NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM - Pdf 63

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
I. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI CHI PHÍ
1.Khái niệm về chi phí sản xuất
Sản xuất vật chất thông qua hoạt động sản xuất của con người là một yếu
tố tất yếu để duy trì sự sống và sự phát triển của xã hội loài người. Hoạt động
sản xuất luôn gắn liền với sự vận động và tiêu hao các yếu tố của tạo nên quá
trình sản xuất. Do vậy, để có được giá trị sản phẩm sản xuất không thể không
tiêu hao những lượng giá trị khác. Đó chính là chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ haophí về lao động
sống và lao động vật hoá cần thiết trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh mà Doanh Nghiệp phải chi ra trong một chu kỳ kinh doanh
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp sản
xuất thường xuyên bỏ ra các khoản chi phí về các loại đối tượng lao động như
nguyên vật liệu, nhiên liệu, tư liệu lao động như nhà xưởng, máy móc thiết bị và
những tài sản cố định khác, sức lao động của con người,các dịch vụ mua ngoài
và các chi phí bằng tiền khác. Những chi phí đó không ngoài các hao phí về vật
chất như tiêu hao về nguyên liệu vật liệu nhiên liệu, năng lượng, máy móc thiết
bị.v.v... gọi chung là lao động vật hoá và hao phí về tiền lương, tiền thưởng, tiền
trích quỹ bảo hiểm xã hội.v.v.... gọi chung là lao động sống. Đó chính là các
yếu tố chi phí cơ bản cấu thành nên giá trị sản phẩm mới sáng tạo. Trong điều
kiện tồn tại nền sản xuất hàng hóa, mọi chi phí ra cuối cùng đều được biểu hiện
dưới hình thức tiền tệ.
Độ lớn của một chi phí sản xuất là một đại lượng xác định phụ thuộc vào
hai nhân tố :
-Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã tiêu hao
- Giá cả các tư liệu sản xuất đã tiêu dùng và tiền công.
2. Phân loại chi phí sản xuất.
thức khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích và yêu cầu của công tác quản lý. Tuy
nhiên, về mặt hạch toán chi phí sản xuất thường dược phân theo các tiêu thức
sau:

tượng. Theo quy định hiện hành giá thành sản xuất bao gồm 5 khoản mục chi
phí sau:
•Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu
liên quan đến việc sản xuất chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ.
•Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm toàn bộ tiền lương
(tiền công) và cáckhoản phụ cấp khác mang tính chất tiền lương trả cho công
nhân trực tiếp chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ cùng với các
khoản trích theo tỷ lệ quy định cho các quỹ kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế (phần tính vào chi phí).
•Chi phí sản xuất chung: Gồm toàn bộ các chi phí còn lại trong phạm vi phân
xưởng, bộ phận sản xuất sau khi đã laọi trừ chi phí nguyên vật liệu và chi phí
nhân công trực tiếp nói trên.
•Chi phí bán hàng: Gồm toàn bộ cá khoản chi phí phát sinh đến việc tiêu thụ
sản phẩm, hàng hoá lao vụ trong kỳ.
•Chi phí quản lý doanh nghiệp: Bao gồm toàn bộ các
khoản chi phí phát sinh liên quan đến quản trị kinh doanh và các quản lý hành
chính trong phạm vi toàn doanh nghiệp mà không tách được cho bất kỳ hoạt
động hay phân xưởng nào.

* Phân loại theo cách thức kết chuyển chi phí.
Theo cách thức kết chuyển toàn bộ chi phí sản xuất được chia thành chi
phí sản phẩm và chi phí thời kỳ. Chi phí sản phẩm là những chi phí gắn liền với
các sản phẩm được sản xuất hoặc được mua; còn chi phí thời kỳ là những chi
phí làm giảm lợi tức trong một kỳ nào đó, nó không phải là một phần giá trị sản
phẩm được sản xuất hoặc được mua nên được xem là các phí tổn, cần được
khấu trừ ra từ lợi nhuận của thời kỳ mà chúng phát sinh.
* Phân loại theo quan hệ của chi phí với khối lượng sản phẩm hoàn thành.
Để thuận lợi cho việc lập kế hoạch và kiểm tra chi phí, đồng thời đề ra
các quyết định kinh doanh, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh lại được phân
tjheo quan hệ khối lượng công việc hoàn thành. Theo cách này, chi phí được

