Luật
NHNN và Luật các TCTD.
Thực hiện các cam kết gia nhập WTO liên quan đến tiếp cận thị trường và đối xử
quốc gia trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng, NHNN đã triển khai các hành động cụ thể:
- Về việc thiết lập hiện diện thương mại của các tổ chức tín dụng nước ngoài tại
Việt Nam: Hiện nay, NHNN đang hoàn tất trình Chính phủ ban hành Nghị định thay thế
Nghị định số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 về tổ chức và hoạt động của ngân hàng
thương mại; đang hoàn thiện Thông tư sửa đổi Thông tư 03/2007/TT-NHNN hướng dẫn thi
hành một số điều của Nghị định 22/2006/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của chi nhánh
ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, văn phòng
đại diện của TCTD nước ngoài tại Việt nam, quyết định sửa đổi nội dung Giấy phép mở
chi nhánh ngân hàng nước ngoài và giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng liên
doanh, và ban hành quy chế quy định về việc mở và quản lý hoạt động của văn phòng đại
diện, chi nhánh của các tổ chức nước ngoài không phải là tổ chức tín dụng có hoạt động
thảo luận tích cực tại diễn đàn này bao gồm: các quy định hướng dẫn trong lĩnh vực quản
lý ngoại hối, tác động của chính sách tiền tệ, lãi suất, tỷ giá đến hoạt động ngân hàng, phát
triển cho vay tiêu dùng…
Thứ hai, thúc đẩy hợp tác song phương và đa phương trong lĩnh vực tài chính ngân
hàng
Quan hệ hợp tác song phương giữa NHNN với NHTW các nước trên khắp thế giới
tiếp tục phát triển. Chỉ riêng năm 2008, NHNN đã ký văn bản hợp tác với 10 cơ quan quản
lý ngân hàng các nước Anh, Hồng Kông, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nga, Đài Loan, Úc,
Malaysia, Singapore và Nhật Bản. Các văn bản hợp tác này đã tạo cơ sở giúp NHNN xây
dựng được kênh thông tin trao đổi 2 chiều hữu ích với cơ quan quản lý của các tổ chức tín
dụng có hoạt động tại Việt nam.
Trong khuôn khổ triển khai thiết lập các khu vực mậu dịch tự do giữa ASEAN với
các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Úc, New Zealand và Ấn Độ thông qua việc
xây dựng các Hiệp định và Thoả thuận hợp tác kinh tế toàn diện, NHNN đã tham gia tích
cực vào các phiên đàm phán với các nước đối tác gồm Úc – New Zealand, EU, Trung
Quốc. Tại các phiên đàm phán này, NHNN đã chủ động trao đổi với các đối tác cũng như
với các nước ASEAN khác để có thể đạt được các cam kết thuộc lĩnh vực tài chính, ngân
hàng thuận lợi nhất cho Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam cũng đang chuẩn bị thiết lập đàm
phán Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN – Chile và xây dựng Hiệp định Đầu tư Việt Nam –
Venezuela.
Trong hợp tác ASEAN+3, năm 2008 đã đánh dấu một mốc đặc biệt quan trọng với
việc Việt Nam là đồng chủ trì với Nhật Bản trong tiến trình hợp tác tài chính ASEAN+3.
NHNN cùng với Bộ Tài chính Nhật Bản đã chủ trì thành công các cuộc họp Nhóm đặc
trách về Đa phương hoá Sáng kiến Chiềng Mai. Đây là sáng kiến hợp tác giữa các nước
ASEAN và Nhật bản, Trung quốc và Hàn quốc nhằm tạo ra cơ chế hỗ trợ cán cân thanh
toán trong ngắn hạn khi gặp rủi ro. Trong bối cảnh khó khăn về kinh tế vĩ mô như hiện
nay, Sáng kiến này sẽ là nội dung hợp tác quan trọng trong khu vực, góp phần củng cố lòng
tin của thị trường vào khả năng hỗ trợ lẫn nhau giữa các quốc gia thành viên khi một quốc
gia thành viên gặp phải khó khăn tạm thời về cán cân thanh toán.
