Đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn - Pdf 37

PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã và đang phát triển nền kinh tế thị trường, với các chính sách kinh tế mở
và chiến lược tham gia hội nhập kinh tế quốc tế. Phát triển kinh tế thị trường đã, đang và sẽ
đặt nền kinh tế nước ta nói chung và các doanh nghiệp nói riêng đối diện với những thách
thức, khó khăn trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt mang tính quốc tế nhằm giành giật
khách hàng và mở rộng thị trường ngay trong nước cũng như thế giới. Trong nền kinh tế thị
trường, một khi không còn sự bảo hộ của nhà nước, các doanh nghiệp trong nước phải tự
điều hành quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả để có thể đứng
vững trên thị trường và ngày càng phát triển. Mặt khác mục tiêu quan trọng nhất mà tất cả
các doanh nghiệp đều hướng tới là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Bởi nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh là điều kiện sống còn của doanh nghiệp, đồng thời nó tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp sử dụng nguồn lực hợp lý cũng như thúc đẩy việc áp dụng các
tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh và sản
xuất vật liệu xây dựng trong điều kiện kinh tế thị trường có nhiều biến đổi phải thể hiện
được vai trò tiên phong của mình trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế
giới.
Là một doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu và cung ứng các sản phẩm xi măng,
clinker Công ty cổ phần (CTCP) xi măng Bỉm Sơn đang đứng trước những cơ hội và
thách thức to lớn trên thị trường. Theo kế hoạch đã được phê duyệt, đầu năm 2007 Công
ty đã khởi công xây dựng dây chuyền sử dụng công nghệ sản xuất xi măng bằng lò quay
bằng phương pháp khô với thiết bị tiên tiến, hiện đại, đảm bảo các chỉ tiêu về kỹ thuật,
môi trường, với công suất thiết kế 2 triệu tấn xi măng/năm, khi dây chuyền mới đi vào
vận hành, sẽ cho ra sản phẩm, nâng công suất của toàn Công ty lên 3,8 triệu tấn/năm, trở
thành Công ty có sản lượng lớn nhất trong Tổng Công ty Công nghiệp xi măng Việt
Nam. Do đó, vấn đề hiệu quả sản xuất kinh doanh có ý nghĩa vô cùng thiết thực và quan
trọng, luôn được tập thể cán bộ công nhân viên trong Công ty đặt lên hàng đầu, là mục
tiêu quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của Công ty. Vì vậy, Công ty luôn nỗ lực
nghiên cứu điều chỉnh phương hướng hoạt động của mình, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm,

Xi măng Bỉm Sơn.
+ Về thời gian: Đánh giá hiệu quả kinh doanh của CTCP xi măng Bỉm Sơn trong
khoảng thời gian 2007-2009, định hướng và xây dựng giải pháp đề xuất cho các năm
2010 - 2015.
Do thời gian nghiên cứu có hạn, năng lực và trình độ còn hạn chế, vì vậy đề tài
không tránh khỏi những sai sót. Kính mong sự góp ý, giúp đỡ của các thầy, các cô để đề
tài được hoàn thiện hơn.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã sử dụng các
phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
 Phương pháp duy vật biện chứng
 Thu thập số liệu thứ cấp
Để đánh giá tình hình kinh doanh của CTCP xi măng Bỉm Sơn tôi tham khảo số
liệu từ các nguồn khác nhau như internet, các tài liệu đã công bố của CTCP xi măng
Bỉm Sơn qua các năm (báo cáo tổng kết, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo quyết toán
của Công ty). Ngoài ra, các báo cáo khoa học, luận văn cũng đã được sử dụng làm
nguồn tài liệu tham khảo và kế thừa một cách hợp lý trong quá trình thực hiện luận văn.
 Phân tích thống kê
Trên cơ sở tài liệu đã được tổng hợp, vận dụng các phương pháp phân tích thống
kê như số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân, phương pháp so sánh, để phân tích kết
quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty qua các năm. Phương pháp chỉ số,
phương pháp thay thế liên hoàn để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu, năng
suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn cố định và vốn lưu động qua các năm.
PHẦN 2:
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH
DOANH
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.1.1.1 Khái niệm

