Trang 1
BỔ SUNG MỘT SỐ CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH
VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY SẢN ĐÀ NẴNG
A.NHẬN XÉT VỀ TÌNH HÌNH, TỔNG HỢP CÁC CHỈ TIÊU PHÂN
TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
THỦY SẢN ĐÀ NẴNG.
I.Những thuận lợi và khó khăn của Công ty:
Trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế thế giới và những năm đầu của thế kỷ 21,
nền kinh tế của nước ta và của thành phố sau đổi mới luôn tăng trưởng cao và ổnn
định; hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, tạo điều kiện cho việc đầu tư, phát
triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế thế giới. Trong bối cảnh đó, Công ty có
những thuận lợi và khó khăn sau:
1.Những thuận lợi cơ bản:
-Công ty đã rút ra được những bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý,
điều hành mọi hoạt động của Công ty theo mô hình cổ phần có các xí nghiệp thành
viên hạch toán phụ thuộc, vận hành trong cơ chế nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.Việc chuyển đổi hình thức Công ty từ doanh nghiệp Nhà
nước sang Công ty cổ phần được sự hưởng ứng của cán bộ công nhân viên toàn Công
ty, vì vậy đã tạo được không khí đoàn kết, sôi nổi hoạt động của Công ty.
-Công ty có những thuận lợi về điều kiện tự nhiên, thành phố Đà nẵng có
nhiều cửa biển, tiềm năng về thủy sản dồi dào, hoạt động sản xuất, khai thác của bà
con ngư dân được duy trì.
-Đội ngũ quản lý Công ty đã từng bước thích ứng với cvơ chế thị trường, từng
vị trí công tác tương đối chủ động với vai trò nhiệm vụ được phân công. Đội ngũ
công nhân có tay nghề ngày càng thuần thục, nhiệt tình trong lao động sản xuất, sản
phẩm sản xuất ra có chất lượng, đảm bảo được yêu cầu khách hàng.
-Thị trường tiêu thụ hàng xuất khẩu được mở rộng, củng cố được niềm tin và
không ngừng phát triển các mặt hàng xuất khẩu với những khách hàng đã có quan hệ
lâu dài với Công ty, tạo được những hình ảnh tôt đẹp về Công ty đến với mọi khách
hàng.
Chỉ tiêu ĐVT 2000 2001 2002
1.Hiệu suất sử dụng TSCĐ lần 3,71 5,72 5,04
2.Số vòng quay VLĐ vòng 4,7 10,78 6,7
3.Số ngày 1 vòng quay VLĐ ngày 77 33 54
4.Hiệu suất sử dụng tài sản lần 2,47 4,97 3,67
5.Số vòng quay HTK vòng 37,29 46,46 34,43
6.Số ngày 1 vòng quay HTK ngày 10 8 11
7.Số vòng quay PTKH vòng 20,27 40,07 13,89
8.Kỳ thu tiền bình quân ngày 18 9 26
9.Tỷ suất LN trên DTT % 0,86 0,50 0,56
10.Tỷ suất LN trên DTTSXKD % 1,10 0,71 0,88
11.Tỷ suất LN trên DTTSXKD loại
trừ chính sách khấu hao
% 3,97 2,86 3,32
12.ROA % 2,13 2,5 2,05
13.RE % 2,7 4,36 3,28
14.ROE1 % 5,34 6,06 5,8
15.ROE2 % 4,67 6,06 5,17
Bằng phương trình Dupont, ta có thể thấy được tổng hợp các chỉ tiêu
phân tích năm 2002 so với năm 2001 qua sơ đồ sau:
ROE
2
Trang 3
6,06% 5,17%
2,5% 2,05%
0,50% 0,56% 4,97 3,67
5,72 so với 5,04 10,78 6,7
hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động chung đó là:
-Trong năm 2002 Công ty chưa hoàn thành chỉ tiêu doanh thu kế hoạch do Đại
hội cổ đông đặt ra là 52 tỉ nhưng thực tế chỉ đạt 51 tỉ, điều này làm ảnh hưởng không
nhỏ đến hiệu quả hoạt động của Công ty. Qua đó, ta cũng thấy được việc xây dựng và
điều hành kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty chưa sát với thực tiễn và việc
nắm bắt thị trường còn nhiều bất cập.
