236
Chương 7
THỊ TRƯỜNG CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT
VÀ SỰ LỰA CHỌN CỦA DOANH NGHIỆP
Trên thị trường đầu ra, để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp luôn
luôn phải lựa chọn mức sản lượng thích hợp tùy theo các điều kiện về chi
phí và nhu cầu. Tuy nhiên, để làm được điều đó, doanh nghiệp đồng thời
cũng phải có những lựa chọn thích hợ
p trên các thị trường đầu vào – thị
trường các yếu tố sản xuất. Quyết định sản lượng đầu ra và tổ hợp các
yếu tố đầu vào cần sử dụng là một quyết định “kép” mà doanh nghiệp
đồng thời phải thực hiện. Trong chương này, chúng ta xuất phát từ cách
thức lựa chọn các yếu tố sản xuất phù hợp với mục tiêu tối đa hóa lợi
nhuận c
ủa doanh nghiệp để giải thích cầu về các yếu tố sản xuất trên thị
trường. Phối hợp với việc xem xét các nhân tố chi phối cung về các yếu
tố sản xuất, chúng ta có thể giải thích sự vận hành của thị trường các yếu
tố này.
Mặc dù hoạt động của thị trường yếu tố sản xuất có khá nhiều điểm
tương tự như th
ị trường hàng hóa, song điểm khác biệt cần được lưu ý là:
nhu cầu về các yếu tố sản xuất là một loại nhu cầu phái sinh. Nhu cầu về
các hàng hóa đầu ra trực tiếp nhằm thỏa mãn những đòi hỏi về tiêu dùng
của con người, song nhu cầu về các yếu tố sản xuất lại có nguồn gốc
không phải từ chính bản thân chúng. Các doanh nghiệp chỉ cần đến các
yếu tố s
ản xuất vì chúng có thể được sử dụng để tạo ra một loại hàng hóa
đầu ra nào đó. Chỉ khi xã hội có nhu cầu về quần áo, các doanh nghiệp
quyết định cung ứng quần áo mới có cơ may tồn tại. Chỉ khi đó, các
hợp các yếu tố sản xuất xác định nào đó. Có thể viết hàm sản xuất dưới
dạng:
Q = F(K, L,…)
Trong đó Q là số lượng đầu ra tối đa có thể sản xuất ra được từ tổ hợp
nhất định vốn (K) (vốn ở đây được hiểu là vốn hiện vật, tồn tại dưới dạng
nhà xưởng, máy móc, thiết bị hay hàng tồn kho), lao động (L) cũng như
các đầu vào khác; F biểu thị Q là một hàm số
của các yếu tố đầu vào K,
L… Khi đề cập đến số lượng đầu ra tối đa, người ta muốn nhấn mạnh
rằng, vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, các doanh nghiệp không sử dụng
các phương pháp sản xuất lãng phí hay không hiệu quả về phương diện
238
kỹ thuật. Chúng có khả năng tận dụng được những kỹ thuật sản xuất có
hiệu quả. Khi đó, từ một tổ hợp yếu tố sản xuất đầu vào xác định, chỉ có
thể tạo ra một mức sản lượng đầu ra tối đa duy nhất. Tuy nhiên, điều
ngược lại có thể là không đúng. Để sản xuất ra một sản lượng đầ
u ra như
nhau, người ta có thể sử dụng các kết hợp đầu vào khác nhau. Chỉ có
điều, khi không sử dụng các phương pháp sản xuất lãng phí, để tạo ra
cùng một mức sản lượng, nếu một đầu vào nào đó được sử dụng nhiều
hơn, chắc chắn một loại đầu vào khác phải được sử dụng ít hơn. Ví dụ, để
tạo ra 100 đơn vị sản phẩm trong m
ột ngày, người ta có thể sử dụng hoặc
10 giờ máy (vốn) và 8 giờ lao động hoặc 6 giờ máy và 18 giờ lao động.
Một cách kết hợp nhất định các yếu tố đầu vào thể hiện một cách thức
hay một kỹ thuật sản xuất. Ở ví dụ vừa nêu trên, người ta có thể sản xuất
ra 100 đơn vị đầu ra từ hai kỹ thuật khác nhau: một kỹ thuật sử dụ
ng
tương đối nhiều vốn và một kỹ thuật sử dụng tương đối nhiều lao động.
dụng yếu tố đầu vào khả biến. Tuy nhiên, khi K thay đổi (chẳng hạn, khi
doanh nghiệp lại dịch chuyển đến một khoảng thời gian ngắn hạn khác), ở
mỗi mức lao động L được sử dụng, mức sản lượng Q được tạo ra cũng
thay đổi. Vì thế, toàn bộ hàm sản xuất Q = f(L) sẽ thay đổi. Số lượng đầu
vào K sẽ quy định hình dạng của hàm sản xuất f(L).