mà thể hiện trình độ năng lực quản lý các nguồn lực, các ngành sản xuất, phù hợp với
phương thức kinh doanh, chiến lược và kế hoạch kinh doanh.
- Ngoài ra, còn biểu hiện về mặt xã hội, Hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh
qua địa vị, uy tín các doanh nghiệp trên thị trường, vấn đề môi trường, tạo ra công ăn
việc làm cho người lao động, giải quyết thất nghiệp.
Như vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh
tế, biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai
thác và sử dụng các nguồn lực trong quá trình sản xuất nhằm thực hiện các mục tiêu
kinh doanh của doanh nghiệp để đạt được hiệu quả cao nhất hay thu được lợi nhuận lớn
nhất với chi phí thấp nhất. Nó phản ánh mối quan hệ giữa kết quả thu được so với chi
phí đã bỏ ra để đạt được kết quả đó trong từng thời kỳ.
1.1.1.2 Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh
Thực chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là nâng cao hiệu
quả sử dụng các nguồn lực vào sản xuất kinh doanh và tiết kiệm chi phí các nguồn lực
đó để đạt được mục đích sản xuất kinh doanh. Đó là hai mặt của vấn đề đánh giá hiệu
quả. Do vậy, có thể hiểu hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là đạt được kết
quả kinh tế tối đa với chi phí nhất định.
Nói cách khác, bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất
lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội, đóng góp vào sự phát triển của doanh
nghiệp nói riêng và của xã hội nói chung. Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết của
vấn đề hiệu quả SXKD gắn liền với hai quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội là
quy luật năng suất lao động và quy luật tiết kiệm thời gian. Chính việc khan hiếm nguồn
lực và việc sử dụng chúng có tính chất cạnh tranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng
tăng của xã hội đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn
lực. Để đạt được mục tiêu kinh doanh buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại phát huy
năng lực, hiệu năng của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm chi phí.
Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải đạt kết quả tối đa với chi
phí tối thiểu. Nói một cách tổng quát, hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ
và năng lực quản lý, đảm bảo thực hịên có kết quả cao những nhiệm vụ kinh tế - xã hội
đặt ra với chi phí thâp nhất.

1.1.1.4 Mối quan hệ giữa hiệu quả sản xuất kinh doanh và kết quả sản xuất kinh
doanh
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung thì kết quả và hiệu quả SXKD của
doanh nghiệp là đồng nhất với nhau. Vì doanh nghiệp chỉ tập trung hoàn thành chỉ tiêu
cấp trên giao, nếu hoàn thành vượt chỉ tiêu thì doanh nghiệp được đánh giá là hoạt động
có hiệu quả. Cách đánh giá này chỉ cho ta thấy được mức độ chênh lệch giữa đầu ra và
đầu vào của quá trình sản xuất, chưa phản ánh các yếu tố nguồn lực được sử dụng như
thế nào.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, chúng ta không chỉ quan tâm đến kết quả
SXKD mà còn quan tâm đến hiệu quả SXKD. Vì chỉ tiêu kết quả chưa nói lên được
doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, ta phải biết để đạt được kết quả đó thì doanh nghiệp
đã phải bỏ ra bao nhiêu chi phí, hiệu quả sử dụng các nguồn lực sản xuất kinh doanh và
tiết kiệm được chi phí đầu vào như thế nào thì mới đánh giá được doanh nghiệp làm ăn
có hiệu quả. Hiệu quả sản xuất kinh doanh là thước đo chất lượng hoạt động sản xuất
kinh doanh, phản ánh trình độ tổ chức, quản lý sản xuất và là vấn đề sống còn đối với tất
cả các doanh nghiệp.
Hiệu quả SXKD không chỉ đánh giá trình độ sử dụng tổng hợp các nguồn lực
đầu vào trong phạm vi doanh nghiệp mà còn nói lên trình độ sử dụng từng nguồn lực
trong từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp, kết quả càng cao và chi phí bỏ ra càng
thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao.
Giữa kết quả và hiệu quả có mối quan hệ mật thiết với nhau. Kết quả thu được
phải là kết quả tốt, có ích, nó có thể là một đại lượng vật chất được tạo ra do có chi phí
hay mức độ thoả mãn của nhu cầu và có phạm vi xác định. Hiệu quả SXKD trước hết là
một đại lượng so sánh giữa đầu ra và đầu vào, so sánh giữa chi phí kinh doanh với kết
quả thu được. Như vậy, kết quả và chi phí là hai giai đoạn của một quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí là tiền đề để thực hiện kết quả đặt ra.
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản suất kinh doanh
Trong thời kỳ đất nước chuyển sang giai đoạn phát triển theo cơ chế thị trường
cùng với sự cạnh tranh gay gắt để tồn tại và phát triển được đòi hỏi các doanh nghiệp
phải tiến hành SXKD có hiệu quả. Để đạt được điều này, các doanh nghiệp phải xác

