ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
XI MĂNG BỈM SƠN QUA 3 NĂM 2007 – 2009
3.1 Tình hình sản lượng tiêu thụ của Công ty qua 3 năm (2007- 2009)
Với chính sách chất lượng nhất quán, sản phẩm xi măng với nhãn hiệu “Con Voi”
của Công ty đã và đang có uy tín với người tiêu dùng trên thị trường 30 năm qua. Như
vậy, sản lượng sản phẩm tiêu thụ của Công ty luôn giữ được ổn định, giành được vị thế
vững chắc trên thị trường.
Qua bảng 4 cho thấy, sản lượng tiêu thụ của Công ty qua qua 3 năm đều không
ngừng tăng lên. Năm 2007, tổng sản lượng tiêu thụ của Công ty đạt 2.296.717 tấn, đến
năm 2008 tăng lên 2.564.448 tấn, tăng về số tuyệt đối là 267.731 tấn và về tương đối
tăng là 11,66%. Năm 2007, Công ty đã thực hiện chuyển đổi mô hình kinh doanh từ hệ
thống bán hàng thông qua các chi nhánh (đại lý hưởng hoa hồng) sang mô hình đại lý
bao tiêu sản phẩm (nhà phân phối) nhưng tình hình tiêu thụ xi măng cũng không bị ảnh
hưởng do việc chuyển đổi này, mà năm 2008 sản lượng tiêu thụ vẫn tăng lên, chứng tỏ
bước chuyển đổi mô hình kinh doanh của Công ty là hợp lý, phù hợp với nhu cầu thực
tế. Và sang năm 2009 sản lượng tiêu thụ của Công ty tiếp tục tăng, tăng 56.097 tấn hay
tăng 2,19% so với năm 2008 và đạt 2.620.544 tấn. Như vậy, tình hình tiêu thụ sản phẩm
của công ty trong những năm gần đây là rất tốt.
So sánh năm 2008 so với năm 2007, sản lượng tiêu thụ của Công ty tăng lên, sở
dĩ như vậy là do tất cả các sản lượng mặt hàng tiêu thụ của Công ty đều tăng lên. Trong
đó, sản phẩm xi măng rời PCB 40 tăng mạnh nhất, tăng 112.527 tấn hay tăng 380%.
Tiếp đó, là sự tăng lên của sản phẩm xi măng bao PCB 40, tăng 79.527 tấn hay tăng
194,27%.
So sánh năm 2009 với năm 2008, sự tăng lên của sản lượng tiêu thụ chủ yếu là do
sản phẩm xi măng bao PCB 30 tăng mạnh, tăng 188.604 tấn hay tăng 8,42%. Tuy nhiên,
cũng do sự giảm sút mạnh của xi măng rời PCB 40, giảm 99.371 tấn hay giảm 69,91%
nên năm 2009 sản lượng tiêu thụ của Công ty chỉ tăng nhẹ.
Trong những năm tới Công ty cần tiếp tục duy trì và nâng cao hơn nữa mức sản
lượng tiêu thụ.
1
BẢNG 4: TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY QUA 3 NĂM 2007 – 2009
Để hiểu rõ hơn về doanh thu của Công ty ta phân tích kết cấu tổng doanh thu (kết
quả phân tích ở bảng 5):
Doanh thu chủ yếu của Công ty là doanh thu từ tiêu thụ sản phẩm. Trong 3 năm
doanh thu từ tiêu thụ sản phẩm luôn tăng lên, năm 2007 doanh thu tiêu thụ là 1.553,48
tỷ đồng, chiếm tới 99,87% trong tổng doanh thu; năm 2008 tăng 382,67 tỷ đồng hay
tăng về tương đối là 24,63%; sang năm 2009 cũng tăng nhưng tốc độ tăng nhẹ hơn, tăng
178,10 tỷ đồng hay tăng 9,20% so với năm 2008.
