Chương 7
THỊ TRƯỜNG CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT
VÀ SỰ LỰA CHỌN CỦA DOANH NGHIỆP
Trên thị trường đầu ra, để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp luôn
luôn phải lựa chọn mức sản lượng thích hợp tùy theo các điều kiện về chi
phí và nhu cầu. Tuy nhiên, để làm được điều đó, doanh nghiệp đồng thời
cũng phải có những lựa chọn thích hợp trên các thị trường đầu vào - thị
trường các yếu tố sản xuất. Quyết định sản lượng đầu ra và tổ hợp các
yếu tố đầu vào cần sử dụng là một quyết định “kép” mà doanh nghiệp
đồng thời phải thực hiện. Trong chương này, chúng ta xuất phát từ cách
thức lựa chọn các yếu tố sản xuất phù hợp với mục tiêu tối đa hóa lợi
nhuận của doanh nghiệp để giải thích cầu về các yếu tố sản xuất trên thị
trường. Phối hợp với việc xem xét các nhân tố chi phối cung về các yếu
tố sản xuất, chúng ta có thể giải thích sự vận hành của thị trường các yếu
tố này.
Mặc dù hoạt động của thị trường yếu tố sản xuất có khá nhiều điểm
tương tự như thị trường hàng hóa, song điểm khác biệt cần được lưu ý là:
nhu cầu về các yếu tố sản xuất là một loại nhu cầu phái sinh. Nhu cầu về
các hàng hóa đầu ra trực tiếp nhằm thỏa mãn những đòi hỏi về tiêu dùng
của con người, song nhu cầu về các yếu tố sản xuất lại có nguồn gốc
không phải từ chính bản thân chúng. Các doanh nghiệp chỉ cần đến các
yếu tố sản xuất vì chúng có thể được sử dụng để tạo ra một loại hàng hóa
đầu ra nào đó. Chỉ khi xã hội có nhu cầu về quần áo, các doanh nghiệp
quyết định cung ứng quần áo mới có cơ may tồn tại. Chỉ khi đó, các
doanh nghiệp này mới có nhu cầu về những người thợ may, hay những
chiếc máy may. Nói cách khác, nhu cầu về hàng hóa đầu ra quy định nhu
cầu về các yếu tố sản xuất tương ứng.
Hiểu biết về sự vận hành của thị trường yếu tố sản xuất là chìa
khóa để lý giải cơ chế phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường.
236
Thông qua việc phân tích về thị trường lao động, thị trường vốn hay thị
hiệu quả. Khi đó, từ một tổ hợp yếu tố sản xuất đầu vào xác định, chỉ có
thể tạo ra một mức sản lượng đầu ra tối đa duy nhất. Tuy nhiên, điều
ngược lại có thể là không đúng. Để sản xuất ra một sản lượng đầu ra như
nhau, người ta có thể sử dụng các kết hợp đầu vào khác nhau. Chỉ có
điều, khi không sử dụng các phương pháp sản xuất lãng phí, để tạo ra
cùng một mức sản lượng, nếu một đầu vào nào đó được sử dụng nhiều
hơn, chắc chắn một loại đầu vào khác phải được sử dụng ít hơn. Ví dụ, để
tạo ra 100 đơn vị sản phẩm trong một ngày, người ta có thể sử dụng hoặc
10 giờ máy (vốn) và 8 giờ lao động hoặc 6 giờ máy và 18 giờ lao động.
Một cách kết hợp nhất định các yếu tố đầu vào thể hiện một cách thức
hay một kỹ thuật sản xuất. Ở ví dụ vừa nêu trên, người ta có thể sản xuất
ra 100 đơn vị đầu ra từ hai kỹ thuật khác nhau: một kỹ thuật sử dụng
tương đối nhiều vốn và một kỹ thuật sử dụng tương đối nhiều lao động.
