Thực trạng hoạt động xuất khẩu phần mềm Việt Nam - Pdf 63

Thực trạng và triển vọng xuất khẩu phần mềm ở Việt Nam
Thực trạng hoạt động xuất khẩu phần mềm Việt
Nam
I. Vài nét về hoạt động sản xuất và xuất khẩu phần
mềm của một số nớc tiêu biểu trên thế giới
Nói đến CNpPM và XKPM, ngời ta thờng nghĩ ngay đến Mỹ, nớc có nền sản xuất
phần mềm (SXPM), xuất khẩu phần mềm lớn nhất thế giới và ấn Độ, một quốc gia
đang phát triển thành công nhất trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, với mục đích phân
tích thực trạng SXPM và XKPM một số nớc trên thế giới để từ đó có một cái nhìn
khách quan hơn về hoạt động SXPM và XKPM Việt Nam, xin đợc đi sâu tim hiểu
lĩnh vực này của Nhật Bản và ấn Độ - hai nớc cùng thuộc khu vực châu á và cùng
có khá nhiều điểm tơng đồng với chúng ta. Nhật Bản một quốc gia đã phát triển
và ấn Độ một quốc gia đang phát triển sẽ là những thớc đo chính xác để đánh giá
hoạt động SXPM và XKPM Việt Nam.
1. Hoạt động sản xuất và xuất khẩu phần mềm của Nhật
Bản
1.1.
Hoạt động sản xuất phần mềm của Nhật Bản
Từng làm cả thế giới kinh ngạc khi vơn lên thành cờng quốc kinh tế đứng thứ hai
thế giới từ một nớc bại trận trong Đại chiến II, Nhật Bản là một quốc gia rất năng
động. Với tính năng động này, Nhật Bản ngay từ đầu đã bắt đợc với nhịp phát triển
của ngành công nghệ thông tin. Trong nhiều năm liền, doanh thu từ ngành dịch vụ
thông tin nớc này luôn đứng ở vị trí thứ ba, sau ngành công nghiệp chế tạo và tài
chính/ bảo hiểm. ở đây, ngành công nghiệp dịch vụ thông tin đợc hiểu là ngành
CNpPM Nhật Bản (sản xuất sản phẩm phần mềm và cung cấp dịch vụ có liên
quan). Do tôn trọng quyền tác giả của Báo cáo về ngành dịch vụ CNTT Nhật
Thực trạng và triển vọng xuất khẩu phần mềm ở Việt Nam
Bản năm 2003 (Information Technology Services Industry 2003 Annual
Report), xin đợc giữ nguyên thuật ngữ ngành công nghiệp dịch vụ CNTT.
Báo cáo này dựa trên Bản tổng kết về những ngành dịch vụ tiêu biểu của năm
2001 (Report on the selected service industries for 2001) do Bộ kinh tế, thơng mại

Bản
Trong cơ cấu nguồn nhân lực ngành công nghiệp dịch vụ CNTT Nhật Bản, kỹ s hệ
thống chiếm tỷ lệ lớn nhất, tiếp đến là lập trình viên và nhân viên quản lý, kinh
doanh. Lợng kỹ s hệ thống và lập trình viên tăng đều qua các năm. Số lợng kỹ s hệ
thống năm 2001 là 224237, tăng 0,7% so với năm trớc. Trung bình cứ 3 nam thì t-
ơng ứng có 1 nữ làm việc trong ngành này. Tuổi nghề trung bình của cả nam và nữ
là 33,8.
Thực trạng và triển vọng xuất khẩu phần mềm ở Việt Nam
Biểu 2: Số lao động làm việc trong ngành công nghiệp dịch vụ CNTT và trong
toàn nền kinh tế Nhật Bản giai đoạn 1992 2001
(Số liệu năm 1992 đợc coi là 100)
Chú thích:
: Số lao động trong toàn nền kinh tế Nhật Bản
: Số lao động làm việc trong ngành dịch vụ CNTT
Nguồn: Báo cáo về những ngành dịch vụ tiêu biểu năm 2001 của Bộ kinh tế, th-
ơng mại và công nghiệp Nhật Bản (tháng 12/2002).
1.1.3. Cơ cấu sản phẩm ngành công nghiệp dịch vụ CNTT của Nhật Bản
Sản phẩm và dịch vụ chính của ngành công nghiệp dịch vụ CNTT Nhật Bản là dịch
vụ xử lý thông tin, dịch vụ cơ sở dữ liệu, điều khiển hệ thống, kết quả điều tra khác,
phần mềm chuyên dụng, sản phẩm phần mềm. Trong đó, doanh số phần mềm phục
vụ khách hàng lớn nhất, tiếp đến là dịch vụ xử lý thông tin, sản phẩm phần mềm và
dịch vụ điều khiển hệ thống. Đáng chú ý là trong những năm gần đây, phần mềm
trò chơi chiếm tỷ lệ ngày càng tăng trong cơ cấu sản phẩm phần mềm. (xem biểu 3)
Thực trạng và triển vọng xuất khẩu phần mềm ở Việt Nam
Biểu 3: Cơ cấu doanh thu ngành công nghiệp dịch vụ CNTT Nhật Bản giai
đoạn 1997 2001
Đơn vị: 100 triệu yên
Chú thích:
Dịch vụ xử lý thông tin Dịch vụ cơ sở dữ liệu
Phần mềm chuyên dụng Kết quả điều tra khác