-Hiệu suất sử dụng tài sản còn thấp là do :
+Thứ nhất, do ảnh hưởng của hiệu suất sử dụng tài sản cố định. Vì vậy trong
năm đến cần phải có biện pháp khắc phục tình trạng này.
+Thứ hai, do công tác quản lý vốn lưu động chưa tốt, tốc độ quay vòng của
vốn lưu động chậm, thời gian 1 kỳ luân chuyển vốn lưu động dài. Khả năng chuyển
đổi thành tiền của các khoản phải thu và hàng tồn kho thấp, vốn bị chiếm dụng nhiều.
Từ đó cho thấy Công ty sử dụng đồng vốn chưa thực sự hiệu quả và chưa có một
chính sách bán hàng hợp lý.
-Hiệu quả kinh doanh tổng hợp còn thấp do quản lý sản xuất và chi phí hoạt
động kinh doanh chưa thật sự tiết kiệm, có lúc còn thiếu chặt chẽ. các hoạt động tìm
kiếm thị trường để đẩy mạnh đa dạng các mặt hàng tiêu thụ còn hạn chế.
Mặt khác, trong những năm qua Công ty đã chưa sử dụng hợp lý đòn cân nợ,
chưa xây dựng một cơ cấu vốn tối ưu, từ đó công ty chưa vận dụng tốt hiệu ứng đòn
bẩy tài chính trong việc nâng cao hiệu quả của mình. Do việc quản lý điều hành các
hoạt động tài chính còn thụ động, chưa đề ra các giải pháp nhằm thúc đẩy mạnh tính
hiệu quả mọi nguồn lực tài chính của Công ty.
Từ những hạn chế trên, Công ty cần có các biện pháp khắc phục nhằm nâng
cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của Công ty trong thời gian đến.
B.BỔ SUNG CÁC CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH.
I.Sự cần thiết bổ sung các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính:
Kinh tế thị trường ngày càng phát triển, việc cổ phần hóa các doanh nghiệp
Nhà nước là xu hướng tất yếu. Do đó ngày càng xuất hiện nhiều hơn các Công ty cổ
phần hoạt động dưới hình thức vốn góp của các cổ đông. Đặc biệt, đối với các Công
ty cổ phần đã niêm yết giá trên thị trường chứng khoán thì đa số các cổ đông không
EPS =
Số lượng cổ phiếu thường đang lưu hành bình quân bằng số lượng cổ phiếu
thường đang lưu hành ở cuối kỳ hạch toán nếu không có cổ phiếu được phát hành hay
thu hồi trong năm.
Chỉ tiêu này cho biết 1 cổ phiếu thường hàng nắmẽ thu được bao nhiêu đồng
lợi nhuận và thông thường các cổ đông sẽ không nhận được hoàn toàn số nàyvì phần
lợi nhuận tạo ra để chia cổ tức chỉ theo một tỷ lệ nào đó mà thôi, số còn lại sẽ bổ
sung vào nguồn vốn kinh doanh, thực hiện tái sản xuất mở rộng. Vì vậy, doanh
nghiệp nào có EPS lớn hơn sẽ thu hút sự đầu tư hơn.
3.Tỷ số giá thị trường trên thu nhập của một cổ phiếu thường(P/E):
Chỉ tiêu này phản ánh ở một mức độ nhất điịnh tiềm năng phát triển của doanh
nghiệp và sự đánh giá của thị trường đối với thu nhập của nó.
Lợi nhuận sau thuế
Vốn cổ đông bình quân
Lợi nhuận sau thuế - Cổ tức của cổ phiếu ưu đãi
Số lượng cổ phiếu thường đang lưu hàng bình quân
5
Trang 6
P/E =
Chỉ tiêu này phản ánh nhà đầu tư sẽ bỏ ra bao nhiêu đồng để mua một đồng
tiền lời của cổ phiếu. Chỉ tiêu này càng cao thể hiện hiệu quả càng lớn. Vì với tỷ giá
thị trường có xu hướng tăng dần đó là một dấu hiệu tăng trưởng thuận lợi và phản
ánh một triển vọng, kinh doanh có hiệu quả.