Một hàm sản xuất thực chất khái quát các kỹ thuật sản xuất có hiệu quả
khác nhau trong giới hạn của một trình độ công nghệ nhất định (tức một
trình độ kiến thức hay hiểu biết nhất định về các kỹ thuật sản xuất khác
nhau mà người ta có thể sử dụng để tạo ra các hàng hóa). Tiến bộ công
nghệ (hay tiến bộ kỹ thuật) cho phép người ta có thể sản xuất ra nhiều
hàng hóa hơn từ những lượng đầu vào như cũ. Nó có thể biến các kỹ
thuật sản xuất hiệu quả trước đây thành kỹ thuật sản xuất không hiệu quả.
Nó tạo ra những kỹ thuật sản xuất mới có năng suất cao hơn. Vì thế, nếu
một hàm sản xuất gắn liền với một trình độ công nghệ nhất định thì tiến
bộ công nghệ làm thay đổi cả hàm sản xuất.
Hàm sản xuất trong ngắn hạn: Trong ngắn hạn, doanh nghiệp
không điều chỉnh được tất cả các yếu tố sản xuất. Một số yếu tố có thể
thay đổi được trong khi một số khác là cố định. Để đơn giản hóa, chúng
ta giả định doanh nghiệp chỉ sử dụng hai yếu tố sản xuất có tính chất đại
diện là vốn hiện vật K và lao động L. Khi đó, hàm số sản xuất có dạng: Q
= F(K,L). Trong ngắn hạn, giả sử K là cố định. Trong trường hợp này, sản
lượng đầu ra Q chỉ phụ thuộc vào sự thay đổi của lượng đầu vào lao động
đây, quy mô sản xuất của doanh nghiệp lớn hơn cho phép nó có thể khai
thác được những lợi thế của việc chuyên môn hóa sản xuất hoặc sử dụng
được các máy móc, thiết bị tinh vi hơn, có hiệu suất cao hơn. Nếu việc
mở rộng quy mô không làm thay đổi nhiều giá cả các yếu tố sản xuất,
điều đó cũng làm cho chi phí bình quân dài hạn của doanh nghiệp giảm
xuống. Thứ hai, khi số lượng tất cả các yếu tố đầu vào được sử dụng đều
tăng lên một cách cân đối n lần kéo theo sản lượng đầu ra Q cũng tăng lên
đúng n lần, tức F(nK,nL) = n.F(K,L), ta nói, doanh nghiệp đang hoạt động
239
trên miền hiệu suất không đổi theo quy mô. Trong trường hợp này, nếu
giá cả các yếu tố sản xuất vẫn giữ nguyên, việc mở rộng quy mô không
làm thay đổi chi phí bình quân dài hạn của doanh nghiệp. Thứ ba, khi
lượng tất cả các yếu tố đầu vào được sử dụng đều tăng lên n lần song sản
lượng đầu ra Q lại tăng thấp hơn n lần, tức F(nK,nL) < n.F(K,L),
ta nói, doanh nghiệp đang hoạt động ở miền hiệu suất giảm dần theo quy mô.
Nếu giá cả các yếu tố sản xuất vẫn không thay đổi, trong trường hợp
này, càng
tăng quy mô sản xuất, chi phí bình quân dài hạn của doanh
nghiệp cũng càng
tăng. Quá một ngưỡng nào đó, quy mô lớn lại trở thành một bất lợi đối với doanh
nghiệp.
7.1.2. Quy luật sản phẩm biên có xu hướng giảm dần
Sản phẩm biên (MP) của một yếu tố sản xuất là lượng sản phẩm
tăng
thêm nhờ sử dụng thêm một đơn vị yếu tố sản xuất trên trong điều kiện các yếu
tố sản xuất còn lại được giữ nguyên.
Trong hàm sản xuất Q = F(K,L)=f(L), nếu K là cố định, sản phẩm biên
của lao động tại một điểm nào đó (một mức L nào đó) chính là lượng đầu ra tăng
thêm khi sử dụng thêm một đơn vị lao động.