Bảng 2.1. Danh sách các nước và khu vực có quan hệ hợp tác trong lĩnh vực ngân
Eximbank 750 82
Agribank 931 132
Vietinbank 850 80
BIDV 912 -
ACB 593 80
Sacombank 756 80
Liên Việt Bank 1001 100
Ngân hàng quân đội 700 75
Nam Á 200 -
Phương Đông 251 -
VIBank 323 62
Đông Á 742 105
VP Bank 256 73
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo thường niên của các ngân hàng
Năm 2008 đánh dấu mốc 2 năm Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới
WTO và thực hiện các cam kết dịch vụ theo Hiệp định GATS của WTO. Nếu so với các
ngân hàng nước ngoài, số lượng ngân hàng đại lý của các ngân hàng Việt Nam vẫn dừng
lại ở mức trung bình. Do lợi thế về kinh nghiệm hoạt động lâu năm trên lĩnh vực tài chính
– ngân hàng, các ngân hàng nước ngoài đã sớm thiết lập mạng lưới ngân hàng đại lý trải
rộng khắp các châu lục (Citibank đã có trên 5000 ngân hàng đại lý – số liệu năm 2004) và
chuyển hướng sang một bước phát triển mới là thành lập các chi nhánh, văn phòng đại diện
của ngân hàng mình tại nước ngoài. Hoạt động ngân hàng đại lý của các ngân hàng Việt
Nam hiện nay vẫn đang trong giai đoạn phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu thực của
khách hàng và bản thân các ngân hàng trong nghiệp vụ ngân hàng quốc tế. Vấn đề phát
triển mạng lưới đại lý của các ngân hàng Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn phát triển
theo chiều rộng – nghĩa là tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác và số lượng ngân hàng đại
lý được thiết lập với các ngân hàng nước ngoài. Đây là bước phát triển trong giai đoạn đầu
khi các ngân hàng Việt Nam chưa có đủ tiềm lực để mở rộng thị trường của mình ở nước
ngoài theo hướng thành lập các văn phòng đại diện, chi nhánh ngân hàng…
Hình 2.1. Biểu đồ phân bổ ngân hàng đại lý theo khu vực của các NHTM Việt
Giá trị kiều hối 4 4.2 6 7.2 6.28
Tốc độ tăng trưởng - 5% 42.8% 20% -12.7%
Nguồn: Tổng hợp các báo cáo trên Cổng thông tin điện tử - Thời báo kinh tế
Việt Nam
Kiều hối sụt giảm trong năm 2009 là điều đã được dự báo trước khi khủng hoảng
toàn cầu chưa chấm dứt và tình trạng thất nghiệp ở Mỹ tiếp tục gia tăng. Thu nhập của các
kiều bào đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài sụt giảm thì việc chuyển tiền về nước
cho người thân sẽ không dồi dào như các năm trước đây. Số lượng lao động xuất khẩu ở
các nước cũng giảm trong bối cảnh kinh tế toàn cầu phải đối mặt với khủng hoảng trong 2
năm qua. Trong khi, đây được xem là phân khúc có tỷ lệ chuyển tiền về nước nhiều trong
các năm qua.
Bảng 2.4. Doanh số kiều hối qua ngân hàng năm 2008 và 2009
Đơn vị: Triệu USD
Năm 2009 Năm 2008
Vietcombank 1 200 1 500
Vietinbank 1 000 920
Sacombank 850 750
Đông Á 1 000 1 180
Nguồn: Tổng hợp các báo cáo trên Cổng thông tin điện tử - Thời báo kinh tế Việt
Nam
Trong cơ cấu nguồn kiều hối chuyển về Việt Nam thì 80% là USD, còn lại là các
loại ngoại tệ mạnh khác, như: Euro, AUD, CAD, GBP, JPY,...Thông tin Pháp luật Việt
Nam cho phép kiều bào được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam và những bước phát triển
trong dịch vụ chuyển kiều hối của các ngân hàng đã khiến mục đích chuyển kiều hối có
những thay đổi căn bản từ giúp gia đình chi tiêu, hỗ trợ khó khăn về tiêu dùng sang xu
hướng mang tính chất đầu tư vào thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán....Theo
nhận định của Phó giám đốc Công ty Kiều hối Đông Á, trong thời gian tới dịch vụ kiều hối
sẽ có những biến đổi lớn do sự phát triển của khoa học công nghệ. Nhiều loại hình mới
dành cho dịch vụ kiều hối sẽ ra đời, thay thế cho những phương thức chi trả kiều hối
truyền thống như dịch vụ chuyển tiền qua điện thoại, chuyển tiền online. Do vậy, về lĩnh
với việc mở ra khả năng tiếp cận vốn ngoại dễ dàng hơn với các doanh nghiệp trong nước.