Doanh thu từ hoạt động tài chính của công ty chủ yếu là các khoản lãi thu từ tiền
gửi ngân hàng, các khoản thu từ chênh lệch về tỷ giá hối đoái chỉ chiếm một tỷ lệ rất
nhỏ trong tổng doanh thu và cũng tăng lên qua các năm. Năm 2007, là 1,13 tỷ đồng,
năm 2008 là 1,68 tỷ đồng và năm 2009 tăng lên 1,89 tỷ đồng.
3
BẢNG 5: TÌNH HÌNH DOANH THU CỦA CÔNG TY QUA 3 NĂM (2007 – 2009)
ĐVT: Tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
So sánh
2008/2007 2009/2008
GT % GT % GT % +/-
%tăng
giảm
+/-
%tăng
giảm
Tổng doanh thu
1.556,89 100 1.957,81 100 2.131,55 100 400,92 25,75 173,74 8,87
1.Doanh thu tiêu thụ
1.553,48 99,78 1.936,15 98,89 2.114,25 99,19 382,67 24,63 178,10 9,20
2.Doanh thu từ hoạt động
tài chính 1,13 0,07 1,68 0,09 1,89 0,09 0,55 48,67 0,21 12,50
doanh thu và cũng tăng dần qua các năm, nhất là tăng tăng mạnh trong năm 2008, đạt
85,71 tỷ đồng, tăng 241,20% hay tăng 60,59 tỷ đồng so với năm 2007. Và tiếp tục tăng
trong năm 2009, tuy nhiên mức độ tăng nhẹ hơn, tăng 17,09% hay tăng 14,65 tỷ đồng.
5
BẢNG 6: DOANH THU THEO MẶT HÀNG SẢN PHẨM TIÊU THỤ CỦA CÔNG TY
ĐVT: Tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
So sánh
2008/2007 2009/2008
GT % GT % GT % + / -
% tăng
giảm
+ / -
% tăng
giảm
Tổng doanh thu 1.553,48 100 1.936,15 100 2.114,25 100 382,67 24,63 178,10 9,20
Xi măng bao PCB30 1.502,64 96,73 1.723,09 89,00 1.974,79 93,40 220,45 14,67 251,70 14,61
Xi măng bao PCB40 25,12 1,62 85,71 4,43 100,36 4,75 60,59 241,20 14,65 17,09
Xi măng rời PCB30 3,54 0,23 29,73 1,54 0,75 0,04 26,19 739,83 -28,98 -97,48
Xi măng rời PCB40 17,79 1,15 90,57 4,68 29,60 1,40 72,78 409,11 -60,97 -67,32
Clinker 4,39 0,28 7,05 0,36 8,75 0,41 2,66 60,59 1,70 24,11
(Nguồn: Ban kế hoạch - Thị trường của Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn)
6
Ngoài ra, doanh thu từ các mặt hàng như xi măng rời PCB30, PCB40 và Clinker
cũng tăng, góp phần không nhỏ trong việc làm tăng tổng doanh thu tiêu thụ của Công ty.
Tuy nhiên, năm 2009 mặt hàng xi măng rời PCB30 và PCB40 giảm so với năm 2008
trong đó giảm mạnh nhất là xi măng rời PCB30, giảm 97,48% hay giảm 28,98 tỷ đồng
về mặt tuyệt đối; kế tiếp là xi măng PCB40 giảm 67,32% hay giảm 60,97 tỷ đồng. Điều
này có thể lý giải là do đối tượng tiêu dùng xi măng rời là các công trình lớn, người
2008/2007 2009/2008
GT % GT % GT % +/-
% tăng
giảm
+/-
% tăng
giảm
Tổng doanh thu 1.553,48 100 1.936,15 100 2.114,25 100 382,67 24,63 178,10 9,20
Miền Bắc 472 30,38 651 33,62 724,02 34,24 179 37,92 73,02 11,22
Miền Trung 1.009 64,95 1.171 60,48 1.221,14 57,76 162 16,06 50,14 4,28
Miền Nam 0 0 19,15 0,99 38,09 1,80 19,15 0 18,94 98,90
Lào 72,48 4,67 95 4,91 131 6,20 22,52 31,07 36 37,89
(Nguồn: Ban kế hoạch - Thị trường của Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn)
8
Xi măng Tam Điệp nhưng thị phần của xi măng Bỉm Sơn tại thị trường miền trung vẫn
được giữ vững và tăng trưởng qua thời gian (chiếm 70%), doanh thu tiêu thụ liên tục tăng
qua các năm: năm 2008 tăng so với năm 2007 là 162 tỷ đồng, tương ứng tăng 16,06% và
đến năm 2009 doanh thu tiêu thụ đạt 1.221,14 tỷ đồng, tăng so với năm 2008 là 50,14 tỷ
đồng, tức là tăng 4,28%.
