MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC
DNV&N TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT
TRIỂN NÔNG THÔN BÁCH KHOA
3.1 Định hướng về mở rộng tín dụng đối với DNV&N tại chi nhánh
NHNo&PTNT Bách Khoa
DNV&N trên địa bàn thành phố Hà Nội có vai trò rất quan trọng trong việc
phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội. Hiện nay, tỷ trọng của khu
vực kinh tế này trong GDP của thành phố chiếm khoảng 53%, thu hút nhiều
lao động tạo công ăn việc làm, hàng năm nộp cho ngân sách Nhà Nước hơn
100 tỷ đồng. DNV&N trên địa bàn Hà Nội đang thay đổi theo hướng tích cực,
những khó khăn do cơ chế, chính sách chỉ là tạm thời khi các luật định đang
từng bước hoàn thiện và phù hợp với thực tế hơn.
3.1.1. Định hướng phát triển chung của Chi nhánh.
Nhằm phát huy những kết quả đạt được, và tạo ra được bước đột phá
tăng trưởng toàn diện về mọi mặt, chi nhánh xác định phương hướng hoạt
động trong thời gian tới:
Trên cơ sở là một ngân hàng bán lẻ, thực hiện các nghiệp vụ của một
ngân hàng hiện đại phục vụ cho các đối tượng khách hàng thuộc mọi thành
phần kinh tế trên địa bàn Quận và các vùng lân cận; phục vụ phát triển kinh tế
cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách hàng dân cư, khách hàng tiêu dùng
trên cơ sở mở rộng các kênh phân phối.
Kiểm soát tốc độ tăng trưởng, đặc biệt kiểm soát phòng ngừa rủi ro
trong hoạt động tín dụng, trong thanh toán, an toàn kho quỹ. Nâng cao trách
nhiệm ở các cấp lãnh đạo điều hành, cán bộ nghiệp vụ; chăm lo và giáo dục ý
thức cán bộ gắn bó với ngành, với nghề.
Phát triển mạng lưới và tăng thêm kênh phân phối sản phẩm Ngân hàng.
1
Kinh doanh đảm bảo thực hiện theo đúng pháp luật của Nhà nước, của
Ngành, đảm bảo hiệu quả, an toàn vốn.
Toàn thể cán bộ nhân viên trong chi nhánh thi đua lập thành tích chào
mừng NHNo&PTNT Bách Khoa thực hiện thành công IPO và thành lập tập
Bổ sung và tăng cường thêm TSĐB; hoàn thiện về mặt pháp lý đối với TSĐB;
có lộ trình triệt để xử lý nợ xấu, bằng mọi biện pháp tận thu nợ hạch toán
ngoại bảng, nợ xấu, nợ quá hạn; hạn chế tối đa việc phát sinh nợ quá hạn mới,
nợ xấu nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng.
3.1.2. Định hướng phát triển đối với DNV&N.
Trong bối cảnh hiện nay, cạnh tranh giữa các ngân hàng càng trở nên
gay gắt hơn, các ngân hàng luôn phải tìm cách để tăng được thị phần của
mình. Do đó mà đối tượng cho vay được mở rộng hơn nhiều, nếu như trước
đây các ngân hàng thường có xu hướng cho các doanh nghiệp lớn của nhà
nước vay thì bây giờ đã có sự chuyển hướng sang các thành phần kinh tế
khác, trong đó có sự mở rộng cho vay đối với các DNV&N.
Tại chi nhánh NHNo&PTNT Bách Khoa cũng bắt kịp xu thế chung ấy.
Để đạt được mục tiêu phát triển hoạt động cho vay đối với DNV&N, Chi
nhánh đã đề ra một số phương hướng hoạt động đối với DNV&N như sau:
Chí nhánh cần duy trì và phát triển cho vay đối với các doanh nghiệp
có quan hệ tín dụng lâu dài tại chi nhánh, phân công đủ cán bộ tín dụng nhằm
mở rộng và phát triển chất lượng cho vay đối với các DNV&N.
