PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI VÀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG CÁC TRANG TRẠI Ở THANH HOÁ - Pdf 63

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI VÀ SỬ
DỤNG LAO ĐỘNG TRONG CÁC TRANG TRẠI Ở THANH HOÁ

I. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hoá

1. Đặc điểm tự nhiên của tỉnh.
1.1. Vị trí địa lý và khí hậu:
Thanh Hoá là một tỉnh lớn, có vị trí địa lý quan trọng, nằm giữa Bắc Bộ và
Trung Bộ. Phía Bắc Thanh Hoá giáp với ba tỉnh của Bắc Bộ là Sơn La, Hoà Bình
và Ninh Bình. Phía Nam và Tây Nam nằm liền kề với Nghệ An. Phía tây nối liền
sông núi với tỉnh Hủa Phăn của Lào có đường biên giới kéo dài 192 km. Phía Đông
là biển Đông, đường biển dài 102km thuộc Vịnh Bắc Bộ là một thềm lục địa khá
rộng.
Thanh Hoá nằm ở 19
0
18’ đến 20
0
vĩ độ Bắc và 105
0
45’ đến 107
0
kinh độ Tây.
Là cửa ngõ nối liền Trung Bộ với Nam Bộ và Bắc Bộ, đường quốc lộ chạy song
song với đường sắt suốt chiều dài của tỉnh.
Với vị trí địa lý như vậy nên về mặt khí hậu Thanh Hoá mang những đặc điểm
của khí hậu Bắc Bộ có mùa đông tuy ngắn nhưng lạnh và khô các ngày đầu xuân
ẩm ướt ,âm u, thiếu nắng do mưa phùn và xương mù kéo dài, đồng thời Thanh Hoá
cũng mang những tính chất riêng biệt của khí hậu miền Trung Bộ.
Khí hậu Thanh Hoá là vùng khí hậu chuyển tiếp của khí hậu nhiệt đới gió mùa
ảnh hưởng của gió Tây, mưa và bão lụt nhiều. tuy có sự thuận lợi cho phát triển các
loại cây trồng, vật nuôi song thường bị hạn hán và lũ lụt gây khó khăn lớn và làm

2.
chiếm
73,3% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Là vùng có diện tích lớn nhất nhưng cung là
vùng có địa hình phức tạp, chủ yếu là đồi núi và rừng, độ dốc lớn. Vùng này gồm
11 đơn vị (Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lạc, Quan Hoá, Bá thước, Mường Lát,
Lang Chánh, Như Thanh, Như Xuân và Thường Xuân.
Do vùng đất chủ yếu là đồi núi, có độ dốc lớn dễ bị rửa trôi, sói mòn nên
thành phần đất nghèo chất dinh dưỡng chủ yếu phát triển cây lâm nghiệp, cây công
nghiệp ngắn ngày, dài ngày (cao su, cà phê, chè), cây ăn quả (cam dứa, nhãn..), kết
hợp với cây trồng là điều kiện tốt để chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Tài nguyên thiên nhiên của tỉnh tương đối đa dạng:
+ Tài nguyên đất
Đất đồng bằng sông Mã là đồng bằng rộng thứ ba trong cả nước, mầu mỡ
thuận lợi cho việc trồng cây nông nghiệp.
Đất đồi và trung du thuộc nhóm thuận lợi cho việc trồng cây công nghiệp
như mía, chè, cao su, càfê, các loại cây ăn quả.
Cơ cấu đất đai của tỉnh gồm:
Đất nông nghiệp: 36.740 ha.
Đất lâm ngiệp: 375.440 ha.
Đất chưa sử dụng(1995): 429.084 ha.
Đất hải đảo: 810 ha .
+ Tài nguyên rừng
Độ phủ rừng còn 29,7% (cao hơn mức bình quân cả nước) với diện tích
375.440 ha trong đó rừng trồng chiếm 22%, rừng tự nhiên 78%. trữ lượng gỗ 15
triệu m
3
, tre luồng với hàng chục tỷ cây là nguyên liệu dồi dào cho các nhà máy
giấy.
+ Tài nguyên nước
Nước đạt 10 tỷ m

I-Cơ cấu ngành % 100 100 100 100 100 100
Nông-lâm-ngư % 46,0 44,0 42,0 40,5 39,8 40
Công nghiệp- xây dựng % 21,1 21,9 24,1 25,1 25,4 26,4
Thương mại-dịch vụ % 33,9 34,1 33,9 34,4 34,8 33,6
II-GDP/ người $ 212 218,7 236,1 250 269 291
(Nguồn: Cục thống kê-Niên giám thống kê)

Số liệu ở bảng trên phản ánh một cơ cấu kinh tế lạc hậu khi ngành nông-lâm-
ngư vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn, trong giai đoạn 1995-1999 cơ cấu kinh tế có
chuyển biến theo chiều hướng tích cực, tỷ trọng ngành nông-lâm-ngư đã giảm dần,
tỷ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng, thương mại-dịch vụ có tăng lên song
tốc độ tăng giảm của các ngành này còn rất chậm. Trong cơ cấu kinh tế ngành
nông-lâm-thuỷ sản chiếm tới 40%, công nghiệp và xây dựng chiếm 26,4%, dịch
vụ chiếm 33,6%. Ngành nông nghiệp ở Thanh Hoá là có tỷ trọng lớn nhất (năm
1999 giá trị sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp tăng 6,4% (kế hoạch là 2%), sản lựng
quy ra thóc là 1.263.500 tấn đạt 105,3% kế hoạch). Các doanh nghiệp chủ chốt là :
Công ty mía đường Lam Sơn,Công ty xi măng,Công ty bia Thanh Hoá, Công ty
giấy Lam Sơn, Mục Sơn.
Mức thu nhập của người dân tương đối thấp đến năm 2000 mới đạt 291 USD/
người. Mức tăng trưởng GDP cũng không cao, trong giai đoạn 1995-2000 mức
tăng trưởng trung bình chỉ đạt 6,5%, điều này có thể giải thích là do cơ cấu nông
nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong GDP mà giá trị mà ngành nông nghiệp mang lại
không cao, sản phẩm của nông nghiệp chủ yếu là sản phẩm thô.
Hoạt động thương mại, dịch vụ có nhiều cố gắng đáp ứng yêu cầu cho sản
xuất và phục vụ đời sống nhân dân. Hàng hoá lưu thông thuận lợi, phong phú, đa
dạng; dịch vụ điện, bưu điện báo chí truyền hình có nhiều chuyển biến tiến bộ góp
phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân.
3. Những đặc điểm về xã hội.