SXKD theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, nhà nước đóng vai trò điều
hành quản lý nền kinh tế thông qua các công cụ vĩ mô như: pháp luật, chính sách thuế,
tài chính…cơ chế chính sách của nhà nước có vai trò quyết định trong việc thúc đẩy hay
kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế nói chung và ngành sản xuất xi măng nói riêng.
* Yếu tố công nghệ
Khoa học- công nghệ là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp. Đối với các nước đang phát triển giá cả và chất lượng có ý nghĩa
ngang nhau trong cạnh tranh. Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay công cụ cạnh tranh đã
chuyển từ cạnh tranh về giá sang cạnh tranh về chất lượng, cạnh tranh giữa các sản
phẩm và dịch vụ có hàm lượng KHCN cao.
Việc áp dụng những thành tựu KHCN đã đem lại những kết quả đáng kể trong
việc nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động, tạo ra nhiều mẫu mã đẹp,
tiết kiệm nguyên vật liệu, hạ giá thành sản phẩm, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái.
* Yếu tố môi trường tự nhiên
Yếu tố tự nhiên bao gồm nguồn lực tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường
sinh thái, vị trí địa lý của tổ chức kinh doanh…là một trong những yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động SXKD của tất cả các doanh nghiệp.
* Yếu tố xã hội
Các doanh nghiệp cần phân tích các yếu tố xã hội nhằm nhận biết các cơ hội và
nguy cơ có thể xảy ra, từ đó giúp doanh nghiệp có thể xây dựng các chiến lược kinh
doanh phù hợp với đặc điểm văn hóa xã hội của từng khu vực. Các yếu tố xã hội như
dân số, văn hóa, thu nhập...
1.1.2.2 Những yếu tố thuộc môi trường vi mô
* Khách hàng
Khách hàng là những người quyết định quy mô và cơ cấu nhu cầu trên thị trường
của doanh nghiệp, là yếu tố quan trọng hàng đầu khi xây dựng chiến lược kinh doanh, là
những người quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Do vậy, tìm hiểu
kỹ lưỡng và đáp ứng đủ nhu cầu cùng sở thích thị hiếu của khách hàng mục tiêu sẽ là
điều kiện sống còn cho sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp.
* Đối thủ cạnh tranh

động của doanh nghiệp.
 Lợi nhuận (LN)
Tổng lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí

Π
= TR - TC
Là sự chênh lệch giữa doanh thu và chi phí, phản ánh kết quả kinh tế của mọi
hoạt động SXKD của doanh nghiệp và là cơ sở để tính toán các chỉ tiêu đánh giá hiệu
quả SXKD.
1.1.3.2 Nhóm chỉ tiêu tương đối phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh
a. Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn
Để phản ánh một cách chung nhất hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định
+ Hiệu suất sử sụng vốn cố định:

S
H
=
VCĐ
TR
Trong đó: H
S
là hiệu suất sử dụng vốn cố định
VCĐ
là vốn cố định bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh bình quân một đơn vị vốn cố định sẽ tạo ra được bao nhiêu
đơn vị doanh thu trong quá trình sản xuất kinh doanh.
+ Mức đảm nhiệm vốn cố định:
VCĐ

l
=
VLĐ
TR
Trong đó: l: là số vòng quay vốn lưu động
Chỉ tiêu này biểu hiện mỗi đơn vị vốn lưu động đầu tư vào kinh doanh có thể
mang lại bao nhiêu đơn vị doanh thu.
+ Mức đảm nhiệm vốn lưu động:

VLĐ
M
=
TR
VLĐ
Trong đó:
VLĐ
M

: là mức đảm nhiệm vốn lưu động
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đơn vị doanh thu thì cần chi phí bao nhiêu đơn
vị vốn lưu động.
+ Mức doanh lợi vốn lưu động

VLĐ
r
=
VLĐ
Π

Trong đó:

r
=
L
Π
Trong đó:

r
: là Lợi nhuận bình quân một lao động
Chỉ tiêu cho biết một lao động tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh có thể
mang lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận.
+ Doanh thu/ chi phí tiền lương:

QL
TR
I
=
QL
TR
Trong đó:
QL
TR
I
là doanh thu/ chi phí tiền lương
QL là tổng quỹ lương của doanh nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh một đơn vị tiền lương sẽ tạo ra bao nhiêu đơn vị doanh thu
trong quá trình sản xuất kinh doanh.
+ Lợi nhuận/ chi phí tiền lương

TL
r

I
Π
=
TR
Π
Trong đó:
TR
I
Π
là lợi nhuận /doanh thu
Chỉ tiêu này phản ánh trong một đồng doanh thu thu được sẽ có bao nhiêu đồng
lợi nhuận.
+ Khả năng thanh toán hiện thời(
H
K
)

H
K
=
NNH
VLĐ
Trong đó:
NNH
là nợ ngắn hạn
Đây là chỉ tiêu cho biết với tổng giá trị thuần của TSLĐ và đầu tư hiện có, doanh
nghiệp có đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn hay không.
+ Khả năng thanh toán nhanh (K
n
)

định hạn ngạch nhập khẩu để bảo vệ nhà sản xuất trong nước, mặt khác, Nhà nước ấn
định giá bán cao nhất ở năm vùng trọng điểm: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP. Hồ
Chí Minh, Cần Thơ để bảo vệ người tiêu dùng. Điều này đã gây thiệt hại lớn cho ngân
sách nhà nước do việc nhập khẩu lậu, làm phát sinh việc mua bán hạn ngạch nhập khẩu
và tạo ra những hoạt động phi sản xuất trong nước.
1.2.2.2. Thị trường xi măng Việt Nam từ 1997 đến nay
Trong bối cảnh cầu vượt cung và nguồn vốn trong nước bị hạn chế cũng như vai
trò quan trọng ngành công nghiệp xi măng. Chính phủ đã khuyến khích các nhà đầu tư
nước ngoài đầu tư vào ngành công nghiệp này dưới hình thức liên doanh.
Năm 1994, các tập đoàn Chinfon Global, Lucksvaxi, Holderbank đã nhảy vào và
lập những dự án liên doanh: Chinfon, Văn Xá, Sao Mai. Sự bước vào hoạt động của các
công ty liên doanh năm 1997 làm thay đổi cơ cấu thị trường, từ một thị trường độc
quyền chuyển sang thị trường thiểu số độc quyền.
Tóm lại, sự có mặt các nhà đầu tư nước ngoài trong ngành xi măng Việt Nam
dưới hình thức liên doanh đã làm thay đổi cơ cấu thị trường, biến thị trường độc quyền
thành thị trường thiểu số độc quyền, biến khủng hoảng thiếu thành khủng hoảng thừa,
đổi từ việc tăng giá trở thành việc giảm giá, chấm dứt hẳn việc nhập khẩu và chuyển
sang xuất khẩu trong thời gian tới. Việc cung vượt cầu trong thị trường thiểu số độc
quyền này đã thật sự dẫn đến cuộc chiến, cuộc chạy đua về việc giành giật thị trường để
đẩy mạnh tiêu thụ từ đó mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn là thành viên của Tổng Công ty công nghiệp xi
măng Việt Nam (VICEM), theo sự chỉ đạo của Tổng Công ty, CTCP xi măng Bỉm Sơn
đã chuyển đổi mô hình hoạt động sang Công ty cổ phần năm 2006 , đồng thời cũng
chuyển đổi mô hình phân phối tiêu thụ sản phẩm thông qua nhà phân phối nên việc tiêu
thụ sản phẩm của Công ty hoàn toàn phụ thuộc vào các nhà phân phối và trước sự cạnh
tranh gay gắt như hiện nay không chỉ cạnh tranh với các doanh nghiệp cùng ngành thuộc
VICEM mà còn phải cạnh tranh với các đối tác liên doanh nước ngoài vốn có tiềm lực
kinh tế mạnh và dày dặn kinh nghiệm trong việc tiêu thụ sản phẩm của mình thông qua
lực lượng ngoài xã hội đó là các nhà phân phối chính. Vì vậy, sau 3 năm chuyển đổi mô
hình hoạt động và mô hình tiêu thụ thông qua nhà phân phối công ty đã hoạt động có

