Giải pháp hoàn thiện công tác hoạch định nhân sự tại công ty TNHH Nhà nước một
thành viên dệt 19_5 Hà Nội
I. Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh
1.Vai trò của kế hoạch đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh:
Kế hoạch là những chỉ tiêu, những con số được dự kiến và ước tính trước (trên
cơ sở khoa học) trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó cho phù hợp với
yêu cầu của thị trường, với pháp luật và khả năng thực tế của từng cơ sở sản xuất
kinh doanh.
Kế hoạch được phản ánh thông qua hệ thống các chỉ tiêu được lượng hoá bằng
các con số cụ thể. Kế hoạch được lập ra phải quán triệt nguyên tắc xuất phát từ yêu
cầu của thị trường, từ khả năng thực tế của doanh nghiệp và trong điều kiện pháp luật
cho phép, vì vậy mà kế hoạch được xem như một công cụ quản lý quan trọng nhằm
xác định mục tiêu, phương hướng của tất cả các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nếu đứng trên góc độ
thực hiện các mục tiêu chiến lược thì chúng ta có thể chia kế hoạch thành hai hình
thức là:
Kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Kế hoạch tác nghiệp và điều độ sản xuất.
Khi đi sâu vào xem xét kế hoạch sản xuất kinh doanh, bộ phận kế hoạch này lại được
chia thành ba hình thức:
Kế hoạch dài hạn.
Kế hoạch trung hạn.
Kế hoạch hàng năm.
Nếu như kế hoạch dài hạn và trung hạn được lập ra cho một khoảng thời gian
dài, như 10 năm, 7 năm, 5 năm…thì kế hoạch hàng năm lại là sự kế hoạch lập ra
1 1
nhằm cụ thể hoá những nhiệm vụ và mục tiêu của kế hoạch dài hạn và trung hạn cho
từng năm. Vì vậy nó mang tính chất toàn diện và cụ thể hơn về các mặt sản xuất, kỹ
thuật, tài chính và đời sống xã hội của công nhân viên chức.
như vậy mới góp phần xây dựng một bản kế hoạch sản xuất kinh doanh có chất lượng
và tính khả thi.
2.3.Tuân thủ trình tự xây dựng kế hoạch:
Trình tự xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần phải
tuân thủ theo ba bước là:
Bước chuẩn bị xây dựng kế hoạch( bao gồm các phương tiện, công cụ cần thiết phục
vụ cho việc xây dựng kế hoạch như: hệ thống số liệu, thông tin, hệ thống phần mềm
sử lý…)
Bước xây dựng kế hoạch dự thảo.
Bước xây dựng kế hoạch chính thức( bước xây dựng này phải hoàn thành chậm nhất
là vào cuối tháng 12 của năm báo cáo).
2.4.Phân chia các kế hoạch năm ra các quý các tháng các tuần và cho các phân
xưởng:
Đây thực chất là bước xây dựng bản kế hoạch tác nghiệp của doanh nghiệp.
Điều này sẽ đảm bảo cho mọi hoạt động của công ty được tiến hành bình thường và
đảm bảo hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu của kế hoạch sản xuất kinh
doanh hàng năm của công ty.
3 3
3.Một số phương pháp và công cụ sử dụng trong hoạt động dự báo và hoạch định kế
hoạch sản xuất kinh doanh.
Trên thực tế, có hai cách tiếp cận dự báo chính và cũng là hai con đường đề
cập đến cách lập mô hình dự báo. Đó là phân tích định tính dựa vào sự suy đoán cảm
nhận. Phương pháp này phụ thuộc nhiều vào trực giác, kinh nghiệm và sự nhạy cảm
của nhà quản trị để dự báo. Hai là phương pháp phân tích định lượng dựa chủ yếu
vào các mô hình toán học trên cơ sở những dữ liệu, tài liệu đã qua thống kê được.
Dưới đây là một số phương pháp định lượng:
3.1.Phương pháp bình quân giản đơn.
Bình quân giản đơn là phương pháp dự báo trên cơ sở lấy trung bình của các
dữ liệu đã qua, trong đó có các nhu cầu của các giai đoạn trước đều có trọng số như
nhau, nó được thể hiện bằng công thức sau:
Năm 2006 5.409.749 81,6 120 68%
Năm 2007 6.221.212 94,5 140 67,5%
(Nguồn: Phòng kế hoạch thị trường)
Qua bảng số liệu trên, áp dụng phương pháp bình quân giản đơn, ta sẽ dự báo
được nhu cầu về các sản phẩm vải của công ty trong năm tới là:
F(2008) = (3.623.631+3.781.963+4.090.548+4.704.130+5.409.749+6.221.212)/6
= 4.628.038 (mét vải)
3.2.Phương pháp bình quân di động.