4.Tỷ số giá thị trường trên giá trị sổ sách của một cổ phiếu(M/B):
Với chỉ tiêu này nhà kinh doanh chứng khoán trên thị trường sẽ biết được mức
độ chênh lệch giữa giá trị sổ sách kế toán của một cổ phiếu mình đang sở hữu với giá
thị trường sẽ trả cho cổ phiếu đó.
M/B =
hoạt động tài chính của Công ty ở mức cao (so sánh với ROE2). Do đó trong thời
gian tới Công ty cần phát huy những tiềm lực hiện có góp phần nâng cao hơn nữa uy
tín thương hiệu cũng như sự đầu tư của các cổ đông.
C.MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY SẢN ĐÀ NẴNG.
Nâng cao hiệu quả hoạt động là điều kiện để Công ty tồn tai và phát triển. Qua
phân tích tình hình hoạt động tại Công ty cổ phần thủy sản Đà Nẵng, em xin đề xuất
một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty.
I.NHỮNG BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU SUẤT SỬ DỤNG
VỐN TẠI CÔNG TY.
Việc chưa sử dụng hết các nguồn tài sản ở doanh nghiệp là thường xuyên xảy
ra. Vì thế, vấn đề đầu tiên nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là phải tổ chức và sử
đầy đủ tài sản của mình. Hoạt động của Công ty cổ phần thủy sản Đà Nẵng thể hiện
trên cả 3 khâu: khai thác, chế biến và lưu thông hàng hóa, do vậy đòi hỏi Công ty
phải cáo trình độ quản lý cao mới tránh được những tổn thất gây lãng phí đồng vốn
sử dụng.
1.Quản lý tài sản cố định:
Như đã phân tích ở phần2, ta thấy hiệu suất sử dụng tài sản của Công ty trong
năm qua có sự giảm sút. Vì vậy, trong thời gian đến để có thể nâng cao hơn nữa hiệu
quả hoạt động thì Công ty cần phải có biện pháp quản lý tài cố định một cách hữu
hiệu hơn.
Máy móc thiết bị là bộ phận cấu thành lớn của tài sản cố định, là công cụ trực
tiếp khai thác các đối tượng lao động nhằm sản xuất ra sản phẩm. Việc tận dụng tối
đa thời gian có ích của máy móc thiết bị có ý nghĩa kinh tế về nhiều mặt. Trong
những biện pháp tăng năng suất lao động thì doanh nghiệp rất chú trọng đến việc
tăng năng suất của máy móc thiết bị. Vì vậy, để khai thác triệt để năng suất của máy
nóc thiết bị đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng thời gian làm việc của máy móc thiết bị,
giảm thời gian lãng phí của người lao động cũng như của máy móc thiết bị nhằm mục
đích tăng số lượng sản phẩm sản xuất, giảm thiểu chi phí cố định trên mỗi đơn vị sản
phẩm sản xuất ra. Tuy nhiên, có những máy móc trong quá trình hoạt động thường
2 1/6=0,167
3 2/6=0,333
1
Vậy số lần hư hỏng kỳ vọng=0*0,167+1*0,333+2*0,167+3*0,333
=1,67(lần/năm).
-Chi phí thiệt hại kỳ vọng hàng năm của việc hư hỏng máy áp dụng chính sách
cũ:
1,67*2.250.000=3.757.500đồng.
-Chi phí kì vọng của hợp đồng bảo trì dự phòng:
0,5*2.250.000+1.000.000=2.125.000đồng.
Vậy Công ty nên ký hợp đồng bảo dưỡng, bảo trì dự phòng, vì với hợp đồng
này Công ty đã tiết kiệm thêm được:4.117.500-2.125.000=1.632.500đồng/năm, từ đó
góp phần làm tăng lợi nhuận của Công ty lên. Phương án này không những đem lại
cho Công ty một khoản lợi nhuận mà còn có 1 ưu điểm đặc biệt hơn đó là thời gian
8
Trang 9
ngưng hoạt động của máy móc thiết bị để sửa chữa sau mỗi lần hư hỏng sẽ giảm
xuống, nghĩa là có thể tận dụng tối đa hơn thời gian, công suất làm việc của tủ đong
số 2 đảm bảo tiến độ sản xuất được ổn định.