Hàm sản xuất trong dài hạn: Trong dài hạn, doanh nghiệp có thể
điều chỉnh được tất cả các yếu tố sản xuất. Với giả định đơn giản hóa về
việc doanh nghiệp chỉ sử d
ụng hai yếu tố sản xuất K và L, hàm sản xuất
Q=F(K,L) cho thấy sản lượng Q phụ thuộc cả vào K lẫn L, và để tạo ra
các sản lượng Q, doanh nghiệp có quyền cân nhắc sự kết hợp tối ưu giữa
chúng. Một mặt, để sản xuất ra cùng một mức sản lượng Q, có thể lựa
chọn m
ột sự đánh đổi nào đó giữa K và L. Có thể tăng K và giảm L hoặc
ngược lại, theo nhiều phương án khác nhau mà vẫn tạo ra cùng một mức
sản lượng Q. Mặt khác, khi cả K và L đều tăng, đương nhiên, sản lượng
đầu ra Q được sản xuất ra cũng tăng. Có ba khả năng xảy ra: Thứ nhất,
khi quy mô tất cả các yếu t
ố đầu vào của sản xuất đều tăng lên n lần, song
sản lượng đầu ra lại tăng nhiều hơn n lần, tức F(nK,nL) > n.F(K,L), ta nói,
doanh nghiệp đang hoạt động ở miền hiệu suất tăng dần theo quy mô. Ở
đây, quy mô sản xuất của doanh nghiệp lớn hơn cho phép nó có thể khai
thác được những lợi thế c
ủa việc chuyên môn hóa sản xuất hoặc sử dụng
được các máy móc, thiết bị tinh vi hơn, có hiệu suất cao hơn. Nếu việc
mở rộng quy mô không làm thay đổi nhiều giá cả các yếu tố sản xuất,
điều đó cũng làm cho chi phí bình quân dài hạn của doanh nghiệp giảm
xuống. Thứ hai, khi số lượng tất cả các yếu tố đầu vào được sử dụng đều
tăng lên một cách cân đối
n lần kéo theo sản lượng đầu ra Q cũng tăng lên
n duy nhất), sản phẩm
biên của vốn là:
MP
K
= ∆Q/∆K
Để dễ hình dung hơn, ta hãy minh họa khái niệm sản phẩm biên
của một yếu tố như lao động chẳng hạn thông qua một ví dụ bằng số.
Giả sử ta có một hàm sản xuất Q = F(K,L), với K =⎯K là hằng số.
Khi đầu vào lao động L thay đổi, sản lượng Q cũng thay đổi một cách
241
tương ứng. Theo đó, chúng ta có thể tính được sản phẩm biên của mỗi
đơn vị lao động tăng như bảng dưới đây:
Lao động (số công nhân)
(
L
)
Sản lượng đầu ra
(
Q
)
Sản phẩm biên của lao động
(
MP
L
)
0 0
1 8 8
2 19 11
3 32 13
Có thể giải thích lý do sản phẩm biên của một yếu tố sản xuất có
xu hướng giảm dần như sau: Vì các yếu tố sản xuất khác được giữ
nguyên, nên khi tăng dần số lượng của riêng một loại yếu tố sản xuất,
mỗi đơn vị của nó ngày càng có ít hơn các yếu tố sản xuất khác để phối
hợp. Vì thế, chắc chắn từ mộ
t điểm nào đó, sản phẩm tăng thêm từ mỗi
đơn vị yếu tố sản xuất bổ sung thêm sẽ ngày càng giảm dần. Trong ví dụ
của chúng ta, với K là hằng số, việc tăng dần L sẽ làm cho mỗi đơn vị lao
động càng về sau ngày càng có ít vốn hơn để sử dụng (K/L giảm dần).
Quá một ngưỡng nào đó, sản phẩm biên của m
ỗi đơn vị lao động về sau
sẽ nhỏ hơn sản phẩm biên của những đơn vị lao động trước đó.
Sản phẩm biên giảm dần làm cho việc tăng thêm L thoạt tiên có thể
khiến cho tổng sản lượng tăng lên, song mức độ gia tăng có xu hướng
chậm dần. Đến một lúc nào đó, chỉ tăng đầu vào L có thể không làm tổng
sản lượng t
ăng (lúc này sản phẩm biên của lao động bằng 0). Thậm chí
nếu cứ tiếp tục tăng L, tổng sản lượng sẽ giảm, vì số lượng lao động quá
nhiều có thể dẫn đến sự ngáng trở lẫn nhau trong quá trình sản xuất. Khi
đó, sản phẩm biên của lao động có thể trở thành âm.