Thanh Hoá hoá là một tỉnh đông dân, dân số đứng thứ hai cả nước. Tổng dân

- Trang trại trồng cây hàng năm là loại hình trang trại có nhiều nhất ở Thanh
Hoá với 807 trang trại chiếm 43,2%. Loại trang trại này chủ yếu trồng các loại cây
như mía, lạc, đậu tương, cói, lúa kết hợp với chăn nuôi. Tập trung nhiều ở các
huyện Thọ Xuân, Thạch Thành, Bỉm sơn, Ngọc Lạc...Loại hinh trang trại này đang
phát triển mạnh và sử dụng nhiều lao động trong nông nghiệp.
- Trang trại trồng cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả là loại mới được
hình thành tập trung ở các huyện trung du miền núi và một số huyện đồng bằng:
Như Thanh Hoá, Như Xuân, Bỉm Sơn. Cây trồng chính càfê, chè, cao su, dứa,
nhãn, vải ...
- Trang trại chăn nuôi loại trang trại này có rất ít (9 trang trại ) đòi hỏi chủ
trang trại phải có kỹ thuật, vốn, kinh nghiệm, đồng cỏ...Như trang trại ông Lê Đình
Rỡ (Văn sơn-Triệu sơn) có 395 con bò.
Biểu 2 Số trang trại phân theo loại hình sản xuất năm 1998.
STT Loại hinh sản xuất Tổng số trang trại Tỷ lệ %
1 Trồng cây hàng năm 807 43,2
2 Trồng cây CN lâu năm và cây ăn quả 147 7,9
3 Chăn nuôi 9 0,5
4 Lâm nghiệp 358 19,2
5 Nuôi trồng thuỷ sản 324 17,3
6 Nông-lâm-thuỷ sản kết hợp 222 17,1

(Nguồn: Cục thống kê Thanh Hoá )
- Trang trại nuôi trông thuỷ sản tập trung chủ yếu ở các huyện đồng bằng ven
biển như Tĩnh Gia, Sầm Sơn, Quảng Xương, Hậu Lộc. Hầu hết các trang trại được
thành lập từ năm 1993-1994 nhờ dự án 773 của nhà nước. Đã có những trang trại
có diện tích hơn 20 ha như trang trại của ông Hoàng văn Tân( Quảng Cư-Sầm Sơn)
có 31 ha nuôi trồng thuỷ sản. Loại hình này sử dụng nhiều lao động gia đình và lao
động làm thuê thường xuyên (lao động thường xuyên) có trình độ, có kinh nghiệm
cũng như kiến thức trong nuôi trồng thuỷ sản.
- Trang trại lâm nghiệp tập trung ở các huyện miền núi, đây là loại hình

liệu giấy. Loại hình này phần lớn tập trung ở các huyện miền núi phía Tây nơi có
diện tích đất đồi núi nhiêù
Các trang trại nông-lâm-thuỷ sản kết hợp sử dụng diện tích khá lớn, bình quân
11,8 ha/trang trại do các trang trại này tận dụng cả diện tích đất nông nghiệp, đất
lâm nghiệp và cả những ao, hồ, đồng trũng..
Các trang trại trồng cây hàng năm (trung bình 5,75ha/trang trại) và trang trại
nuôi trồng thuỷ sản (8,55ha/trang trại) sử dụng diện tích đất không lớn lắm nhưng
đang có xu hướng tăng lên.
3. Vốn đầu tư.

Tính theo mức bình quân thì vốn đầu tư cho mỗi trang trại là 40,5 triệu đồng
(1997) tăng lên 59,5 triệu đồng(2000). Nguồn vốn của trang trại chủ yếu là vốn tự
có chiếm 73,2% ,vốn vay chiếm 26,8%. Nguồn vốn vay ngân hàng cũng không
nhiều so với tổng số vốn vay( chỉ chiếm 29%).

Biểu 4 Số vốn hiện có bình quân một trang trại
Đơn vị: triệu đồng/ trang trại

Loại hình sản xuất Số vốn bình quân/trang trại
Trồng cây hàng năm 36,495
Trồng cây cn lâu năm, cây ăn quả 32,430
Chăn nuôi 260
Lâm nghiệp 32,095
Nuôi trồng thuỷ sản 55,899
Nông-lâm-thuỷ sản kết hợp 40,297
Loại khác 58,057
(Nguồn : Cục Thống kê Thanh Hoá)
Từ bảng số liệu ta thấy trang trại chăn nuôi có số vốn đầu tư lớn nhất khoảng
260 triệu đồng/ trang trại, gấp hơn 6 lần mức bình quân chung, trang trại chăn nuôi
tuy số lượng không nhiều nhưng có số vốn đầu tư lớn do chi phí về giống cho sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status