(triệu Yên)
STĐ
(triệu Yên)
% tăng tr-
ởng
STĐ
(triệu Yên)
% tăng trởng
1994 5491 - 259,474 -
-253,983
1995 3931 71,59 392,576 151,30
-388,645
1996 5679 144,47 393,540 100,25
-387,861
1997 2812 49,52 474,913 120,68
-472,101
1998 8752 311,24 595,165 125,32
-586,413
1999 9292 106,17 720,104 120,99
-710,812
2000 8981 96,65 918,860 127,60
-909,879
Nguồn: Báo cáo về những ngành dịch vụ tiêu biểu năm 2001 của Bộ kinh tế, th-
ơng mại và công nghiệp Nhật Bản (tháng 12/2002).
1.2.2. Cơ cấu xuất khẩu phần mềm của Nhật Bản
Không giống nh Mỹ đi từ nghiên cứu cơ bản đến phát minh, cải tiến rồi ứng dụng,
Nhật Bản đi từ ứng dụng, cải tiến rồi mới phát minh. Chính vì vậy mà trong cơ cấu
phần mềm đóng gói Nhật Bản xuất sang các nớc, phần mềm ứng dụng chiếm tỷ lệ
lớn nhất rồi đến phần mềm cơ bản và phần mềm chuyên dụng. (Biểu 4)
Phần mềm ứng dụng

với mức 3 tỷ yên (tăng 196%). Châu á đứng thứ ba với kim ngạch 1,84 tỷ yên (chỉ
bẳng 44% năm trớc). Các thị trờng còn lại chỉ khoảng 0,2 tỷ yên.
Thực trạng và triển vọng xuất khẩu phần mềm ở Việt Nam
Biểu 5:Thị trờng xuất khẩu phần mềm Nhật Bản giai đoạn 19942000
Triệu Yên
Nguồn: Báo cáo về ngành dịch vụ CNTT của Nhật Bản năm 2003
Nhìn chung, hoạt động SXPM và XKPM Nhật Bản hoàn toàn xứng đáng với tầm
vóc một cờng quốc đứng thứ hai trong nền kinh tế thế giới. Tuy vậy, trong những
năm gần đây, việc quy mô ngành này của Nhật Bản chỉ giữ nguyên chứ không mở
rộng cho thấy có thể CNpPM Nhật Bản đã đạt đến độ chín. Điều này cùng đồng
nghĩa với một triển vọng tốt đẹp cho các nớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam
chúng ta.
Thực trạng và triển vọng xuất khẩu phần mềm ở Việt Nam
2. Hoạt động sản xuất và xuất khẩu phần mềm của ấn Độ
Hoạt động sản xuất phần mềm của

n Độ
Với kim ngạch xuất khẩu dự kiến năm 2008 là 50 tỷ USD, doanh số bán trong nớc
đạt 35 tỷ USD (theo Chủ tịch hiệp hội NASSCOM National Association of
Software & Service Companies), sự thành công của ấn Độ là đích phấn đấu không
chỉ của các nớc đang phát triển mà của cả một số nớc đã phát triển nh Đông Âu,
Châu Mỹ La Tinh Thành quả này có đợc do rất nhiều lý do. Song có lẽ một trong
những lý do quan trọng nhất là định hớng đúng đắn từ phía nhà nớc.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của thông tin, của tri thức và công nghệ, ngay từ
năm 1985, chính phủ ấn Độ đã giành rất nhiều u đãi cho ngành CNpPM nh bãi bõ
các giấy phép liên quan đến CNpPM, cho phép nhập khẩu miễn thuế các sản phẩm
phục vụ cho CNpPM, kích cầu thị trờng CNpPM trong nớc... Chính vì thế, cả thị tr-
ờng nội địa lẫn thế giới đều đợc quan tâm thích đáng.
Quy mô ngành CNpPM ấ n Độ
Trong nhiều năm liền doanh số ngành CNpPM tăng đều đặn. Sự phát triển này đợc