Phản ánh quy luật sản phẩm biên của một yếu tố sản xuất có xu
hướng giả
m dần trên đồ thị, ta thấy đường sản phẩm biên của lao động
chẳng hạn, thoạt tiên có xu hướng đi lên trong một khoảng nhất định,
song sau đó trở thành một đường dốc xuống. Ở phần chủ đạo này, khi lao
động càng tăng thì sản phẩm biên của lao động cũng ngày càng giảm.
Đường sản phẩm biên đi xuống khi nó di chuyển dần sang bên phải.
sản xuất, do đó, cũng làm dịch chuyển đường sản phẩm biên của một yếu
tố sản xuất. Chẳng hạn, tiến bộ công nghệ làm cho sản phẩm biên của lao
động ở mỗi mức lao động có xu hướng tăng lên, ngay cả khi quỹ vốn và
các yếu tố sản xuất vẫn giữ nguyên như cũ. Trong trạng huống này,
đường sản phẩm biên củ
a lao động dịch chuyển lên trên.
0
MP
L2
MP
L1
MP
L
MP
L
L
0
L
1
L
2
L (số lượng lao động)
244
MP
L
L
245
MRP
L
= ∆(TR)/∆L = [∆(TR)/∆Q] : [∆L/∆Q] = MR.MP
L
Nói cách khác, doanh thu sản phẩm biên của một yếu tố sản xuất
chính bằng sản phẩm biên của yếu tố này nhân với doanh thu biên của sản
phẩm đầu ra. Trong trường hợp thị trường đầu ra là cạnh tranh hoàn hảo,
doanh thu biên luôn luôn bằng mức giá nên doanh thu sản phẩm biên
chính bằng sản phẩm biên nhân với mức giá đầu ra (MRP = MP.MR =
MP.P). Với trường hợp đặc biệt này, doanh thu sản phẩm biên được gọ
i
là giá trị sản phẩm biên và được ký hiệu là MVP.
Hình dạng của đường doanh thu sản phẩm biên MRP cũng tương tự
như hình dạng của đường sản phẩm biên mặc dù tỷ lệ theo chiều thẳng
đứng của chúng có thể khác nhau. Đường MRP thoạt tiên có xu hướng
dốc lên, song về cơ bản nó có xu hướng dốc xuống, phản ánh doanh thu
sản phẩm biên, đến một ngưỡng nào đó, sẽ
giảm dần theo chiều hướng
tăng lên của lượng đầu vào khả biến. Chính xu hướng giảm dần của sản
phẩm biên quyết định xu hướng giảm dần của doanh thu sản phẩm biên.
Nếu thị trường đầu ra là thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, đường
doanh thu sản phẩm biên càng trở nên dốc hơn do doanh thu biên của sản
phẩm đầu ra còn nhỏ hơn mức giá và mức giá cũng có xu hướ
ng giảm
7.2. Cầu về các yếu tố sản xuất
Cầu về các yếu tố sản xuất xuất phát từ các doanh nghiệp, nơi sẽ sử
dụng các yếu tố sản xuất này để thực hiện một quyết định cung ứng nào
đó về một loại sản phẩm đầu ra. Giả định của chúng ta về mục tiêu của
doanh nghiệp vẫn như cũ: khi lự
a chọn các yếu tố sản xuất, doanh nghiệp
bị chi phối bởi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
7.2.1. Cầu về các yếu tố sản xuất của một doanh nghiệp
* Trường hợp một yếu tố sản xuất khả biến duy nhất (ngắn hạn):
Giả sử doanh nghiệp chỉ sử dụng hai yếu tố sản xuất vốn (K
) và lao
động (L) để sản xuất một loại hàng hóa nào đó. Trong ngắn hạn, ta giả
định K là yếu tố sản xuất cố định, do đó sản lượng đầu ra của doanh
MPR
2
MPR
1
0
MPR
L
247
nghiệp chỉ phụ thuộc vào lượng lao động được sử dụng. Nói cách khác,
hàm sản xuất của doanh nghiệp có dạng: Q = f(L). Vấn đề ở đây là, doanh
nghiệp phải lựa chọn lượng đầu vào lao động nào là tối ưu?
Khi sử dụng thêm một đơn vị lao động, lợi ích mà doanh nghiệp
thu thêm được, tính bằng tiền, chính là doanh thu sản phẩm biên của đơn
vị lao động này (MRP
L
, giảm số lao động thuê mướn sẽ
làm tăng quỹ lợi nhuận của doanh nghiệp.