nhân viên là 2.864 người, trong đó nhân viên quản lý là 302 người.
Cùng với sự tăng trưởng chung của đất nước, nhu cầu sử dụng xi măng ngày càng
cao, để đáp ứng nhu cầu đó tháng 03/1994, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt dự án đầu
tư cải tạo hiện đại hoá dây chuyền số II của nhà máy xi măng Bỉm Sơn, chuyển đổi công
nghệ sản xuất xi măng từ công nghệ ướt sang công nghệ khô hiện đại. Nhờ thiết bị tiên
tiến và tự động hoá cao đã nâng tổng công suất sản phẩm của nhà máy từ 1,2 triệu tấn
sản phẩm/ năm lên 1,8 triệu tấn sản phẩm/ năm.
Đến ngày 01/05/2006, Công ty bắt đầu chuyển mô hình từ công ty Nhà nước
thành Công ty cổ phần với vốn điều lệ là 900 tỷ đồng, trong đó nhà nước nắm giữ
89,58% vốn điều lệ. Tại thời điểm 31/12/2006, sau khi bán cổ phần lần 2 vốn nhà
nước nắm giữ 74,02% vốn điều lệ.
Năm 2007, Công ty đang thực hiện dự án dây chuyền mới có công suất 2 triệu
tấn/năm khi hoàn thành nâng công suất lên 3,8 triệu tấn.
Trải qua 30 năm phát triển và trưởng thành cùng với sự nỗ lực cố gắng
không mệt mỏi của tập thể cán bộ, công nhân viên, trải qua năm tháng khổ
luyện, trăn trở, những bao xi măng của nhà máy mang nhãn hiệu “Con Voi” đã
đóng góp vào nhiều công trình lớn như: Thuỷ điện sông Đà, cầu Thăng Long,
Bảo tàng Hồ Chí Minh.... với nhiều thành tích đáng trân trọng như: từ năm 1993
đến nay, liên tục được Bộ Xây dựng và Công đoàn ngành Xây dựng Việt Nam
tặng cờ chứng nhận sản phẩm chất lượng cao; liên tục từ năm 1997 đến nay
được Báo Sài Gòn Tiếp Thị và người tiêu dùng bình chọn và chứng nhận "Hàng
Việt Nam Chất Lượng Cao"; được phong tặng danh hiệu “ Đơn Vị Anh hùng Lao
Động” trong thời kỳ đổi mới và ngày 2/3/2010 Công ty đã đón nhận huân
chương lao động hạng 2 vì những nỗ lực không ngừng trong xây dựng và phát
triển. Đó là những thành quả xứng đáng với những gì mà Công ty đã cống hiến
trong suốt 30 năm qua. Với nền tảng vững chắc, Công ty sẽ không ngừng vươn
cao, vươn xa để xứng đáng với niềm tin khách hàng giành cho Công ty trong
suốt thời gian qua, để một lần nữa khẳng định sản phẩm xi măng của CTCP xi
măng Bỉm Sơn là “niềm tin của người sử dụng, sự bền vững của những công
trình”.

