Kết quả hoạt động và những định hướng phát triển của công ty cổ phần xi măng bỉm sơn - Pdf 10

Báo cáo thực tập tổng hợp Khoa Kế Hoạch và Phát triển
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Tổng quan về công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn 2
I - Quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp 2
1. Giới thiệu về doanh nghiệp 2
2. Chức năng, nhiệm vụ hoạt động của doanh nghiệp 2
3. Sự hình thành và phát triển Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn 3
II - Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của công ty 6
1. Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận 6
2. Các phân xưởng sản xuất chính 8
3. Các phân xưởng sản xuất phụ 8
4. Nhiệm vụ một số phòng ban chính 8
III - Thị phần của Công ty 9
Chương 2: Đặc điểm các nguồn lực của Công ty cổ phần
xi măng Bỉm Sơn 11
I - Đặc điểm về công nghệ sản xuất 11
1. Đặc điểm về phương pháp sản xuất 11
2. Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm 11
II - Đặc điểm về tình hình sử dụng nguyên vật liệu 15
III - Đặc điểm về sản phẩm 19
1. Sản phẩm sản xuất 19
2. Tiêu thụ sản phẩm 19
3. Tình hình giá cả và thị trường 20
IV - Đặc điểm về lao động, nhân sự 21
1. Cơ cấu lao động theo tính chất 21
GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung SVTH: Mai Thị Bích Ngọc - KH47B
Báo cáo thực tập tổng hợp Khoa Kế Hoạch và Phát triển
2. Cơ cấu lao động theo giới tính 22
3. Cơ cấu lao động theo độ tuổi 23

- Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp
- Sơ đồ 2: Quy trình sản xuất xi măng theo phương pháp ướt lò
quay
- Sơ đồ 3: Quy trình sản xuất xi măng theo phương pháp khô lò
quay.
2. Bảng, biểu:
- Bảng 1: Sản lượng một số nguyên liệu chính từ năm 2005 -
2007
- Bảng 2: Định mức tiêu hao nguyên vật liệu trong hai năm 2006
- 2007.
- Bảng 3: Cơ cấu lao động phân chia trực tiếp, gián tiếp từ năm
2005 - 2007.
- Bảng 4: Cơ cấu lao động phân chia theo giới tính từ năm 2005 -
2007.
- Bảng 5: Cơ cấu lao động theo độ tuổi tính từ năm 2005 – 2007.
- Bảng 6: Kết quả các chỉ tiêu chủ yếu các năm 2006 – 2008
- Bảng 7: Kế hoạch đầu tư xây dựng năm 2009
GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung SVTH: Mai Thị Bích Ngọc - KH47B
Báo cáo thực tập tổng hợp - 1 - Khoa Kế Hoạch và Phát triển
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, công cuộc ứng dụng lý thuyết vào trong thực tế
đang ngày càng được chú trọng. Hơn thế nữa, để giảm tỷ lệ sinh viên Việt Nam
ra trường phải đào tào lại khi tham gia vào thị trường lao động, các trường Đại
học và Cao đẳng luôn giành một khoảng thời gian nhất định để sinh viên được
tiếp cận dần với môi trường làm việc thông qua quá trình thực tập.
Để hoàn thiện quá trình đào tạo cho sinh viên chuyên ngành Kế hoạch
trước khi tốt nghiệp, giúp sinh viên có thể tự chủ về kiến thức và không gặp
bỡ ngỡ khi bước vào môi trường làm việc mới, quá trình thực tập tốt nghiệp
có vị trí rất quan trọng giúp sinh viên có thể tiếp cận được với thực trạng hoạt
động sản xuất kinh doanh của Công ty. Theo phương thức “ học đi đôi với