Kết hợp những điều trên lại, có thể rút ra kết luận: Để tối đa hóa lợi
nhuận, doanh nghiệp phải sử dụng số lượng lao động sao cho tại đơn vị
lao động cuối cùng, doanh thu sản phẩm biên phải bằng chi phí biên yếu
tố:
MRP
L
= MFC
L
Nguyên tắc này cũng áp dụng cho các yếu tố sản xuất khác. Chẳng
hạn, lượng vốn tối ưu mà doanh nghiệp cần sử dụng cần thỏa mãn điều
kiện: tại đơn vị vốn cuối cùng, doanh thu sản phẩm biên của vốn cũng
248
phải bằng chi phí biên yếu tố của vốn (MRP
K
= MFC
K
). Hay nói tổng
quát hơn, để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp phải sử dụng một loại
yếu tố sản xuất sao cho tại đơn vị yếu tố sản xuất cuối cùng, doanh thu
sản phẩm biên và chi phí biên yếu tố của nó là bằng nhau.
Nếu thị trường đầu vào là thị trường cạnh tranh hoàn hảo, do đó,
doanh nghiệp chỉ là người chấp nhận giá, thì khi thuê thêm một đơn v
ị
yếu tố sản xuất, chi phí biên yếu tố mà nó phải bỏ ra chính là mức giá
thuê thị trường. Trong trường hợp này, đường cung về loại yếu tố sản
xuất này mà doanh nghiệp đối diện là một đường nằm ngang. Lượng yếu
i
là đường doanh thu sản phẩm biên của yếu tố sản xuất
i trong điều kiện các yếu tố sản xuất khác và trình độ công nghệ là xác
249
định và không đổi. Thị trường yếu tố sản xuất i được giả định là thị
trường cạnh tranh hoàn hảo. Tham gia vào thị trường này, doanh nghiệp
là người chấp nhận giá. Nếu giá thuê thị trường của đầu vào i là h
i
, quy
tắc tối đa hóa lợi nhuận mà ta đã phân tích ở trên cho thấy, lượng đầu vào
i mà doanh nghiệp sẵn sàng thuê phải thỏa mãn điều kiện: tại đơn vị i
cuối cùng, MRP
i
= h
i
. Trên đồ thị 7.4, nếu h
i
= h
i1
, đường thẳng nằm
ngang tương ứng với mức giá này tiếp xúc với đường MRP
i
tại một điểm
A duy nhất cho thấy lượng đầu vào i mà doanh nghiệp cần thuê là i
1
(i
1
là
hoành độ của điểm A), vì chỉ tại i
2
’),
ta có MRP
i
< h
i2
. Điều đó có nghĩa là, khi này nếu tăng mức sử dụng đầu
vào i lên, lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ giảm. Ngược lại, tại mức i lân
cận và lớn hơn i
2
’, ta có MRP
i
> h
i2
. Điều đó cũng có nghĩa là, nếu khi
này doanh nghiệp càng tăng mức sử dụng đầu vào i, lợi nhuận của nó sẽ
càng tăng. Nói cách khác, nếu sử dụng đầu vào này đúng bằng i
2
’, doanh
nghiệp chỉ thu được mức lợi nhuận tối thiểu. Trái lại, khi giá thuê thị
trường của đầu vào này là h
i2
, mức đầu vào cho phép doanh nghiệp tối đa
hóa lợi nhuận chính là i
2
, tương ứng với phần đường MRP
i
dốc xuống. Ở
những giá trị i lân cận với i
2
,
B
,
C
… là những điểm
lựa chọn tối ưu của doanh nghiệp khi giá thuê đầu vào
i
thay đổi.
Lập luận tương tự, ta có thể thấy rằng, nếu giá thuê thị trường của
đầu vào i hạ xuống thành h
i3
, đường thẳng nằm ngang tương ứng với mức
giá này cắt phần dốc xuống của đường MRP
i
tại điểm C, có hoành độ là
i
3
, hàm ý rằng, i
3
chính là số lượng đầu vào i tối ưu mà doanh nghiệp cần
thuê.
Bây giờ chúng ta thử nhìn lại các điểm A, B, C… Chúng đều là
những điểm nằm trên phần dốc xuống của đường doanh thu sản phẩm
biên của yếu tố sản xuất i. Mỗi điểm đều cho chúng ta biết số lượng đầu
vào i mà doanh nghiệp cần và sẵn sàng thuê để tố
i đa hóa lợi nhuận tương
ứng với các mức giá thị trường h
i
của đầu vào này. Nói cách khác, đó là
i
3
i
i
2
’