SỬ DỤNG CÔNG CỤ THUẾ VÀ TRỢ CẤP ĐỂ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG - Pdf 63

SỬ DỤNG CÔNG CỤ THUẾ VÀ TRỢ CẤP ĐỂ BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG
Ở chương này, chúng ta sẽ thảo luận về những công cụ chính sách mang tính chọn lựa rộng rãi được
chính phủ áp dụng nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và cải thiện chất lượng môi trường. Việc lựa chọn
các công cụ trong chính sách có liên quan đến những cân nhắc kỹ lưỡng như: năng lực chi trả (được đo
bằng tỷ lệ giữa tổng phúc lợi xã hội và tổng phí tổn xã hội); những đòi hỏi khác nhau dựa trên những
thông số kỹ thuật tuân theo những vấn đề trên, và tính chất chính trị có liên quan đến những vấn đề này có
thể chấp nhận được.
6.1. THUẾ VÀ PHÂN LOẠI THUẾ
Ngày nay, thuế đã và đang là công cụ chính được các quốc gia sử dụng để can thiệp trực tiếp hoặc
gián tiếp vào các quá trình kinh tế và cũng là công cụ đắc lực để thực hiện chức năng quản lý và điều tiết
vĩ mô nền kinh tế - xã hội, trong đó có quản lý môi trường.
6.1.1. Định nghĩa về thuế
Thuế là một khoản thu của chính phủ đối với các tổ chức và các thành viên trong xã hội, khoản thu này
mang tính chất bắt buộc, không hoàn trả trực tiếp và được pháp luật quy định.
Một khi sự tồn tại của chính phủ và các hoạt động của nó là cần thiết thì thuế là một bộ phận không
thể thiếu để duy trì “cổ máy” này. Như vậy, thuế cũng là một phạm trù lịch sử và là một tất yếu khách
quan xuất phát từ nhu cầu để đáp ứng các chức năng của chính phủ. Tùy theo bản chất kinh tế - xã hội mà
bản chất của thuế cũng có sự khác nhau (cả về nội dung, vai trò và đặc điểm của thuế).
6.1.1.1. Thuế là khoản thu chủ yếu
Để bảo đảm cho nguồn ngân sách của chính phủ, nền tài chính quốc gia thường phải dựa vào nguồn
thu từ thuế trong nội bộ nền kinh tế bao gồm các đơn vị kinh tế hành chính và cá nhân. Điều quan trọng
không phải là sự thay đổi về chủng loại thuế, mức độ đánh thuế (thuế suất) để tạo ra khoản thu này mà là
mục đích, phương pháp và vấn đề nhu cầu về thuế.
Luật quản lý thuế của Quốc hội khóa XI kỳ họp 10 số 78/2006QH11 ngày 29/11/2006 của nước ta
khẳng định trong Điều 4 về nguyên tắc quản lý thuế rằng: “thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà
nước”. Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân. Cơ quan,
tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế. Nói thuế là nguồn thu chính vì thuế là nguồn thu
bắt buộc của chính phủ đối với cá nhân hoặc pháp nhân khi phát sinh những hoạt động liên quan, phải
chuyển một phần thu nhập hoặc tài sản của mình thành nguồn thu của nhà nước do đặc điểm của nguồn
thu từ thuế là:

đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của nhà nước. Thông qua thuế, nhà nước tham gia
phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong xã hội, đó là sự huy động
một bộ phận thu nhập quốc dân dưới hình thức tiền tệ vào ngân sách, sau đó lại được chi nhằm thực hiện
chính sách kinh tế - xã hội, tạo ra tính cân bằng tương đối, tính ổn định tương đối cho xã hội. Chức năng
này tạo điều kiện cho sự ra đời và phát huy tác dụng chức năng điều tiết của thuế.
6.1.2. Phân loại thuế
6.1.2.1. Phân loại theo hình thức
Nhằm xác định đối tượng thực sự phải chịu thuế, người ta phân ra làm 2 loại thuế đó là thuế trực thu
và thuế gián thu. Việc phân chia này chỉ có ý nghĩa về mặt hình thức, không có ý nghĩa gì trong việc xác
định đối tượng chịu thuế trong thị trường cạnh tranh.
a) Thuế trực thu là loại thuế trực tiếp điều tiết thu nhập của người nộp thuế. Đối với loại thuế này thì
người nộp thuế cũng đồng thời là người trả phần lớn số thuế. Mức thuế điều tiết không được tính vào
khoản chi phí khi xác định lợi tức nộp thuế.
Thuế trực thu có xét đến tính công bằng hơn so với thuế gián thu, vì phần đóng góp về thuế thường
phù hợp đối với khả năng của từng đối tượng. Tuy nhiên, thuế trực thu có nhược điểm là hạn chế phần nào
sự cố gắng tăng thu nhập của các đối tượng, vì thu nhập càng cao thì phải nộp thuế càng nhiều. Ngoài ra,
thuế trực thu do người có thu nhập phải trả một cách trực tiếp và có ý thức cho nhà nước, nên họ cảm nhận
ngay được gánh nặng về thuế và có thể dẫn tới những phản ứng từ chối hoặc trốn, lậu thuế. Việc quản lý
thu thuế này phức tạp và chi phí thường cao so với thuế gián thu.
b) Thuế gián thu là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế không phải là người chịu trực tiếp phần lớn
số thuế. Thuế gián thu có thể là một yếu tố cấu thành trong giá thành hàng hóa - dịch vụ, giá dịch vụ,
nhằm truy thu một phần đóng góp của người tiêu dùng. Chẳng hạn như: thuế doanh thu, thuế hàng hóa -
dịch vụ, thuế nhập khẩu... Trong loại thuế này thì người kinh doanh chỉ nộp một phần thuế hộ cho người
mua hàng hóa - dịch vụ hoặc được cung ứng dịch vụ đã trả qua giá mua hàng, giá dịch vụ. Vì vậy, thuế
gián thu có thể được tính vào khoản chi được trừ khi xác định lợi tức chịu thuế.
Trong thực tế, thuế gián thu là loại thuế đánh vào tiêu dùng, thuế này do người sản xuất kinh doanh
nộp cho nhà nước, nhưng người tiêu dùng lại chịu một phần hoặc phần lớn số thuế. Thuế này dễ thu hơn
thuế trực thu vì tránh được quan hệ trực tiếp giữa người chịu thuế với cơ quan thu thuế. Thuế gián thu dễ
điều chỉnh hơn thuế trực thu vì những người chịu thuế thường không cảm nhận đầy đủ gánh nặng của loại
thuế này. Hiện nay, các nước trên thế giới có xu hướng coi trọng thuế gián thu hơn thuế trực thu vì nó có


Với:
- MNPB là lợi ích tăng thêm mà một xí nghiệp đang gây ô nhiễm nhận được từ việc thay đổi mức độ
hoạt động của nó bằng một đơn vị (chi phí biên của tư nhân để sản xuất trừ cho thu nhập biên tế
nhận được).
- MEC là giá trị của một tác hại kinh tế tăng thêm gây ra bởi ô nhiễm có liên quan đến một đơn vị
hoạt động tăng thêm.
Xí nghiệp sẽ tối đa hóa lợi nhuận bằng cách sản xuất ra tất cả các đơn vị hàng hóa - dịch vụ có MNPB
> 0, tức là có thể sản xuất tới mức sản lượng Q
m
. Tuy nhiên, điểm sản lượng tối ưu xã hội bắt buộc phải ở
MEC > MNPB, tức là giới hạn sản lượng ở mức Q
s
.
Hình 5.1. Thuế ô nhiễm tối ưu (Pearce và Turner (1990))
MAC1
MAC3
MAC2
Chi phí (thuế)
A
C
t* X Y Z
0 S1 S2 S3 Giảm ô nhiễm
Một trong những cách thức để thành công trong việc giảm sản lượng và cũng để giảm lượng phát thải
ô nhiễm cho đến mức sản lượng tối ưu xã hội (Q
s
) là chính phủ đặt ra một khoản thuế vừa bằng với chi phí
tác hại biên tế của ô nhiễm (MEC) tại Q
s
. Khoản thuế ô nhiễm như vậy vừa bằng với đường t