* Chức năng: Công ty xi măng Bỉm sơn với chức năng sản xuất xi măng
bao PCB30, PCB40 chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn của nhà nước với
thông số kỹ thuật hàm lượng thạch cao SO
3
nằm trong xi măng đạt 1,3% đến
3%.
* Nhiệm vụ:
- Công ty xi măng có nhiệm vụ sản xuất và cung cấp xi măng cho các
công trình xây dựng trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Hiện tại đang
xuất khẩu sang nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Tại địa bàn này tuy việc
cung ứng xi măng gặp rất nhiều khó khăn, song vì việc chiếm lĩnh thị trường
lâu dài nên công ty vẫn quyết tâm đáp ứng thoả mãn nhu cầu thị trường.
- Ngoài ra công ty còn có 1 nhiệm vụ chính là cung cấp xi măng cho các
địa bàn theo sự điều hành tiêu thụ của Tổng công ty công nghiệp Xi măng
Việt Nam để tham gia vào việc bình ổn giá cả trên thị trường.
GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung SVTH: Mai Thị Bích Ngọc - KH47B
Báo cáo thực tập tổng hợp - 3 - Khoa Kế Hoạch và Phát triển
3. Sự hình thành và phát triển Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn
Đất nước ta sau những năm dài chiến tranh khốc liệt hậu quả để lại là
những đống đổ nát do bom đạn tàn phá. Để khôi phục lại bộ mặt của đất
nước, công việc xây dựng các cơ sở hạ tầng được gấp rút thi công. Vì thế nhu
cầu xi măng cho xây dựng là hết sức cấp thiết.
Đã có rất nhiều địa điểm được khảo sát và có khả năng xây dựng nhà
máy xi măng như: Hoàng Mai (Nghệ An), Bỉm Sơn, Nghi Sơn (Thanh Hóa),
Bút Sơn (Nam Hà)…Nhưng do điều kiện của nước ta lúc đó không đủ sức để
xây tất cả các nhà máy nên Đảng, Chính phủ đã quyết định tập trung xây
dựng nhà máy xi măng Bỉm Sơn có công suất lớn nhất nước ta khi đó nhằm
đáp ứng được một phần nhu cầu xi măng cho công cuộc xây dựng đất nước
sau khi thống nhất.
- Giai đoạn 1: Tiến hành công tác khảo sát thăm dò địa chất (1968 -

cán bộ, công nhân kỹ thuật thì cán bộ, công nhân toàn công trường tập trung
thi công xây lắp dây chuyền sản xuất số 2. Ngày 06/10/1983, dây chuyền sản
xuất số 2 đã được hoàn thành và chính thức đi vào hoạt động.
Từ năm 1982 – 1985, các đơn vị tiếp tục xây lắp các phần còn lại và
hoàn chỉnh nhà máy.
- Giai đoạn 3: Sản xuất kinh doanh, thực hiện cơ chế quản lý mới (1986
- 1990).
Từ năm 1986 – 1990 là giai đoạn nhà máy xi măng Bỉm Sơn chuyển dần
từ cơ chế quản lý cũ sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa theo nghị
quyết Đại hội Đảng IV. Nhà máy xi măng Bỉm Sơn đã vượt qua những khó
khăn thử thách mới như: Các dây chuyền sản xuất thiếu nguyên vật liệu, thiếu
phụ tùng thay thế, ý thức tổ chức kỷ luật lao động của công nhân còn lỏng lẻo,
tư tưởng bảo thủ trì trệ, tâm lý bao cấp còn nặng nề,… Những bài học kinh
GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung SVTH: Mai Thị Bích Ngọc - KH47B
Báo cáo thực tập tổng hợp - 5 - Khoa Kế Hoạch và Phát triển
nghiệm và thành công đã nâng cao một bước năng lực quản lý điều hành, tổ
chức lao động sản xuất của nhà máy.
- Giai đoạn 4: Xi măng Bỉm Sơn đổi mới (Từ năm 1991 đến nay).
Tháng 08 năm 1993, Nhà nước đã quyết định sát nhập hai đơn vị là nhà
máy xi măng Bỉm Sơn và Công ty cung ứng vật tư vận tải số 4 thành Công ty
xi măng Bỉm Sơn trực thuộc Tổng công ty xi măng Việt Nam, với tổng số
công nhân viên là 2864 người, trong đó nhân viên quản lý là 302 người.
Ngày 19/02/2002, được sự đồng ý của Nhà nước và sự chỉ đạo của Tổng
công ty xi măng Việt Nam, Công ty xi măng Bỉm Sơn đã khởi công xây dựng,
cải tạo và hiện đại hoá dây chuyền sản xuất với công suất thiết kế giai đoạn I đạt
sản lượng 1,8 triệu tấn xi măng/ năm, giai đoạn II đạt sản lượng 2,4 triệu tấn
xi măng/ năm.
Ngày 03/05/2003, dự án cải tạo hiện đại hóa dây chuyền số 2 kết thúc
giai đoạn chạy thử và chính thức đi vào sản xuất, chuyển đổi công nghệ từ ướt
sang khô, đưa công suất nhà máy tăng từ 1,2 triệu tấn/ năm lên 1,8 triệu tấn/