P.Cơ khí
P.NL
P.CƯVTTB
P. THẨM ĐỊNH
P.GIÁM ĐỐC
SẢN XUẤT
X. ĐTĐ
P.KTKH
P. VTTB
TTGDTT
Văn phòng
P.KTTKTC
B.QLDA
P.KTTC
P.GIÁM ĐỐC
TIÊU THỤ SP
X. CTN-NK
P. KHTH
P.TCLĐ
X.SCCT
X.SCCK
P.GIÁM ĐỐC
ĐTXD
P. KT
T.Kho VTTB
P.GIÁM
ĐỐC NỘI
CHÍNH
P.
ĐSQT

lý chất lượng đến Giám đốc, giúp Giám đốc quản lý, chỉ đạo, điều hành về tổ chức sản
xuất các đơn vị trong Công ty...
Phó giám đốc phụ trách cơ điện có chức năng trong việc giúp giám đốc quản lý
điều hành công tác cơ điện phục vụ cho sản xuất, bảo dưỡng, sửa chữa máy móc thiết
bị, phương tiện bốc xúc, vận chuyển...
Phó giám đốc phụ trách công tác quản lý đầu tư trực tiếp quản lý dự án, phòng
kỹ thuật, phòng kiểm tra tiêu chuẩn, phòng vật tư thiết bị, có nhiệm vụ tổ chức thực hiện
các nhiệm vụ của ban quản lý dự án, lập hồ sơ mời thầu, xây lắp, mua sắm vật tư thiết
bị...
Bên dưới các phó giám đốc là các xưởng và các phòng ban.
 Các phòng ban chủ yếu: Gồm có 17 phòng ban với chức năng nhiệm vụ tham
mưu cho Giám đốc công ty, có các phòng ban chủ yếu sau:
Phòng cơ khí có nhiệm vụ theo dõi tình hình hoạt động của các thiết bị và sửa
chữa, bảo dưỡng , thay thế các thiết bị máy móc.
Phòng kỹ thuật sản xuất có nhiệm vụ theo dõi các hoạt động của các phân xưởng
sản xuất chính và phụ, đồng thời theo dõi kiểm tra chất lượng sản phẩm.
Phòng năng lượng có nhiệm vụ theo dõi tình hình liên quan tới việc cung cấp
năng lượng cho các thiết bị điện và cho sản xuất.
Phòng Kế toán – Thống kê - Tài chính có nhiệm vụ giám sát bằng tiền đối với các tài
sản và các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
Phòng vật tư, thiết bị có nhiệm vụ theo dõi vấn đề cung ứng vật tư, máy móc thiết bị
cho sản xuất.
Các xưởng sản xuất kinh doanh: Có chức năng, nhiệm vụ thực hiện đúng qui
trình sản xuất để tạo ra sản phẩm kịp thời đảm bảo chất lượng và đảm bảo an toàn cho
máy móc thiết bị cũng như con người, gồm có 11 phân xưởng:
Khối sản xuất chính gồm xưởng mỏ, xưởng ô tô, xưởng nguyên liệu, xưởng lò
nung, xưởng nghiền xi măng, xưởng đóng bao.
Khối sản xuất phụ gồm xưởng sửa chữa thiết bị, xưởng sữa chữa công trình,
xưởng điện, xưởng cấp thoát nước – nén khí, xưởng cơ khí.
Trên đây là vài nét khái quát về tình hình tổ chức quản lý xi măng của CTCP xi