đến một đơn vị hoạt động tăng thêm mà nó áp đặt lên xã hội, tức là sản lượng gây ô nhiễm môi trường
vượt quá tiêu chuẩn cho phép.
Hình 6.2. So sánh giữa thuế ô nhiễm với việc xác lập tiêu chuẩn đồng bộ
Chúng ta xem xét 3 xí nghiệp gây ô nhiễm đang được quy định để đạt đến một mức gây ô nhiễm ở S
2
.
Giả sử, chính phủ có thể vừa thiết lập một tiêu chuẩn sao cho mỗi xí nghiệp buộc phải giảm một lượng ô
nhiễm OS
s
nhất định hoặc có thể lập ra một mức thuế t
*
sao cho xí nghiệp 1 đạt đến điểm X, xí nghiệp 2
đạt đến điểm Y, và xí nghiệp 3 đạt đến điểm Z trên đường chi phí làm giảm ô nhiễm biên tế. Bây giờ
chúng ta xem xét tổng chi phí làm giảm ô nhiễm của từng giải pháp như sau:
Theo phân tích của Pearce và Turner (1990) thì:
Bằng việc xác lập tiêu chuẩn ta có:
Tổng chi phí làm giảm ô nhiễm = TAC
st
= OAS
2
+ OYS
2
+ OCS
2
(1).
Bằng cách đánh thuế thì:
TAC
tax
= OXS
1

> S
2
CZS
3
Nên: TAC
st
> TAC
tax
Trường hợp tiêu chuẩn cố định cho chất thải (W
F
) được xác định dưới mức ô nhiễm tối ưu nếu sau đó
nhà máy dệt giảm sản lượng xuống còn đúng bằng Q
F
, (bỏ đi các sản lượng giữa Q
F
và Q
S
) với một giá trị
lớn hơn so với chi phí ô nhiễm của nó, một lần nữa đây cũng là một tổn thất xã hội.
Trường hợp chính phủ xác định tiêu chuẩn cố định cho chất thải (W
p
) được trên mức ô nhiễm tối ưu
nhà máy sẽ sản xuất ở mức sản lượng (Q
p
), ở đó sẽ xuất hiện ngoại tác tiêu cực.
Vì vậy, đối với hình 6.1 mức thuế t
*
tạo cho xí nghiệp một sự khuyến khích mạnh để giảm sản lượng
từ mức sản lượng thị trường chấp nhận Q
m

Q
p
(lượng chất thải cũng sẽ giảm từ W
m
xuống còn W
p
). Tiền phạt sẽ tăng lên đến mức thuế t
*
trong hình
trước khi sản lượng và chất thải được giảm xuống đến mức tối ưu xã hội.
Ngoài ra, thuế ô nhiễm cũng còn có một số ưu điểm khác so với phương pháp ấn định tiêu chuẩn phát
thải với tiền phạt thấp:
- Thứ nhất, thuế ô nhiễm sẽ được quản lý thông qua khung thuế hiện hành của chính phủ nên ít có rủi
ro về thất thu so với tiêu chuẩn phát thải cố định được giám sát thông qua các cuộc kiểm tra thất
thường tại hiện trường.
- Thứ hai, khi một tiêu chuẩn ô nhiễm được thiết lập thì các xí nghiệp sẽ không được khuyến khích để
giảm phát thải xuống dưới mức cho phép. Điều này không hoàn toàn đúng đối với thuế ô nhiễm do
nó luôn luôn thúc đẩy các xí nghiệp giảm nhiều nhất lượng chất thải trong phạm vi có thể, vì giảm
số lượng phát thải có nghĩa là giảm số lượng thuế mà xí nghiệp phải trả.
- Thứ ba, thuế ô nhiễm tạo cho xí nghiệp một động lực khuyến khích sử dụng quỹ cho việc nghiên
cứu và phát triển công nghệ mới về giảm ô nhiễm hoặc các phương pháp sản xuất ít ô nhiễm hơn.
- Thứ tư, thuế ô nhiễm đánh trên các chất thải của loại hình công nghệ sử dụng loại nhiên liệu này sẽ
làm cho nhà sản xuất chuyển sang sử dụng các loại nhiên liệu khác do vậy sẽ cắt giảm được việc
phát thải.
6.2.2. Cách xác lập thuế ô nhiễm
Xét về mặt lý thuyết thì các loại thuế ô nhiễm có vẻ có nhiều thuộc tính hấp dẫn. Tuy nhiên, việc xác
lập một loại thuế ô nhiễm tối ưu (thuế Pigou) trong thực tế là rất khó khăn, có lẽ cơ bản nhất là vì tính
không chắc chắn về các chi phí tác hại thực tế gắn liền với bất cứ một chất ô nhiễm hay một mức độ ô
nhiễm nào. Việc xác lập thuế ô nhiễm tối ưu phụ thuộc vào 6 yếu tố riêng biệt sau (Pearce và Turner
1990):


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status