Trong trường hợp khi nhu cầu có sự biến động, trong đó thời gian gần nhất có
ảnh hưởng nhiều nhất đến kết quả dự báo, thời gian càng xa thì mức độ ảnh hưởng
càng nhỏ. Khi đó, ta nên áp dụng phương pháp bình quân di động.
Phương pháp bình quân di động, dùng kết quả trên cơ sở thay đổi liên tục
khoảng thời gian trước đây cho dự báo giai đoạn tiếp theo:
Ft =
n
Ai
nt
ti
∑
−
−= 1
Trong đó:
Ai: Là nhu cầu thực của giai đoạn i.
n: Là số giai đoạn quan sát.
Ft : Là nhu cầu dự báo cho giai đoạn t
5 5
Thời
gian
Sản lượng tiêu thụ thực tế
Cụ thể:
Ft =
∑
∑
−
−=
i
nt
ti
Hi
HiAi
1
.
Trong đó:
Ai: Là nhu cầu thực của giai đoạn i.
6 6
n: Là số giai đoạn quan sát.
Ft : Là nhu cầu dự báo cho giai đoạn t.
Hi:Là trọng số của giai đoạn i.
3.4.Phương pháp san bằng số mũ giản đơn.
Do các phương pháp bình quân đã trình bày ở trên có những nhược điểm như:
- Khi số quan sát n tăng lên, thì khả năng san bằng các dao động tốt hơn,
nhưng dự báo lại trở nên ít nhạy cảm hơn với những biến đổi thực tế của nhu cầu.
- Dự báo thường không bắt kịp nhu cầu, không bắt kịp xu hướng thay đổi nhu
cầu.
- Các phương pháp dự báo trên đòi hỏi phải ghi chép số liệu đã quan sát rất
cặn kẽ và phải đủ lớn mới giúp cho số liệu dự báo chính xác. Vì vậy, đòi hỏi rất công
phu trong việc ghi chép, lưu trữ số liệu.
Để khắc phục những hạn chế của các phương pháp bình quân, công ty có thể
áp dụng phương pháp san bằng số mũ để phục vụ cho công tác dự báo. Đây là
Năm 2006 5.409.749 4.052.436+0,9.(4.704.130-4.052.436)=4.638.960
Năm 2007 6.221.212 4.638.960+0,9.(5.409.749-4.638.960)=5.332.670
Năm 2008 - 5.332.670+0,9.(6.221.212-5.332.670)=6.132.357
Bằng phương pháp san bằng số mũ giản đơn, chúng ta có thể dự báo cho sản
lượng vải tiêu thụ của năm 2008 dựa trên số liệu tình hình tiêu thụ các sản phẩm vải
của công ty trong giai đoạn 2002-2007, với hệ số san bằng số mũ là 0,9.
Tóm lại: Lựa chọn đúng mô hình dự báo định lượng kết hợp với đánh giá lại
bằng phương pháp định tính như: phương pháp chuyên gia, phương pháp lấy ý kiến
lực lượng bán hàng… sẽ giúp cho các con số dự báo của công ty sát với thực tế, giúp
các chỉ tiêu và mục tiêu của kế hoạch sản xuất kinh doanh chính xác và có tính khả
thi.
8 8
II. Hoàn thiện công tác xây dựng hệ thống tiêu chuẩn định mức hao phí lao động.
1.Khái niệm và vai trò:
Định mức hao phí lao động là lượng lao động hao phí lớn nhất không được
phép vượt quá để hoàn thành một đơn vị sản phẩm hoặc một chi tiết sản phẩm hoặc
một bước công việc theo tiêu chuẩn chất lượng quy định trong điều kiện tổ chức, kỹ
thuật, tâm sinh lý, kinh tế xã hội nhất định.
Có nhiều cách phân loại định mức khác nhau nhưng ở đây chúng ta chỉ phân
loại định mức dựa trên tính chất đơn vị tính toán. Dựa trên căn cứ này, định mức lao
động được chia thành ba loại là: định mức thời gian, định mức sản lượng và định
mức phục vụ.
Định mức lao động là một công cụ quan trọng trong việc xây dựng tiêu chuẩn
thực hiện công việc, trong việc đánh giá việc thực hiện công việc, bố trí, phân công
lao động, tổ chức sản xuất, cơ sở cho việc tính toán giá thành. Đồng thời định mức
lao động cũng là cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty.