Bản thân doanh nghiệp trong nước cũng muốn tiếp cận kênh này vì là vốn nước ngoài
nhưng lại được tính khoản vay trong nước, do đó vừa được hưởng giá vốn rẻ hơn mặt bằng
lãi suất của ngân hàng nội, lại tránh được khoản phí khấu trừ nguồn 10% đánh vào lãi suất
và không phải xin phép NHNN và Bộ Tài chính. Tuy nhiên, thực tế lại không thuận lợi như
vậy. Các doanh nghiệp muốn vay cũng không dễ dàng đáp ứng được các yêu cầu khắt khe
của ngân hàng ngoại, thể hiện trong bản báo cáo tài chính và hàng loạt thủ tục trong quá
trình đàm phán kéo dài 3-5 tháng cho một dự án. Ngay cả khi đã được cấp vốn, nếu báo
cáo tài chính hằng năm không đạt yêu cầu, phía ngân hàng cũng không ngần ngại quyết
định ngừng giải ngân. Thông thường, để đạt được thoả thuận vay vốn, thời gian chuẩn bị
với một doanh nghiệp mất khoảng 2 - 3 tháng, bao gồm các bước chuẩn bị bản cáo bạch,
gặp gỡ đàm phán với các ngân hàng và chờ đợi họ ra quyết định, ở thời điểm này có thể
kéo dài hơn 4 - 5 tháng. Tuy nhiên, so với ngân hàng nội, ngân hàng ngoại có thể thu xếp
các khoản vay lớn hơn, thời gian ân hạn dài và lãi suất thấp hơn. Mặt khác, đối với những
dự án lớn và lâu dài, hiện tại không phải ngân hàng Việt Nam nào cũng có đủ khả năng tài
trợ toàn bộ dự án vì bị vướng Quyết định 296/1999/QĐ- NHNN về giới hạn tín dụng cho
vay với một khách hàng của Tổ chức tín dụng không cho vay vượt quá 15% vốn tự có.
Điều này được giải thích một phần do quy mô vốn điều lệ của các NHTM Việt Nam hiện
nay chưa đồng đều, chưa nói đến việc nếu so với các ngân hàng nước ngoài là khá nhỏ.
Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng không muốn mang gánh nặng rủi ro tín dụng vì giá trị dự
án thường rất lớn. Chính vì vậy, hoạt động đồng tài trợ quốc tế giữa các NHTM Việt Nam
và ngân hàng nước ngoài là một hướng đi đúng nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp, các dự án
lớn trong nước, đồng thời nâng cao năng lực của các ngân hàng Việt Nam trong nghiệp vụ
tín dụng quốc tế - một nghiệp vụ quan trọng trong hoạt động ngân hàng đại lý. Trong
trường hợp ngân hàng Việt Nam không đủ khả năng tài trợ vốn cho các dự án lớn, quan hệ
đại lý tốt sẽ giúp các ngân hàng Việt Nam xem xét cơ hội kêu gọi đồng tài trợ từ các ngân
hàng đại lý của mình. Doanh nghiệm có lợi vì được tài trợ vốn bởi một nhóm các ngân
hàng trong nước và nước ngoài. Bản thân các ngân hàng thương mại cũng có cơ hội mở
rộng quan hệ hợp tác và phát triển các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế. Bên cạnh đó, vì là một
trong những ngân hàng đại lý của ngân hàng Việt Nam tại nước ngoài, ngân hàng Việt
VCB, BIDV,
Vietinbank
2004
2. Dự án xây dựng Đại lộ Nguyễn
Văn Linh – giai đoạn 3
35 triệu
USD
Chinfon Bank
(Đài Loan)
VCB, BIDV,
Techcombank
2006
3. Dự án xây dựng Trường quốc tế
của Liên Hiệp Quốc UNIS
- HSBC BIDV
2009
4. Dự án nhà máy điện turbin khí
chu trình hỗn hợp công suất
750MW của Công ty cổ phần điện
lực dầu khí Nhơn Trạch 2 (2009)
550 triệu
USD
Citibank BIDV
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của Công ty Luật YKVN và báo cáo của các ngân
hàng Vietcombank, BIDV, Vietinbank
2.3. Phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động ngân hàng đại lý
2.3.1. Hành lang pháp lý
Luật Việt Nam chưa có văn bản riêng điều chỉnh về hoạt động ngân hàng đại lý,
hiện tại chỉ tìm thấy những quy định liên quan đến việc thực hiện nghiệp vụ ngân hàng đại
lý và thanh toán quốc tế trong một số quyết định của Chính phủ như Điều 4 Quyết định
này góp phần thúc đẩy các dịch vụ qua ngân hàng phát triển. Kiều hối là dòng vốn đầu tư
dồi dào và hiệu quả được chính những người dân Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài
chuyển về nước để phục vụ cho nhiều mục đích: trợ cấp thân nhân hoặc để đầu tư…Có thể
hiểu đây là biện pháp tích cực từ Chính phủ nhằm tranh thủ nguồn đầu tư hiệu quả từ kiều
bào và tạo cơ hội cho các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Tuy nhiên, Luật quy định đã được thông cáo báo chí nhưng hiện tại vẫn chưa có
thông tư hướng dẫn thi hành cụ thể về vấn đề này. Do vậy, Chính phủ cần sớm dự thảo và
ban hành thông tư hướng dẫn liên quan đến quy định người Việt Nam ở nước ngoài được
phép sở hữu nhà tại Việt Nam để tạo điều kiện mở rộng kênh đầu tư cho kiều bào nói
chung và hoạt động thanh toán của ngân hàng nói riêng.
2.3.2. Công nghệ
Các ngân hàng sử dụng SWIFT làm hệ thống thông tin liên lạc trong các nghiệp vụ
ngân hàng đại lý. SWIFT là mạng viễn thông toàn cầu với những quy chuẩn đã được mọi
chấp nhận và nương theo. Một chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng của hoạt động thanh
toán quốc tế thông qua SWIFT chính là STP – tỷ lệ công điện đạt chuẩn (hay còn gọi là tỷ
lệ điện chuẩn). Tỷ lệ STP (Straight Through Processing) là tỷ lệ điện thanh toán phát đi,
đạt đủ tiêu chuẩn để được xử lý tự động hoàn toàn bằng máy tính mà không cần sự can
thiệp của con người. Tiêu chí này dựa trên số lượng điện thanh toán đi tự động trên tổng số
lượng các công điện thanh toán. STP trong khoảng từ 90-95% là tỷ lệ cao và xấp xỉ 100%
được xem là chuẩn. Với chủ trương phát triển công nghệ ngân hàng theo hướng hiện đại và
tự động hóa, đây chính là một tiêu chí điển hình đánh giá chất lượng thanh toán quốc tế
của các ngân hàng trong hoạt động ngân hàng đại lý. Chứng nhận đạt tỷ lệ điện chuẩn
trong giao dịch thanh toán quốc tế thường được các ngân hàng đại lý quốc tế dành cho các
ngân hàng đối tác có các hoạt động giao dịch thanh toán quốc tế (gồm các hoạt động
chuyển tiền, tài trợ thương mại...) có tỷ lệ điện đạt chất lượng cao. Tính đến nay đã có một
số ngân hàng thương mại Việt Nam đạt được chứng nhận của Bank of New York, Union
Bank of California, HSBC…về tỷ lệ STP cao bao gồm: Ngân hàng Ngoại thương
(Vietcombank), Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank), Ngân hàng An Bình, Ngân hàng
Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank), Ngân hàng Đông Á, Ngân hàng Phương
Nam, Ngân hàng Habubank….Tỷ lệ STP được đánh giá và nhận định bởi các ngân hàng
với IBM Việt Nam để công ty này cung cấp cho Maritime Bank các sản phẩm, dịch vụ liên
quan đến công nghệ ngân hàng cũng như hỗ trợ về mặt chuyên gia, định hướng chiến lược
và tầm nhìn phát triển hệ thống thông tin...Trước mắt, qua việc đầu tư vào công nghệ này,
Maritime Bank mong muốn giảm thủ tục nội bộ, giảm thời gian chờ đợi cho khách hàng tới
giao dịch, mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ...