MP
Quy luật sản phẩm biên có xu hướng giảm dần: Khi K là hằng số,
nếu không có đơn vị lao động nào được sử dụng, người ta không sản xuất
được một đơn vị đầu ra nào. Nếu sử dụng một đơn vị lao động, có thể tạo
ra 8 đơn vị sản lượng đầu ra. Như vậy, sản phẩm biên của đơn vị lao động
đầu tiên là 8 (đơn vị đầu ra). Khi có hai đơn vị lao động được sử dụng,
nhờ lợi thế chuyên môn hóa chẳng hạn, tổng sản lượng tăng lên thành 19
đơn vị. Điều đó có nghĩa là sản phẩm biên của đơn vị lao động thứ hai là
11. Nếu tiếp tục tăng thêm một đơn vị đầu vào lao động, sản phẩm biên
có thể vẫn tiếp tục tăng. Trong ví dụ của chúng ta, sản phẩm biên của đơn
vị lao động thứ ba là 13. Tuy nhiên, đến một ngưỡng nào đó, việc tăng
thêm một đầu vào khả biến duy nhất như lao động chẳng hạn sẽ làm cho
quy luật lợi suất giảm dần dần phát huy tác dụng. Sản phẩm biên của các
đơn vị lao động càng về sau càng giảm. Trong ví dụ của chúng ta, sản
phẩm biên của đơn vị lao động thứ tư bắt đầu giảm xuống, chỉ còn 12;
của đơn vị lao động thứ năm chỉ còn 10... Xu hướng sản phẩm biên giảm
dần cứ tiếp tục bộc lộ.
Như vậy, nếu các yếu tố sản xuất khác được giữ nguyên, việc tăng dần
lượng sử dụng một loại yếu tố sản xuất duy nhất sẽ làm cho sản phẩm biên của
mỗi đơn vị yếu tố sản xuất bổ sung thêm có xu hướng giảm dần, ít nhất bắt đầu
từ một ngưỡng nào đó.
241
Có thể giải thích lý do sản phẩm biên của một yếu tố sản xuất có
xu hướng giảm dần như sau: Vì các yếu tố sản xuất khác được giữ
nguyên, nên khi tăng dần số lượng của riêng một loại yếu tố sản xuất,
mỗi đơn vị của nó ngày càng có ít hơn các yếu tố sản xuất khác để phối
hợp. Vì thế, chắc chắn từ một điểm nào đó, sản phẩm tăng thêm từ mỗi
đơn vị yếu tố sản xuất bổ sung thêm sẽ ngày càng giảm dần. Trong ví dụ
của chúng ta, với K là hằng số, việc tăng dần L sẽ làm cho mỗi đơn vị lao
động càng về sau ngày càng có ít vốn hơn để sử dụng (K/L giảm dần).
Quá một ngưỡng nào đó, sản phẩm biên của mỗi đơn vị lao động về sau
L
2
L (số lượng lao động)
Hình 7.1: Đường sản phẩm biên của lao động. Khi vượt quá ngưỡng L
0
,
càng sử
dụng thêm nhiều lao động, sản phẩm biên của những đơn vị lao động tiếp
theo có xu
hướng giảm dần.
Sự dịch chuyển của đường sản phẩm biên: Mỗi đường sản phẩm
biên của lao động gắn liền với một lượng vốn (đại diện cho quỹ các yếu
tố sản xuất khác) cố định. Khi lượng vốn này thay đổi, đường sản phẩm
biên của lao động sẽ dịch chuyển. Với lượng vốn lớn hơn, ở mỗi mức lao
động, sản phẩm biên của lao động nói chung lớn hơn trước. Đường sản
phẩm biên của lao động, trong trường hợp này, dịch chuyển lên trên.
Ngược lại, khi lượng vốn (và các yếu tố sản xuất không phải là lao động
khác) giảm xuống, đường sản phẩm biên của lao động, về cơ bản, sẽ dịch
chuyển xuống dưới.
Sự thay đổi của trình độ của công nghệ làm biến đổi toàn bộ hàm sản
xuất, do đó, cũng làm dịch chuyển đường sản phẩm biên của một yếu tố sản
xuất. Chẳng hạn, tiến bộ công nghệ làm cho sản phẩm biên của lao động ở mỗi
mức lao động có xu hướng tăng lên, ngay cả khi quỹ vốn và
các yếu tố sản
xuất vẫn giữ nguyên như cũ. Trong trạng huống này,
đường sản phẩm biên
của lao động dịch chuyển lên trên.