Cần tiếp cận, rà soát để phân loại DNV&N nhằm đáp ứng kịp thời nhu
cầu vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, phân tích
tình hình tài chính của khách hàng để lựa chọn những khách hàng đáp ứng đủ
yêu cầu. Đẩy mạnh công tác tiếp thị để thu hút nhiều hơn nữa khách hàng đến
3
giao dịch với chi nhánh, góp phần tăng cơ cấu và tỷ trọng gửi của doanh
nghiệp, phấn đấu tăng trưởng dư nợ lành mạnh.
Từng bước giảm dần tỷ trọng cho vay DNV&N thuộc nhà nước, mở
rộng cho vay đối với các DNV&N ngoài quốc doanh, nâng cao tỷ trọng dư nợ
tài sản đảm bảo, áp dụng các biện pháp để đảm bảo và nâng cao chênh lệch
sữa lãi suất đầu ra vơi đầu vào.
Tích cực trong công tác xử lý thu hồi nợ quá hạn, nợ xấu, đôn đốc các
đơn vị có tiềm ẩn rủi ro để thu hồi nợ. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm
R T
K A
×
= −
×
Trong đó:
- K: là số tiền phải trả cho khách hàng khi chiết khấu
- A: là giá trị của kỳ phiếu tại thời điểm đến hạn
- R: mức lãi suất chiết khấu (% tính theo tháng)
- T: thời gian chiết khấu (thời gian xin rút trước hạn)
Phương pháp này hiện nay chi nhánh chưa áp dụng, mà chủ yếu vẫn
dừng lại ở hình thức cầm cố giấy tờ có giá để được vay vốn Ngân hàng. Việc
chiết khấu trái phiếu, kỳ phiếu, thương phiếu tạo điều kiện cho Ngân hàng
chuyển dần từ hình thức cho vay ứng trước (nhiều rủi ro) sang co vay chiết
khấu các trái phiếu này khi cần đưa thêm tiền vào lưu thông.
Hình thức hùn vốn đầu tư liên doanh, liên kết với khách hàng.
Để mở rộng tín dụng, ngân hàng không nhất thiết chỉ cho khách hàng vay
vốn của mình mà có thể lựa chọn trong số khách hàng của mình xem doanh
nghiệp nào làm ăn có hiệu quả, có triển vọng tồn tại và phát triển lâu dài thì
ngân hàng có thể thỏa thuận ký hợp đồng liên doanh, liên kết với những
doanh nghiệp đó để cùng sản xuất kinh doanh. Như vậy, ngân hàng không
những mở rộng được tín dụng của mình mà còn có điều kiện xâm nhập thị
trường, từ đó tìm ra được những mặt mạnh mặt yếu của khách hàng, đồng
5
thời vừa trực tiếp giám sát, quản lý vốn cho vay vứa có thu nhập cao do trực
tiếp là người đầu tư vốn, hạn chế được rủi ro cho khách hàng và cả ngân hàng.
Cho vay bảo lãnh và cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với
DNV&N:
Trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, có những DNV&N, hộ
gia đình, cán bộ công nhân viên thiếu vốn phục vụ cho nhu cầu sản xuất, kinh
- Trình độ quản lý, uy tín và đạo đức của người lãnh đạo cũng như uy tín
của doanh nghiệp trên thị trường.
Cụ thể, trong khi phân tích, đánh giá khách hàng để cho vay ngân hàng
cần chú ý các vấn đề sau:
- Sàng lọc, điều tra và giám sát khách hàng:
Sàng lọc là việc ngân hàng lựa chọn những khách hàng vay có triển vọng
tốt để cho vay, đảm bảo thu hồi được gốc và lãi đúng hạn, đem lại lợi nhuận
cho ngân hàng. Ngân hàng thu thập thông tin khách hàng thông qua mối quan
hệ của khách hàng, chính quyền địa phương, từ trung tâm thông tin về rủi ro
tín dụng.