2.Phương pháp xây dựng định mức lao động:
2.1.Phương pháp thống kê kinh nghiệm:
Thực chất của phương pháp này là dựa vào số liệu thống kê và kinh nghiệm
của cán bộ định mức để xây dựng. Phương pháp này được chia làm hai loại: Thống
đưa vào định mức, kể cả các loại thời gian chuẩn kết, phục vụ và nghỉ vì nhu cầu con
người nếu vượt quá định mức cũng coi như lãng phí. Khi đó, khoảng thời gian lãng
phí thực tế sẽ được phân bổ vào khoảng thời gian gia công.
Phương pháp ghi giờ thực tế được tiến hành qua 4 bước:
10 10
- Bước 1: Chuẩn bị quan sát ghi chép, bao gồm chọn đối tượng quan sát ghi
chép, làm cho đối tượng hiểu rõ mục tiêu, chuẩn bị máy móc, thiết bị, nguyên vật
liệu, đồng hồ và dụng cụ ghi chép…
- Bước 2: Tiến hành quan sát, ghi chép, ở bước này cần chú ý, việc ghi chép
được tiến hành liên tục từ đầu ca đến hết ca làm việc, ghi chép tất cả các loại công
việc ở từng thời gian, không được bỏ sót một loại công việc nào.
- Bước 3: Lên biểu tổng hợp thời gian công tác hao phí trong ca.
- Bước 4: Lập bảng định mức.
+ Bấm giờ: Thực chất là phương pháp quan sát và nghiên cứu tỷ mỷ tình hình
hao phí thời gian gia công bằng cách đo thời gian và phân tích những điều kiện hoàn
thành của các bước công việc. Mục đích của phương pháp bấm giờ là xây dựng và
sửa đổi định mức hao phí cho từng bước công việc, từng công việc một cách hợp lý.
Phương pháp bấm giờ được tiến hành qua 4 bước:
- Bước 1: Chọn đối tượng để bấm giờ và chuẩn bị bấm giờ.
- Bước 2: Tiến hành bấm giờ, đo thời gian hoàn thành bước công việc một vài
lần, để tính chính xác mức hao phí lao động.
- Bước 3: Chỉnh lý và phân tích tài liệu bấm giờ ghi chép được
- Bước 4: Tính định mức hợp lý cho bước công việc cần bấm giờ.
Trên thực tế, khi xây dựng hệ thống tiêu chuẩn định mức hao phí lao động thì
chúng ta nên áp dụng cả hai phương pháp trên. Nếu như phương pháp chụp ảnh hay
ghi giờ thực tế được áp dụng để xây dựng định mức hao phí lao động trong ca làm
việc cho các loại thời gian thì phương pháp bấm giờ lại giúp xây dựng định mức hao
phí lao động cho từng bước công việc, từng công việc.
Công tác xây dựng hệ thống tiêu chuẩn định mức hao phí lao động cần được
xây dựng phù hợp với tình hình hoạt động sản xuất thực tế của công ty, và cần phải
động dự tính của năm kế hoạch.
12 12
Công thức: D =
KmTn
SLiti
n
i
.
.
1
∑
=
Trong đó:
D: Là cầu về lao động năm kế hoạch của công ty( đơn vị: người).
ti: Lượng lao động hao phí để sản xuất một đơn vị sản phẩm i(giờ -
mức). Chỉ tiêu này được xác định dựa vào hệ thống tiêu chuẩn định mức lao động
hao phí( mức thời gian hao phí) cho từng bước công việc, theo từng nghề.
SLi: Tổng số sản phẩm i cần sản xuất trong năm kế hoạch. Chỉ tiêu này
được xác định dựa vào kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tn:Quỹ thời gian làm việc bình quân của một lao động năm kế
hoạch( giờ-người). Chỉ tiêu này được xác định thông qua việc xây dựng bảng cân đối
thời gian lao động của một lao động năm kế hoạch trên cơ sở phân tích bảng cân đối
thời lao động của một lao động năm báo cáo.
Km: Hệ số tăng năng suất lao động dự tính năm kế hoạch. Chỉ tiêu này
được xác định thông qua việc dự kiến những yếu tố ảnh hưỏng như thay đổi về kỹ
thuật, tổ chức.
n: Số loại sản phẩm cần sản xuất năm kế hoạch.
Cụ thể: Để dự tính được nhu cầu nhân lực tháng 2 năm 2008 của nhà máy may
thêu của công ty dệt 19/5 Hà Nội ta dựa vào kế hoạch sản xuất sản phẩm và lượng lao
động hao phí cho một đơn vị sản phẩm.