Hội đồng quản trị:
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty gồm có năm thành viên do
Đại hội đồng cổ đông bầu hoặc miễn nhiệm. Hội đồng quản trị là cơ quan
quản lý cao nhất của Công ty, quản trị Công ty giữa hai kỳ Đại hội đồng cổ
đông. Hội đồng quản trị đại diện cho các cổ đông, có toàn quyền nhân danh
Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của
Công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông.
Ban Kiểm soát:
Ban Kiểm soát là cơ quan trực thuộc Đại hội đồng cổ đông, do Đại hội
đồng cổ đông bầu ra. Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp
GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung SVTH: Mai Thị Bích Ngọc - KH47B
Báo cáo thực tập tổng hợp - 7 - Khoa Kế Hoạch và Phát triển
pháp trong điều hành hoạt động kinh doanh, báo cáo tài chính của Công ty.
Ban kiểm soát hoạt động độc lập với Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc.
Ban Giám đốc:
Ban Giám đốc Công ty gồm Giám đốc và 05 Phó Giám đốc. Giám đốc là
người đại diện theo pháp luật của Công ty, điều hành mọi hoạt động hàng
ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực
hiện các quyền và nhiệm vụ được giao. Năm Phó Giám đốc được phân công
phụ trách năm mảng khác nhau, gồm: Phó Giám đốc phụ trách nội chính -
kinh doanh phụ trách việc quản lý, chỉ đạo điều phối hoạt động của các chi
nhánh và hoạt động y tế, an ninh trong Công ty; Phó Giám đốc phụ trách sản
xuất thực hiện nhiệm vụ theo dõi, điều hành hoạt động sản xuất hàng ngày
của Công ty, đảm bảo năng suất lao động cũng như kế hoạch sản xuất; Phó
Giám đốc phụ trách cơ điện có trách nhiệm điều hành hoạt động kỹ thuật về
cơ khí, điện đảm bảo chất lượng hoạt động của máy móc thiết bị, sự ổn định
của hoạt động sản xuất; Phó Giám đốc tiêu thụ phụ trách mảng tiêu thụ sản
phẩm của các chi nhánh văn phòng đại diện của Công ty; Phó Giám đốc đầu
tư xây dựng chịu trách nhiệm về điều hành ban quản lý dự án về kỹ thuật, đầu
tư, vật tư thiết bị.