h

c

t
r

n
g

v
à

t
r
i

n

v
35
Thực trạng và triển vọng xuất khẩu phần mềm ở Việt
Thực trạng và triển vọng xuất khẩu phần mềm ở Việt Nam
Bớc sang thế kỷ 21, quy mô ngành CNpPM vẫn tiếp tục tăng, bất chấp tình hình trì
trệ của nền công nghiệp CNTT toàn cầu. Doanh số hàng năm toàn ngành giai đoạn
2001 2004 đạt trên 6 tỷ USD. Với đà này, ớc tính con số này giai đoạn 2005
2007 sẽ là hơn 14 tỷ USD.
15
Việc quy mô ngành CNpPM ấn Độ mở rộng không chỉ thể hiện ở sự gia tăng
doanh số mà còn ở quy mô lao động. Số lợng nhân công làm việc trong ngành tăng

Nguồn nhân lực trong CNpPM của ấ n Độ
ấn Độ rất chú trọng đào tạo phát triển nguồn nhân lực. Đây là một quyết định rất
khôn ngoan bởi hơn tất cả các nguồn lực khác nh tài nguyên, vốn, nhân lực là
nguồn lực quan trọng nhất. Điều này càng có ý nghĩa với một ngành công nghiệp
không hề phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên nh CNpPM. Ngay từ năm 1990, ấn
Độ đã dành 25 triệu USD trong khoản vay 210 triệu USD dành riêng cho CNTT để
hỗ trợ giảng dạy cho 32 cơ sở đào tạo của các trờng đại học và dạy nghề, cụ thể là
nhập học cụ, giáo trinh, mở khóa huấn luyện giảng viên do ấn kiều và ngời nớc
ngoài đến giảng Ngoài ra, các doanh nghiệp còn chủ động vay số tiền còn lại để
cử nhân viên theo học các khóa đào tạo nhân lực do những trung tâm đào tạo quốc
tế uy tín nh MAIT, TCS tổ chức. Bộ CNTT còn ký kết hợp đồng với các công ty
viễn thông để sử dụng băng thông nhàn rỗi vào mục đích đào tạo nhân lực phần
mềm qua mạng.
Có thể thấy, hoạt động sản xuất phần mềm ấn Độ đợc tổ chức tốt về mọi mặt.
14
14
Thực trạng và triển vọng xuất khẩu phần mềm ở Việt Nam
2.2.
Hoạt động xuất khẩu phần mềm của

n Độ
2.2.1. Quy mô xuất khẩu phần mềm của ấ n Độ
Chính nhờ đầu t đúng hớng cho sản xuất phần mềm, ấn Độ đã giành đợc vị thế
đáng nể trên thị trờng quốc tế. Kim ngạch xuất khẩu phần mềm tăng đều đặn qua
các năm. Tính đến hết năm tài chính 2002 2003, kim ngạch xuất khẩu phần mềm
ấn Độ đã đạt 9,5 tỷ USD. Ước tính hết năm tài chính 2003 2004, con số này sẽ
tăng 26% - 28% lên 12 tỷ USD (riêng xuất khẩu phần mềm tăng 17%) bất chấp
những bất ổn kinh tế toàn cầu và đồng rupee tăng giá. (Biểu 6)
Biểu 6: Xuất khẩu phần mềm ấn Độ giai đoạn 1991 2003
Đơn vị: Tỷ USD

Với chủ trơng phát triển công nghiệp CNTT trở thành ngành kinh tế mũi nhọn,
trong đó u tiên CNpPM, rất nhiều biện pháp u đãi và khuyến khích đầu t đã đợc áp
dụng. Quy mô nền sản xuất phần mềm Việt Nam vì thế cũng mở rộng dần qua các
năm về cả phơng diện doanh số, lao động và số lợng công ty trong ngành.
16
16
Thực trạng và triển vọng xuất khẩu phần mềm ở Việt Nam
Năm 2000, doanh số toàn ngành sản xuất phần mềm Việt Nam mới đạt 50 triệu
USD thì năm 2001 đã lên 60 triệu USD và năm 2002 là 75 triệu USD. Tốc độ tăng
trởng trung bình ngành CNpPM giai đoạn này là 22,4%. Đáng nói là tốc độ này
cao hơn tốc độ tăng trởng CNpPC nên tỷ trọng doanh thu CNpPM trong cơ cấu
doanh thu toàn ngành CNTT cũng ngày càng tăng. Tuy vậy, so mặt bằng chung của
thế giới là 49%, tỷ trọng này vẫn còn rất thấp.
Bảng 6: Cơ cấu doanh thu CNpCNTT Việt Nam giai đoạn 2000 - 2002
Năm
2000 2001 2002
STĐ
TT
STĐ
TT
STĐ
TT
Phần mềm/ dịch vụ 50
16,67
60
17,65
75
18,75
Phần cứng 250
83,33


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status