243
MP
L
MRP
L
= ∆(TR)/∆L = [∆(TR)/∆Q] : [∆L/∆Q] = MR.MP
L
Nói cách khác, doanh thu sản phẩm biên của một yếu tố sản xuất chính
bằng sản phẩm biên của yếu tố này nhân với doanh thu biên của sản phẩm đầu
ra. Trong trường hợp thị trường đầu ra là cạnh tranh hoàn hảo,
doanh thu biên
luôn luôn bằng mức giá nên doanh thu sản phẩm biên
chính bằng sản phẩm
biên nhân với mức giá đầu ra (MRP = MP.MR =
MP.P). Với trường hợp đặc
biệt này, doanh thu sản phẩm biên được gọi là giá trị sản phẩm biên và được ký
hiệu là MVP.
Hình dạng của đường doanh thu sản phẩm biên MRP cũng tương tự
như hình dạng của đường sản phẩm biên mặc dù tỷ lệ theo chiều thẳng
đứng của chúng có thể khác nhau. Đường MRP thoạt tiên có xu hướng
dốc lên, song về cơ bản nó có xu hướng dốc xuống, phản ánh doanh thu
sản phẩm biên, đến một ngưỡng nào đó, sẽ giảm dần theo chiều hướng
tăng lên của lượng đầu vào khả biến. Chính xu hướng giảm dần của sản
phẩm biên quyết định xu hướng giảm dần của doanh thu sản phẩm biên.
Nếu thị trường đầu ra là thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, đường
doanh thu sản phẩm biên càng trở nên dốc hơn do doanh thu biên của sản
phẩm đầu ra còn nhỏ hơn mức giá và mức giá cũng có xu hướng giảm
dần khi lượng đầu ra bán ra tăng.
Từ công thức MRP = MP.MR có thể thấy rằng, doanh thu sản phẩm
biên của một yếu tố sản xuất phụ thuộc vào sản phẩm biên của nó cũng
như doanh thu biên của sản phẩm đầu ra. Vì thế, sự dịch chuyển của
đường doanh thu sản phẩm biên có nguồn gốc từ: thứ nhất, các nguyên
nhân làm cho đường sản phẩm biên dịch chuyển. Khi quỹ các yếu tố sản
nghiệp chỉ phụ thuộc vào lượng lao động được sử dụng. Nói cách khác, hàm
sản xuất của doanh nghiệp có dạng: Q = f(L). Vấn đề ở đây là, doanh nghiệp
phải lựa chọn lượng đầu vào lao động nào là tối ưu?
Khi sử dụng thêm một đơn vị lao động, lợi ích mà doanh nghiệp
thu thêm được, tính bằng tiền, chính là doanh thu sản phẩm biên của đơn
vị lao động này (MRP
L
). Để có được đơn vị lao động này, doanh nghiệp
phải bỏ ra thêm một khoản chi phí mà ta có thể gọi là chi phí biên yếu tố
của lao động MFC
L
. Đó chính là khoản chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ
ra thêm khi sử dụng thêm một đơn vị yếu tố sản xuất (trong trường hợp
này là lao động). Nếu doanh thu sản phẩm biên của đơn vị lao động này
lớn hơn chi phí biên yếu tố của nó (tức MRP
L
> MFC
L
), rõ ràng việc thuê
thêm thêm đơn vị lao động này là có lợi đối với doanh nghiệp: nhờ việc
thuê thêm này, doanh nghiệp sẽ tăng được quỹ lợi nhuận của mình. Vì
thế, về nguyên tắc, để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp cần thuê thêm
lao động chừng nào doanh thu sản phẩm biên của đơn vị lao động tăng
thêm còn lớn hơn chi phi biên yếu tố của nó.