tượng hạch toán chi phí sản xuất chính là việc xác định giới hạn tập hợp chi phí
mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và chịu chi phí. Trên cơ sở đối
tượng hạch toán đối tượng chi phí, kế toán lựa chọn phương pháp hạch toán chi
phí thích ứng. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất bao gồm các phương
pháp hạch toán theo sản phẩm, theo đơn đặt hàng, theo giai đoạn công nghệ,
theo phân xưởng, theo nhóm sản phẩm ………. Nội dung chủ yếu của các
phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất là kế toán mở thẻ (hoặc sổ) chi tiết hạch
toán theo từng đối tượng đã xác định, phản ánh các chi phí phát sinh có liên
quan đến đối tượng. Mỗi phương pháp hạch toán chỉ thích ứng với một loại đối
tượng hạch toán chi phí nên tên gọi của phương pháp này là biểu hiện đối tượng
mà nói cần phân loại chi phí.
II. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI GIÁ THÀNH.
1. Khái niệm.
Giá thành là chi phí sản xuất tính cho một khối lượng hay đơn vị sản
phẩm (công việc, lao vụ) do doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành.
Quá trình sản xuất ở một doanh nghiệp phải bỏ ra những chi phí sản
xuất, mặt khác kết quả của sản xuất doanh nghiệp thu được những sản phẩm,
công việc lao vụ đã hoàn thành đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Những
sản phẩm công việc lao vụ đã hoàn thành gọi chung là thành phẩm cần phải
được tính giá thành tức là những chi phí bỏ ra để sản xuất ra chúng.
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng
hoạt động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các tài sản vật tư, lao động doanh
nghiệp đã thực hiện nhằm đạt được mục đích sản xuất khối lượng sản phẩm
nhiều nhất với chi phí sản xuất tiết kiệm, và hạ giá thành. Giá thành sản phẩm
còn là căn cứ để tính toán, xác định hiệu quả kinh tế các hoạt đông sản xuất vủa
doanh nghiệp.
2. Phân loại giá thành.
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý kế toán và kế hoạch hoá giá thành
cũng như yêu cầu xây dựng giá bán hàng hóa, giá thành được xem xét dưới
dạng nhiều góc độ, nhiều phạm vị tính toán khác nhau. Về lý luận cũng như trên

chi phí sản xuất chung tính cho những sản phẩm, công việc hoặc lao vụ đã hoàn
thành. Giá thành sản xuất của sản phẩm được sử dụng ghi sổ cho sản phẩm đã
hoàn thành nhập kho hoặc giao cho khách hàng. Giá thành sản xuất của sản
phẩm cũng là căn cứ để tính giá vồn hàng bán và lãi gộp ở các doanh nghiệp sản
xuất.
•Giá thành toàn bộ: Giá thành toàn bộ của sản phẩm bao
gồm giá thành sản xuất của sản phẩm cộng thêm chi phí bán hàng và chi phí
quản lý doanh nghiệp tính cho sản phẩm đó. Giá thành toàn bộ của sản phẩm
chỉ được tính toán khi xác định khi sản phẩm, công việc, lao vụ, được tiêu thụ.
Giá thành toàn bộ của sản phẩm là căn cứ để tính toán, xác định lãi trước thuế
lợi tức của doanh nghiệp.
3. Phân biệt chi phí sản xuất với giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao
phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác,
sản phẩm, lao vụ hoàn thành. Về thực chi phí và giá thành là hai mặt khác nhau
của quá trính sản xuất. Chi phí sản xuất phản ánh mặt hao phí về sản xuất, còn
giá thành sản phẩm phản ánh mặt kết quả sản xuất. Tất cả những khoản chi phí
phát sinh (kỳ này hay kỳ trước chuyển sang) và các chi phí tính trước có liên
quan đến khối lượng sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ
tiêu giá thành sản phẩm. Nói cách khác giá thành là biểu hiện bằng tiền toàn bộ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status