Tài liệu chứng minh tư cách pháp nhân hoặc thể nhân của người xin vay:
Quyết đinh thành lập, điều lệ doanh nghiệp, (nếu khách hàng là một pháp
nhân); giấy chứng minh nhân dân, số đăng ký hộ khẩu, (nếu khách hàng là
một thể nhân), bảng cân đối tài khoản hiện tại và những năm trước đó, tình
hình sản xuất kinh doanh trong nhiều năm liên tục, tình hình cung cấp nguyên
vật liệu cũng như tình hình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, với sự phát triển mạnh mẽ của các
công ty cổ phần thì phương pháp hữu hiệu nhất để tạo ra sự gắn bó chặt chẽ
giữa khách hàng và ngân hàng là việc ngân hàng tham gia nắm giữ một số cổ
7
phần của doanh nghiệp vay vốn. Sự gắn bó này hiện nay đang được áp dụng
mạnh mẽ trong hệ thống tài chính của các nước phát triển như Nhật Bản,
Đức…
Đối với các khách hàng là thể nhân thì việc đánh giá khả năng tài chính
của khách hàng thường rất khó khăn, bởi vì rất khó có được những số liệu
chính xác và ổn định của khách hàng, nhất là đối với chủ thể vay vốn các hộ
tư thương. Tất cả số liệu từ nguồn vốn, doanh thu hàng tháng đến lợi nhuận
thu được đều không rõ ràng. Vì vậy đối với những khách hàng thuộc loại hình
này, ngân hàng cần hết sức coi trọng khâu xem xét, đánh giá chung về đạo
đức và ý chí trả nợ của họ.
đến việc tạo ra lợi nhuận thuần túy cho bản thân các doanh nghiệp. Do vậy,để
đảm bảo an toàn vốn ,các ngân hàng không nên cho vay đối với các doanh
nghiệp loại này.
* Khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Khả năng thanh toán phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt
hay xấu. Để đánh giá chính xác khả năng thanh toán của một doanh nghiệp
cần xem xét, phân tích các chỉ tiêu:
Khả năng thanh toán chung của doanh nghiệp:Là chỉ tiêu tổng hợp,
phản ánh khái quát khả năng thanh toán của doanh nghiệp đó, chỉ tiêu này
được tính bằng công thức:
Khả năng thanh toán
của doanh nghiệp
Số tiền doang nghiệp dùng để thanh toán
=
9
Số tiền doanh nghiệp phải thanh toán
Trong đó :
+Số tiền có thể dùng để thanh toán gồm toàn bộ số vốn bằng tiền, các
khoản phải thu và thành phẩm hàng hoá tồn kho và đang gửi đi tiêu thụ.
+Số tiền doanh nghiệp phải thanh toán gồm các khoản phải trả người
bán, người mua , các khoản nợ ngân hàng và các tổ chức kinh tế khác.
Nếu một đoang nghiệp có hệ số này lớn hơn hoặc bằng 1 chính tỏ doanh
nghiệp có khả năng thanh toán và tình hình tài chính bình thường và khả quan.
Nhìn chung hệ số càng lớn thì khả năng thanh toán càng tốt.Cần chú ý rằng để
đánh giá được khả năng thanh toán càng tốt cần chú ý rằng để đánh giá khả
năng thanh toán của doanh nghiệp, khi tính toán số tiền của doanh nghiệp, khi
tính toán số tiền của doanh nghiệp có thể dùng để thanh toán cần xem xét tới
khả năng chuyển hóa thành tiền của sản phẩm hàng hóa và các khỏn phải thu
để xác định một cách chắc chắn về nguồn vốn của doanh nghiệp.
Ngoài ra ta còn có thể sử dụng các chỉ tiêu về khả năng thanh toán ngắn
sách đầu tư, quản lý ngoại hối, quản lý động sản, bất động sản của Nhà nước.
Khi có thay đổi thì quan hệ tín dụng được điều chỉnh như thế nào để bảo vệ
cho quyền lợi của Ngân hàng và khách hàng vay.
- Đối với những khoản vay vi phạm hợp đồng tín dụng một cách
nghiêm trọng hoặc có nguy cơ thua lỗ, phá sản trong kinh doanh dẫn đến khả
năng thu hồi nợ vay rất khó khăn, Ngân hàng buộc phải chuyển nợ quá hạn và
tìm mọi cách thu hồi nợ, ngay cả trong trường hợp khoản vay chưa đến hạn
như đã quy định.
3.2.3 Thực hiện các bảo đảm trong kinh doanh tín dụng:
Ngày 29/12/1999, Chính phủ đã ban hành Nghị đinh số 178/1999/NĐ-
11
CP quy định về bảo đảm tiền vay trong việc cấp tín dụng của các tổ chức tín
dụng đối với khách hàng vay theo quy định của luật các tổ chức tín dụng. Đây
là văn bản pháp lý quan trọng, có hiệu lực từ ngày 13/01/2000. Hướng dẫn
các biện pháp bảo đảm nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý
để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay.