Tiếp đó là thị trường Miền Bắc, doanh thu từ thị trường này cũng chiếm tỷ trọng
khá lớn trong tổng doanh thu tiêu thụ ( trên 30%) và tăng lên qua các năm. Cụ thể, năm
2008 so với năm 2007 tăng 37,92% hay tăng 197 tỷ đồng và đạt 651 tỷ đồng. Sang năm
2009 tăng 11,22% hay tăng 73,02 tỷ đồng so với năm 2008.
Không dừng lại ở những thị trường quen thuộc, Công ty tiếp tục mở rộng, thâm
nhập vào các thị trường mới nhằm tìm kiếm những khách hàng mới, những đối tác mới.
Năm 2008, Công ty đã có sản phẩm tiêu thụ ở thị trường Miền Nam và tiếp tục mở rộng
thị trường xuất khẩu sang Lào. Đây là những thị trường được Công ty đánh giá là thị
trường tiềm năng và cần có những chính sách khai thác hợp lý trong những năm tiếp theo.
Tóm lại, qua sự phân tích tình hình doanh thu tiêu thụ qua các khu vực thị trường ta
nhận thấy việc tổ chức công tác tiêu thụ của Công ty đã đạt được những kết quả nhất định.
Quý II 580,11 37,34 634,00 32,75 783,00 37,03 53,89 9,29 149,00 23,50
Quý III 141,13 9,08 210,12 10,85 239,17 11,31 68,99 48,88 29,05 13,83
Quý IV 506,20 32,58 580,93 30,00 681,03 32,21 74,73 14,76 100,10 17,23
(Nguồn: Ban kế hoạch - Thị trường của Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn)
10
3.2.1.2 Phân tích các nhân tố giá bán và khối lượng tiêu thụ đến doanh thu tiêu
thụ của Công ty
Doanh thu tiêu thụ được cấu thành bởi hai nhân tố là khối lượng tiêu thụ và giá
bán một đơn vị sản phẩm. Do đó, sự biến động về giá hoặc khối lượng sản phẩm tiêu
thụ sẽ dẫn đến sự biến động về doanh số tiêu thụ. Tuy nhiên, ảnh hưởng của từng nhân
tố đối với doanh thu tiêu thụ là không giống nhau. Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
đều có mục đích cuối cùng là lợi nhuận và doanh thu là một trong những yếu tố để thực
hiện điều đó. Qua quá trình phân tích trên ta thấy doanh thu của Công ty có sự biến
động qua các năm. Để thấy rõ sự biến động đó ta phân tích các nhân tố ảnh hưởng là giá
bán và sản lượng tiêu thụ qua bảng 9.
Sự biến động của doanh thu năm 2008 so với năm 2007
Qua bảng 9, phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới doanh thu tiêu thụ, ta thấy
doanh thu tiêu thụ năm 2008 tăng so với năm 2007 là 24,63% hay tăng tương ứng là
382,67 tỷ đồng là do ảnh hưởng của hai nhân tố giá bán và sản lượng tiêu thụ:
Nhờ giá bán năm 2008 tăng so với năm 2007 làm cho doanh thu tiêu thụ của
Công ty tăng 11,90% hay tăng tương ứng 184,89 tỷ đồng.
Nhờ sản lượng tiêu thụ năm 2008 tăng so với năm 2007 làm cho doanh thu tiêu
thụ tăng 12,73% hay tăng 197,78 tỷ đồng.