Hiện nay, một số máy móc thiết bị của Công ty hư hỏng chưa có kế hoạch bảo
trì sửa chữa. Bên cạnh đó, trong thời gian đến với nguồn lực tài chính hiện có Công
ty dự kiến đầu tư cho các dự án mua sắm máy móc thiết bị nhằm mở rộng qui mô sản
xuất. Nhưng sau khi đầu tư nâng cấp Công ty cần phải có biện pháp tận dụng tối đa
năng suất cứ máy móc thiết bị này. Có như vậy mới có thể làm giảm chi phí (khấu
hao) trên một đơn vị sản phẩm(vì Công ty trích khấu hao nhanh trong những năm
đầu). Do vậy, các biện pháp có thể áp dụng đó là:
+Đẩy mạnh hoạt động tiêu thu, mở rộng thị trường, thiết lập mối quan hệ làm
ăn lâu dài với những khách hàng truyền thống nhằm đảm bảo được thời gian làm việc
của máy móc thiết bị, tránh lãng phí thời gian hữu ích.
+Bố trí công nhân kỹ thuật sao cho phù hợp với trình độ và công nghệ tiên
một phương thức bán hàng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động là một việc làm vô
cùng cần thiết.
Chính sách tín dụng quyết định mạnh mẽ đến doanh thu bán hàng. Vì vậy, xây
dựng một chính sách tín dụng khoa học và hiệu quả là nhiệm vụ khó khăn cảu các
nhà quản lý. Bởi vì chính sách tín dụng không hiệu quả thì sẽ tác động ngược lại, ảnh
hưởng đến doanh thu và cụ thể là lợi nhuận của Công ty.
Cơ sở cho việc cấp phát tín dụng là phân tích vị thế tín dụng của khách hàng.
Những nhân tố được sử dụng khi phân tích vị thế tín dụng của khách hàng có thể là:
A:Đạo đức thanh toán của khách hàng.
B:Năng lực thanh toán của khách hàng.
C:Chỉ số sinh lời bình quân hay thu nhập bình quân của khách hàng.
D:Lợi thế cạnh tranh hay vị thế tương lai của khách hàng.
Những nhân tố này có thể được thông qua:
+Các nguồn thông tin do khách hàng cung cấp.
+Các nguồn thông tin thể hiện qua số liệu, chỉ tiêu tài chính trên các báo cáo
tài chính đã qua kiểm toán của khách hàng.
+Nguồn thông tin từ các ngân hàng, tổ chức tín dụng mà khách hàng có khoản
ký thác tại đó.
+Nguồn thông tin từ các doanh nghiệp đã giao dịch với khách hàng trong
nhưĩng năm qua.
Sau đó, Công ty tính điểm tín dụng cho khách hàng qua phương pháp “Phân
tích tuyến tích yếu tố phân biệt” theo công thức:
M=h
A
*A + h
B
*B + h
C
*C + h
D
= -11,28=0,82USD
Kết luận: phương án có thể chấp nhận vì NPV >0. Doanh nghiệp sẽ chấp nhận
thời hạn cấp phát tín dụng cho khách hàng là 22 ngày.
Tuy nhiên, ta xét thêm một khía cạnh thực tiễn khác trong việc cấp tín dụng là:
khi cấp tín dụng cho khách hàng thì công ty sẽ phải chịu một khoản rủi ro do một số
nợ không thu hồi hết được. Xác suất rủi ro này sẽ được so sánh với tỷ lệ phần trăm
nợ không thu hồi được.Theo kinh nghiêm của các nhà quản lý khi áp dụng chính sách
tín dụng trong những năm(1994-1998) thì tỷ lệ này ước chừng khoảng 5%.
Mức rủi ro có thể chấp nhận trong việc cấp tín dụng của Công ty mà vẫn đảm
bảo Công ty hòa vốn(xem như không có cấp tín dụng) là:
NPV =0 <==> -11,28=0
===>α=6.74%
NPV
1+i
12,12
1+0,0028*
22
30
(1-α)*12,12
1,00205
11