được đưa vào máy nghiền, được điều chỉnh thành phần hoá học trong bể chứa, cuối
cùng cho ra phối liệu bùn. Phối liệu bùn được đưa vào lò nung thành Clinker (ở dạng
hạt). Clinker được đưa vào máy nghiền xi măng cùng với thạch cao và một số chất phụ
gia khác để tạo ra sản phẩm. Xi măng bột ra khỏi máy nghiền, dùng hệ thống nén khí để
chuyển vào xi lô chứa sau đó được chuyển sang xưởng đóng bao và thu được sản phẩm
là xi măng bao. Nếu là xi măng rời thì chuyển vào các xe chuyên dụng để chuyên chở đi
các nơi.
Ưu điểm: Chất lượng xi măng được đánh giá là tốt vì các nguyên liệu và phụ gia
được trộn đều. Nhược điểm: Tốn nhiên liệu để làm bay hơi, mặt bằng sản xuất phải có
diện tích lớn và cần nguồn nhân lực phục vụ sản xuất lớn, thời gian sử dụng máy móc
thiết bị quá lâu nên chi phí sửa chữa cao, tiêu hao điện năng nhiều.
b. Dây chuyền sản xuất theo phương pháp khô (dây chuyền II)
Sản xuất theo phương pháp khô được cải tạo và hiện đại hoá từ dây chuyền ướt
theo công nghệ của Nhật Bản, hệ thống tháp trao đổi nhiệt 1 nhánh 5 tầng có nhiều cải
tiến nhằm tăng khả năng trao đổi nhiệt giữa bột liệu và gió nóng.
Quy trình sản xuất theo phương pháp khô (Xem phụ lục 6)
Có thể thấy quy trình sản xuất xi măng là rất phức tạp, hiện nay Công ty đang kết
hợp khai thác cả hai dây chuyền công nghệ, tuy nhiên với những ưu điểm vượt trội của
phương pháp khô thì sản xuất xi măng theo phương pháp lò khô đang dần được thay thế
cho phương pháp ướt. Ưu điểm: Tốn ít nhiên liệu hơn vì tận dụng lò để sấy khô nguyên
liệu, mặt bằng sản xuất nhỏ vì chiều dài lò ngắn, nguồn nhân lực cần ít hơn vì giảm bớt
được một số khâu trong dây chuyền sản xuất so với lò ướt. Chi phí điện năng thấp, năng
suất thiết bị luôn đạt và vượt công suất thiết kế. Nhược điểm: Nhược điểm lớn nhất của
lò khô là bắt buộc phải có thiết bị lọc bụi.
2.2. Nguồn lực cơ bản của Công ty
2.2.1. Tình hình lao động của Công ty
Nguồn lực con người là yếu tố quan trọng nhất quyết định của lực lượng sản
xuất, vì thế lao động là một nguồn lực quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối
với doanh nghiệp nói riêng. Lực lượng lao động phản ánh quy mô của doanh nghiệp, cơ
cấu lao động phản ánh lĩnh vực hoạt động và đặc điểm công nghệ, mức độ hiện đại hoá

- Nữ 492 20,21 415 17,76 396 17,03 -77 -15,65 -19 -4,58
2. Phân theo trình độ
- Đại học và trên đại học 322 13,23 353 15,10 375 16,13 31 9,63 22 6,23
- Cao đẳng 134 5,51 106 4,54 119 5,12 -28 -20,90 13 12,26
- Trung cấp 312 12,82 322 11,94 261 11,23 10 3,21 -61 -18,94
- Công nhân nghề 1.319 54,19 1.298 55,54 1.352 58,15 -21 -1,59 54 4,16
- Chưa qua đào tạo 347 14,25 259 12,88 218 9,38 -88 -25,36 -41 -15,83
3. Phân theo tính chất
- LĐ trực tiếp 1.842 75,68 1.725 75,87 1.694 76,09 -117 -6,35 -31 -1,80
- LĐ gián tiếp 592 24,32 612 24,13 631 23,91 20 3,38 19 3,10
(Nguồn: Phòng tổ chức lao động - CTCP xi măng Bỉm Sơn)

Trích đoạn BẢNG 6: DOANH THU THEO MẶT HÀNG SẢN PHẨM TIÊU THỤ CỦA CÔNG TY BẢNG 7: DOANH THU THEO KHU VỰC THỊ TRƯỜNG CỦA CÔNG TY Phân tích các nhân tố giá bán và khối lượng tiêu thụ đến doanh thu tiêu thụ của Công ty BẢNG 9: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DOANH THU TIÊU THỤ SẢN PHẨM Phân tích tình hình chi phí của Công ty
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status