Bảng 2.7. Phần mềm hệ thống đang áp dụng tại các NHTM Việt Nam
STT Ngân hàng Hệ thống phần mềm áp dụng
Xếp hạng tín nhiệm
từ 2004 đến 2009
1
BIDV, VCB,
Vietinbank, MSB
SIBS (Silverlake Integrated
Banking Solutions)
9-9-9-8-9-10
2
Techcombank,
Sacombank, VP
bank.... (gần 20 ngân
hàng)
Temenos T24 1-2-1-1-1-1
3
Habubank, Liên Việt,
Tiên Phong...
Symbol System Access 12-10-9-10-9-10
Nguồn: Thống kê của Cổng thông tin xếp hạng tín nhiệm các hệ thống ngân hàng lõi
Inntron
Tập trung phát triển công nghệ ngân hàng theo hướng hiện đại và tự động hóa sẽ
giúp các ngân hàng đáp ứng được sự đa dạng về nhu cầu của khách hàng, nâng cao khả
năng cạnh tranh trong các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế. Chính vì vậy, các ngân hàng cần
nâng cao năng lực cạnh tranh, tập trung chủ yếu ở những ngân hàng lớn, hoạt động từ lâu
năm nên nhìn chung, các ngân hàng Việt Nam vẫn yếu thế hơn các ngân hàng đại lý nước
ngoài xét trong quan hệ đại lý đã được thiết lập. Chính vì vậy, các ngân hàng nên xem quan
hệ đại lý là chiến lược ban đầu để mở rộng thị trường, mặt khác đây cũng chính là cơ hội
để các ngân hàng Việt Nam tiếp cận với môi trường tài chính năng động, chuyên nghiệp.
Dòng tiền của các ngân hàng là vấn đề chiến lược để kiểm soát và quản lý tính
thanh khoản. Điều này giải thích vì sao các ngân hàng luôn quan tâm đến việc quản lý tiền
lưu giữ trong tài khoản Nostro tại ngân hàng đại lý nước ngoài. Tiêu chí lựa chọn những
ngân hàng uy tín và có tính thanh khoản tốt một lần nữa được khẳng định vì đối với các
ngân hàng Việt Nam, nguồn tiền lưu giữ trong tài khoản Nostro sẽ phần nào tạo nên áp lực
thanh khoản. Vấn đề đặt ra chính là chiến lược linh hoạt và nhạy bén trong kiểm soát luồn
tiền trong tài khoản Nostro. Đây một mặt là tiêu chí lựa chọn khi tìm hiểu ngân hàng đối
tác, mặt khác cũng là chiến lược riêng dành cho mỗi ngân hàng. Các ngân hàng Việt Nam
không có nhiều ưu thế như các ngân hàng nước ngoài về kinh nghiệm và trình độ phát
triển, nhưng nếu có kế hoạch phát triển và nhạy bén với thị trường, ngân hàng Việt Nam
vẫn giữ được thế chủ động trong quan hệ đại lý với các ngân hàng đại lý đối tác.
2.4. Ứng dụng mô hình SWOT trong phân tích hoạt động đại lý của các
NHTM Việt Nam