Lập luận một cách tương tự, chúng ta cũng dễ dàng nhận ra rằng, nếu tại
đơn vị lao động cuối cùng, doanh thu sản phẩm biên nhỏ hơn chi phí biên yếu
tố tương ứng (MRP
L
< MFC
L
Nếu thị trường đầu vào là thị trường cạnh tranh hoàn hảo, do đó, doanh
nghiệp chỉ là người chấp nhận giá, thì khi thuê thêm một đơn vị
yếu tố sản
xuất, chi phí biên yếu tố mà nó phải bỏ ra chính là mức giá thuê thị trường.
Trong trường hợp này, đường cung về loại yếu tố sản
xuất này mà doanh
nghiệp đối diện là một đường nằm ngang. Lượng yếu
tố sản xuất mà nó thuê
nhiều hay ít không tác động đến mức giá thuê.
Chẳng hạn, nếu trên thị
trường lao động, doanh nghiệp là người chấp
nhận giá, thì khi thuê thêm một
đơn vị lao động, chi phí mà doanh nghiệp
phải bỏ ra thêm chính là mức lương
thị trường. Khi đó, điều kiện lựa
chọn lượng đầu vào lao động tối ưu là:
MRP
L
= w, trong đó w là mức
lương thị trường của một đơn vị lao động.
Nói một cách tổng quát, nếu thị trường đầu vào là cạnh tranh hoàn
hảo, điều kiện lựa chọn đầu vào tối đa hóa lợi nhuận đối với một doanh
nghiệp là:
MRP
i
= h
i
(7.1)
trong đó MRP
i
i1
, đường thẳng nằm
ngang tương ứng với mức giá này tiếp xúc với đường MRP
i
tại một điểm
A duy nhất cho thấy lượng đầu vào i mà doanh nghiệp cần thuê là i
1
(i
1
là
hoành độ của điểm A), vì chỉ tại i
1
điều kiện (7.1) mới thỏa mãn. Nếu h
i
hạ xuống thành h
i2
, đường thẳng nằm ngang tương ứng với mức giá mới
này cắt đường MRP
i
tại hai điểm B và B’. Như vậy, tại cả hai mức đầu
vào i
2
và i
2
’, điều kiện (7.1) đều thỏa mãn. Tuy nhiên, i
2
’ tương ứng với
phần đường MRP
i
đang đi lên, còn i
trường của đầu vào này là h
i2
, mức đầu vào cho phép doanh nghiệp tối đa
hóa lợi nhuận chính là i
2
, tương ứng với phần đường MRP
i
dốc xuống. Ở
những giá trị i lân cận với i
2
, khi i < i
2
, ta có MRP
i
> h
i2
. Lúc này càng
tăng i, doanh nghiệp càng tăng được lợi nhuận. Còn khi i > i
2
, vì MRP
i
<
h
i2
nên càng tăng i, doanh nghiệp càng bị giảm đi quỹ lợi nhuận. Chỉ tại i
= i
2
, doanh nghiệp mới đạt được lợi nhuận tối đa.
249
h
, đường thẳng nằm ngang tương ứng với mức
giá này cắt phần dốc xuống của đường MRP
i
tại điểm C, có hoành độ là
i
3
, hàm ý rằng, i
3
chính là số lượng đầu vào i tối ưu mà doanh nghiệp cần
thuê.
Bây giờ chúng ta thử nhìn lại các điểm A, B, C… Chúng đều là
những điểm nằm trên phần dốc xuống của đường doanh thu sản phẩm
biên của yếu tố sản xuất i. Mỗi điểm đều cho chúng ta biết số lượng đầu
vào i mà doanh nghiệp cần và sẵn sàng thuê để tối đa hóa lợi nhuận tương
ứng với các mức giá thị trường h
i
của đầu vào này. Nói cách khác, đó là
những điểm khác nhau thuộc đường cầu về yếu tố sản xuất i của doanh
nghiệp.
Như vậy, đường cầu về một loại yếu tố sản xuất của doanh nghiệp chính
là phần dốc xuống của đường doanh thu sản phẩm biên của yếu tố sản xuất này.
250