4. Nhiệm vụ một số phòng ban chính
• Phòng cơ khí: có nhiệm vụ theo dõi tình hình hoạt động của thiết bị và
sửa chữa chúng khi bị hư hỏng, chế tạo các thiết bị thay thế.
• Phòng kỹ thuật sản xuất: Có nhiệm vụ theo dõi hoạt động sản xuất các
phân xưởng sản xuất chính và sản xuất phụ, theo dõi kiểm tra chất lượng sản
phẩm
GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung SVTH: Mai Thị Bích Ngọc - KH47B
Báo cáo thực tập tổng hợp - 9 - Khoa Kế Hoạch và Phát triển
• Phòng năng lượng: có nhiệm vụ theo dõi tình hình liên quan đến việc
cung cấp năng lượng cho sản xuất và các thiết bị điện.
• Phòng kế toán thống kê tài chính: có nhiệm vụ giám sát bằng tiền đối
với các tài sản và các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
• Phòng vật tư thiết bị: có nhiệm vụ theo dõi cung ứng vật tư, máy móc
thiết bị cho sản xuất.
• Phòng kế hoạch: có nhiệm vụ lập và tổ chức thực hiện kế hoạch sản
xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm của công ty.
• Phòng thí nghiệm KCS: Có nhiệm vụ theo dõi kiểm tra chất lượng sản
phẩm.
Ngoài các phòng ban và phân xưởng Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn
còn một số phòng ban khác làm nhiệm vụ phục vụ như phòng đời sống,
phòng bảo vệ và một hệ thống tiêu thụ gồm 1 trung tâm Giao dịch tiêu thụ,
8 văn phòng đại diện trong đó có một văn phòng đại diện tại Lào và rất nhiều
đại lý có nhiệm vụ tiêu thụ xi măng trên địa bàn của từng chi nhánh phụ trách.
III - Thị phần của Công ty
Hiện nay, tuy sản phẩm của Công ty chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ từ sản
phẩm của các nhà máy mới xây dựng nhưng với uy tín, chất lượng đã được
khẳng định qua thời gian, Công ty vẫn luôn duy trì được thị phần lớn, đảm
bảo hoạt động sản xuất kinh doanh có sự tăng trưởng và phát triển bền vững.
Thị phần của Xi măng Bỉm Sơn tại các địa bàn chính hiện nay như sau:
- Tại địa bàn Hà Tĩnh: Xi măng Bỉm Sơn có uy tín và vị thế rất cao ở thị

phẩm tạo ra trải qua nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, Sản phẩm chính của công ty
là xi măg PCB30, PCB40, Clinker, ximăng lixăng, được sản xuất trên dây
chuyền công nghệ đồng bộ, liên tục.
2. Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
Sản phẩm chính của Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn là xi măng
PCB30 và PCB40, được sản xuất trên dây chuyền công nghệ đồng bộ do Liên
Xô cũ cung cấp. Đây là dây chuyền sản xuất xi măng theo phương pháp ướt
nghiền hở với đặc điểm là dây chuyền chế biến kiểu liên tục và phức tạp.
Hiện nay, với dây chuyền công nghệ sản xuất cũ, trải qua hơn 20 năm
sản xuất và kinh doanh sẽ là một bất lợi trong nền kinh tế sôi động, cạnh tranh
khốc liệt. Công ty đã sớm có chương trình kế hoạch nhằm đổi mới dây
chuyền công nghệ từ sản xuất theo công nghệ ướt sang sản xuất theo công
nghệ khô trên nền tảng cơ sở hạ tầng cũ có nhiều thuận lợi cho việc nâng cấp
và đổi mới công nghệ, đã mở ra một khả năng mới với nhiều triển vọng nhằm
cạnh tranh có hiệu quả với các doanh nghiệp sản xuất xi măng khác.
* Quy trình sản xuất theo phương pháp ướt:
Phối liệu vào lò: Bùn nước 38 % – 42 %.
Kích thước lò quay: D
5m
x L
185m
.
GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung SVTH: Mai Thị Bích Ngọc - KH47B
Báo cáo thực tập tổng hợp - 12 - Khoa Kế Hoạch và Phát triển
Sơ đồ 2: Quy trình sản xuất xi măng theo phương pháp ướt lò quay
Ưu điểm: Chất lượng xi măng sản xuất theo phương phấp ướt tốt vì các
nguyên liệu và phụ gia được trộn đều.
GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung SVTH: Mai Thị Bích Ngọc - KH47B
Báo cáo thực tập tổng hợp - 13 - Khoa Kế Hoạch và Phát triển
Nhược điểm:

đang cân nhắc việc sẽ tiếp tục duy trì sản xuất hay là tháo dỡ dây chuyền 1
(phương pháp ướt).
II - Đặc điểm về tình hình sử dụng nguyên vật liệu
* Các loại nguyên vật liệu cần dùng: đá vôi, đất sét, phiến silíc, thạch
cao, quặng sắt, đá bazan, than cám, than Na Dương, thuốc nổ, Xăng ôtô, Dầu
diezen, dầu nhờn, mỡ bôi trơn.
Bảng 1: Sản lượng một số nguyên liệu chính từ năm 2005 - 2007
GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung SVTH: Mai Thị Bích Ngọc - KH47B
Báo cáo thực tập tổng hợp - 16 - Khoa Kế Hoạch và Phát triển
(Nguồn số liệu từ phòng Kinh tế kế hoạch)
GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung SVTH: Mai Thị Bích Ngọc - KH47B
(đv tính : tấn)
NVL Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Đá vôi 2.013.000 1.911.000 2.050.000
sét 435.000 424.000 506.000
phiến silíc 94.000 75.000 59.000
thạch cao 92.000 89.000 87.000
đá phụ gia 473.000 482.000 495.000
quặng sắt 53.000 61.000 59.000
Báo cáo thực tập tổng hợp - 17 - Khoa Kế Hoạch và Phát triển
* Định mức tiêu hao nguyên vật liệu trong hai năm gần đây:
Bảng 2: Định mức tiêu hao nguyên vật liệu trong hai năm 2006 - 2007
NVL Đơn vị tính Năm 2006 Năm 2007
Đá vôi T/Tclinker 1,2635 1,24
Sét T/Tclinker 0,213 0,29
Phiến silíc T/Tclinker 0,0517 0,33
Thạch cao T/Txi măng 0,0343 0,0336
Đá phụ gia % 21 22
Quặng sắt T/Tclinker 0,0394 0,37
(Nguồn số liệu từ phòng Kỹ thuật sản xuất)

Công ty CP Khoáng sản XD và phụ gia xi măng cung cấp phụ gia, đá bazan;
Công ty Cổ phần Vật liệu chất đốt Thanh Hoá cung cấp than cám; Công ty Cổ
phần Bao bì Thanh Hoá cung cấp vỏ bao; Công ty Xi măng Hoàng Mai cung
cấp clinker
* Chất lượng của các nguyên vật liệu đầu vào:
Công ty luôn chú trọng và làm tốt công tác Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất
lượng. Tất cả các thiết bị phục vụ cho việc kiểm tra đo lường đều được định
kỳ kiểm định hiệu chuẩn theo đúng pháp lệnh đo lượng của nhà nước đã đề
ra.
Nguyên vật liệu đầu vào như đá vôi, đất sét, phiến silíc, xỉ firit, quặng
sắt, các loại đá phụ gia, các loại than, xăng dầu, đều đạt TCVN và phải lấy
mẫu trên phương tiện chuyên chở hoặc trực tiếp tại mỏ và phân tích thành
phần đạt các chỉ tiêu theo tiêu chuẩn cơ sở đề ra. Tần suất kiểm tra là hàng
giờ, hàng ngày, hàng tuần tuỳ theo bản chất của từng loại nguyên liệu.
GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung SVTH: Mai Thị Bích Ngọc - KH47B
Báo cáo thực tập tổng hợp - 19 - Khoa Kế Hoạch và Phát triển
III - Đặc điểm về sản phẩm
1. Sản phẩm sản xuất
Sản phẩm chính hiện nay Công ty đang sản xuất là xi măng poolăng hỗn
hợp PCB30 và PCB40 theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN)/6260/1997, xi
măng PCB40 theo TCVN/2682/1999 và clinker thương phẩm theo
TCVN/7024/2002. Các sản phẩm này Công ty đã công bố sản phẩm phù hợp
tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa tại chi cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng
(TC - ĐL - CL) Thanh Hóa và được Chi cục tiếp nhận. Đặc biệt đối với hai
sản phẩm chủ đạo là PCB30 và PCB40 đã được Trung tâm chứng nhận phù
hợp tiêu chuẩn QUACERT thuộc Tổng cục TC – ĐL - CL cấp chứng nhận
phù hợp tiêu chuẩn.
Với chính sách chất lượng nhất quán, sản phẩm xi măng mang nhãn hiệu
“Con Voi” của Công ty đó và đang có uy tín với người tiêu dùng trên thị
trường hơn 25 năm qua. Vì vậy mà sản phẩm tiêu thụ của Công ty luôn giữ