Nghị định 178 ra đời đánh dấu sự phát triển và hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng. So với các
quy định trước đây của pháp luật thì Nghị định 178 có nhiều điểm thông
thoáng và cởi mở hơn trong việc nhận thế chấp, cầm cố, bảo lãnh và xử lý tài
sản bảo đảm tiền vay. Cụ thể, là nguyên tắc tự do bình đẳng trong kinh doanh
được tôn trọng: các doanh nghiệp Nhà nước cũng như các thành phần kinh tế
khác vay vốn Ngân hàng thương mại quốc doanh đều phải thế chấp cầm cố tài
sản hoặc phải được bên thứ ba bảo lãnh bằng tài sản để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ trẩ nợ, ngoại trừ trường hợp khách hàng được tổ chức tín dụng cho
vay có bảo đảm tài sản được hình thành từ vốn vay hoặc cho vay không có
bảo đảm bằng tài sản theo quy định của pháp luật. Tổ chức tín dụng có quyền
lựa chọn, quyết định việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản, cho vay không có
bảo đảm theo quy định của pháp luật và tự chịu trách nhiệm về quyết đinh của
mình. Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ theo cam kết, Ngân
hàng) thuộc quyền sở hữu hợp pháp của gia đình chúng tôi, chưa chuyển
nhượng, cho thuê, góp vốn liên doanh hoặc cho tặng người khác… Nếu nợ
đến hạn chúng tôi không trả được tiền gốc và lãi thì ngân hàng có toàn quyền
xử lý tài sản trên để thu hồi nợ gốc và lãi. Chúng tôi xin chịu mọi trách nhiệm
trước pháp luật về những lời cam kết trên… Người vay và những người đồng
sở hữu có tên trên hộ khẩu phải ký vào đơn trước sự chứng kiến của cán bộ
13
tín dụng và chính quyền địa phương.
Đối với tài sản là máy móc thiết bị day chuyền sản xuất, khi thế chấp
Ngân hàng niêm phong máy móc dây chuyền sản xuất, làm như vậy thì đảm
bảo được tài sản thế chấp, nhưng doanh nghiệp phải ngừng hoạt động, như
vậy cơ sở để hoàn trả vốn Ngân hàng tiến hành phân loại, lựa chọn khách
hàng của mình, tìm những khách hàng để tin cậy, tạo điều kiện cho họ được
tiếp tục khai thác trên dây chuyền thiết bị đó, nhưng phải cam kết bảo quản
sửa chữa máy móc thiết bị khi có sự cố xảy ra và buộc khách hàng phải gửi
tiền khấu hao tài sản thế chấp vào Ngân hàng hàng tháng và cam kết phải trả
cho Ngân hàng nếu có rủi ro xảy ra.
Trong trường hợp khách hàng làm hư hại nghiêm trọng không thể phục
hồi lại tài sản thế chấp thì Ngân hàng sẽ lấy số tiền phát mại tài sản thế chấp
và có thể lấy toàn bộ hoặc một phần số tiền từ nguồn tiền gửi khấu hao đã
cam kết trong hợp đồng trên (trong trường hợp còn thiếu), đây là biện pháp
đảm bảo tương đối chắc chắn là Ngân hàng sẽ thu hồi được vốn. Tuy nhiên,
như đã nói ở phần trước việc Ngân hàng có thu được gốc và lãi hay không
phải căn cứ vào tính khả thi của dự án chứ không nên đặt vấn đề tài sản thế
chấp lên hàng đầu như là một cái lá chắn để bao bọc đồng vốn của Ngân
hàng.
Có thể nói thủ tục về tài sản thế chấp hiện nay vẫn còn là rào cản các
DNV&N. Hiện nay các doanh nghiệp này có vốn và tài sản rất nhỏ nên khi sử
dụng tài sản để thế chấp thì vay được một lượng vốn rất thấp so với năng lực
sản xuất kinh doanh của họ. Do đó các doanh nghiệp này thường phải tham