Như vậy, giá bán và sản lượng tiêu thụ của năm 2008 tăng làm cho doanh thu
tiêu thụ của Công ty tăng, trong đó sự tăng lên của sản lượng tiêu thụ đã làm cho doanh
thu tiêu thụ tăng mạnh. Đây là dấu hiệu đáng mừng, chứng tỏ Công ty đã phát triển theo
chiều hướng đi lên mở rộng quy mô sản xuất và thị trường tiêu thụ. Trong thực tế thì khi
giá bán tăng thì sản lượng tiêu thụ giảm, tuy nhiên sản lượng tiêu thụ của Công ty lại
tăng lên, điều này chứng tỏ Công ty đã có những chính sách bán hàng hợp lý cùng với
sự uy tín về chất lượng đã được khẳng định trên thị trường thì nhãn hiệu xi măng Bỉm
thụ tăng 3,15% hay tăng tương ứng là 60,97 tỷ đồng.
Vậy giá bán và sản lượng tiêu thụ của năm 2009 tăng đã ảnh hưởng tích cực tới
doanh thu tiêu thụ sản phẩm của Công ty. Trong đó, giá bán tăng làm cho doanh thu tiêu
thụ tăng mạnh.
Tóm lại, giá bán và sản lượng tiêu thụ qua 3 năm (2007- 2009) của Công ty đã có
những ảnh hưởng tích cực đến doanh thu, Công ty nên làm tốt công tác đảm bảo chất
lượng sản phẩm để sản phẩm sản xuất ra tương xứng với giá cả đẩy mạnh sản lượng tiêu
thụ và làm tăng doanh thu, đồng thời mở rộng quy mô sản xuất và thị trường tiêu thụ.
Với khẩu hiệu “Chất lượng sản phẩm là lương tâm và trách nhiệm của mỗi chúng
ta” và cũng chính là mục tiêu và chính sách chất lượng của CTCP xi măng Bỉm Sơn
trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy Công ty không ngừng áp dụng sáng kiến tiến bộ kỹ
thuật vào sản xuất, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm như: Nghiên cứu sản xuất
chủng loại clinker xi măng mác cao PC 50 đảm bảo độ dư mác của xi măng xuất xưởng
cao (đạt trên 35 N/mm2 sau 28 ngày, số lô có cường độ >40N/mm2 chiếm tỷ lệ lớn),
12
duy trì mô hình quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9001:2000 để không
phụ lòng tin tín nhiệm của người tiêu dùng đối với nhãn hiệu “Con Voi”.
3.2.2 Phân tích tình hình chi phí của Công ty
Chi phí là một phạm trù kinh tế quan trọng và gắn liền với sản xuất và lưu thông
hàng hóa. Đó là những hao phí lao động xã hội được biểu hiện bằng tiền qua các quá
trình sản xuất kinh doanh, chi phí của doanh nghiệp là tất cả những chi phí phát sinh gắn
liền với doanh nghiệp từ quá trình hình thành tồn tại và phát triển, từ khâu mua nguyên
vật liệu đến khi tiêu thụ sản phẩm. Do đó, sau mỗi chu kỳ SXKD doanh nghiệp cần phải
tiến hành phân tích tình hình biến động chi phí SXKD, qua đó doanh nghiệp sẽ có cái
nhìn sâu sắc hơn về tình trạng sử dụng các khoản chi phí. Mặt khác, việc đánh giá chi
phí cũng góp phần quan trọng trong việc quyết định tái sản xuất sản phẩm của doanh
nghiệp, là mục tiêu quan trọng ảnh hưởng tới lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được, mức
chi phí càng thấp thì mức lợi nhuận càng cao.
Qua bảng 10 phản ánh tình hình biến động chi phí SXKD của CTCP xi măng
Bỉm Sơn, ta thấy chi phí của Công ty tăng nhanh qua các năm đặc biệt là năm 2008. Cụ
(Nguồn: Phòng kế toán- thống kê- tài chính của Công ty)
14