Nhìn chung, năm 2007 công tác tiêu thụ của Công ty gặp nhiều khó
khăn, sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa nhiều loại xi măng trên thị trường khiến
sản lượng tiêu thụ của Công ty thấp hơn so với mức tiêu thụ năm 2006 gần
180.300 tấn và bằng 92,63% so với Nghị quyết đại hội đồng cổ đông năm
2007 đề ra. Sản lượng xi măng chủ yếu được bán tại địa bàn miền Trung và
một phần ở miền Bắc (như Ninh Bình, Thanh Hoá, Hà Tây). Các địa bàn còn
lại, sản lượng tiêu thụ đạt thấp, không ổn định và một số nơi đang có xu
hướng mất dần.
3. Tình hình giá cả và thị trường
Do thị trường xi măng biến động lớn, mức sản xuất trong phạm vi toàn
quốc tăng lên rất nhanh do đã có nhiều nhà máy lớn đi vào hoạt động và sản
xuất ổn định. Xi măng liên doanh có lượng tương đối lớn, là những công ty
GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung SVTH: Mai Thị Bích Ngọc - KH47B
Báo cáo thực tập tổng hợp - 21 - Khoa Kế Hoạch và Phát triển
liên doanh vốn chủ yếu của nước ngoài do đầu tư mới nên được miễn giảm
thuế. Vì vậy công tác xử lý giá cả đến từng thị trường rất linh hoạt, không bị
ràng buộc bởi cơ chế quản lý của nhà nước. Cho nên việc tăng giảm thị phần
trên thị trường đối với những công ty này hoàn toàn là do chủ quan, một
lượng xi măng lò đứng không nhỏ với đặc điểm của xi măng này là do địa
phương quản lý cho nên việc xây dựng các công trình dân dụng, cơ sở hạ tầng
trong địa phương luôn được các địa phương ưu tiên cho loại xi măng của
mình.
Việc phát vốn đầu tư cho các công trình của nhà nước, giải ngân cho các
dự án đạt đúng kế hoạch. Một số công trình lớn thực hiện đúng tiến độ thi công.
Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Tổng Công ty Xi măng Việt Nam
cũng như việc tổ chức và đề ra những biện pháp có hiệu quả linh động của
lãnh đạo công ty như chính sách khuyến mại, hoa hồng đã thực sự tạo động
lực thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm của công ty, góp phần không nhỏ vào việc
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
IV - Đặc điểm về lao động, nhân sự

Số lượng
(người)
%
Số lượng
(người)
%
Số lượng
(người)
%
Tổng 2760 100 2589 100 2379 100
Nam 2172 78.7 2067 79.84 1939 81.5
Nữ 588 21.3 522 20.16 440 18.5
(Nguồn: Phòng Tổ chức Lao động)
Nhận xét:
Qua bảng số liệu trên ta thấy tổng số lao động đã giảm xuống theo các
năm, điều đó cho thấy Công ty đã có thêm nhiều máy móc thiết bị hiện đại
hơn ở nhiều công đoạn có thể thay thế con người. Do đặc điểm của ngành
nghề sản xuất là ngành công nghiệp nặng - công nghiệp sản xuất xi măng, nên
ta có thể nhìn thấy một điểm rất cơ bản là số lao động nam chiếm phần lớn.
GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung SVTH: Mai Thị Bích Ngọc - KH47B

Trích đoạn Phương hướng, kế hoạch, mục tiêu phát triển của Công ty trong
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status