Kiểm soát chất lượng kiểm toán trong công ty kiểm toán độc lập - Pdf 63

Lời mở đầu
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán độc lập đã
hình thành và phát triển ở Việt Nam trong hơn mười sáu năm qua, trở thành nhu cầu tất
yếu đối với hoạt động kinh doanh và góp phần nâng cao chất lượng quản lý doanh
nghiệp.
Kiểm toán độc lập đã tham gia tích cực vào việc kiểm tra, đánh giá, xác nhận độ
tin cậy của các thông tin kinh tế tài chính, góp phần đáng kể vào hoạt động sắp xếp, đổi
mới, cổ phần hóa doanh nghiệp và thu hút các hoạt động đầu tư của nước ngoài, tạo điều
kiện thuận lợi phát triển kinh tế đất nước. Thiết lập và duy trì được một cơ chế kiểm soát
chất lượng kiểm toán chặt chẽ, có hiệu quả, các công ty kiểm toán sẽ đảm bảo với các
doanh nghiệp và các nhà đầu tư rằng: Kết quả kiểm toán trước khi đến với các nhà đầu
tư đã được kiểm soát, chất lượng kiểm toán được bảo đảm. Từ đó củng cố được niềm tin
của các doanh nghiệp và các nhà đầu tư vào chất lượng kiểm toán, giúp gia tăng niềm tin
của khách hàng và mở rộng thị trường.
Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150
của Tổ chức thương mại thế giới WTO, mở ra một thời kỳ hội nhập mạnh mẽ với nền
kinh tế khu vực và thế giới. Tình hình đó đã đặt ra yêu cầu phải nâng cao chất lượng
trong mọi ngành nghề để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường đầy cạnh tranh như
hiện nay. Trong đó, hoạt động kiểm toán độc lập cũng không thể nằm ngoài quy luật trên.
Vấn đề chất lượng và kiểm soát chất lượng đã trở thành vấn đề sống còn đối với các
doanh nghiệp kiểm toán độc lập.
Xuất phát từ vấn đề này, em đã lựa chọn đề tài: “Kiểm soát chất lượng kiểm toán
trong công ty kiểm toán độc lập”. Nội dung đề tài gồm các phần:
I. Quá trình hình thành kiểm toán độc lập ở Việt Nam.
II. Mục đích, phạm vi và thực trạng của kiểm toán độc lập.
III. Một số vấn đề chủ yếu về kiểm soát chất lượng kiểm toán độc lập ở Việt
Nam.
IV. Thực trạng việc kiểm soát chất lượng kiểm toán ở các công ty kiểm toán
độc lập.
V. Các biện pháp nâng cao hiểu quả của quá trình kiểm soát chất lượng hoạt
động kiểm toán.

dụng các hình thức duyệt quyết toán như đối với các doanh nghiệp nhà nước.
- Về chủ quan: Khi tính chủ động trong kinh doanh của các doanh nghiệp được
phát huy, các doanh nghiệp hạch toán kinh doanh độc lập, theo đó các yêu cầu thông tin
kinh tế trung thực và đáng tin cậy là hết sức quan trọng. Các thông tin này không chỉ
phục vụ cho cho một đối tượng là nhà nước mà còn phục vụ cho nhiều các đối tượng
khác như Ngân hàng (tư cách là người cho vay), đối tác kinh doanh.....
Với các yêu cầu mang tính khách quan và chủ quan như trình bày ở trên đã hình
thành nhu cầu kiểm toán, theo đó Công ty kiểm toán đầu tiên của Việt nam được thành
lập (tháng 5 năm 1991). Tiếp sau là hàng loạt các công ty kiểm toán khác ở mọi thành
phần kinh tế cũng được thành lập. Như vậy sự xuất hiện kiểm toán ở Việt nam là tất yếu
khách quan, hoạt động kiểm toán độc lập thực sự cần thiết trong nền kinh tế thị trường và
là nhu cầu của nền kinh tế chứ không phải là sự bắt buộc của các qui định pháp lý.
II. Mục đích và phạm vi và thực trạng của hoạt động kiểm toán độc lập
1) Mục đích của kiểm toán độc lập:
Trong nền kinh tế thị trường các thông tin tài chính có độ tin cậy, chính xác và
trung thực hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với các chủ thể trong các hoạt
động kinh tế. Kiểm toán độc lập hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu này của nền kinh tế.
Luật pháp nhiều nước khẳng định rằng, chỉ những báo cáo đã được xem xét và có chữ ký
của kiểm toán viên độc lập mới được coi là hợp pháp, làm cơ sở cho nhà nước tính thuế
cũng như các bên quan tâm khác đưa ra các quyết định kinh tế trong mối quan hệ với
doanh nghiệp. ở nước ta, trong Quy chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân
ban hành kèm theo Nghị định số 07/CP ngày 29/1/1994 của Chính phủ đã chỉ rõ “Sau
khi có xác nhận của kiểm toán viên chuyên nghiệp thì các tài liệu, số liệu kế toán và báo
cáo quyết toán của các đơn vị kế toán là căn cứ cho việc điều hành, quản lý hoạt động ở
đơn vị, cho các cơ quan quản lý cấp trên và cơ quan tài chính nhà nước xét duyệt quyết
toán hàng năm của các đơn vị kế toán, cho cơ quan thuế tính toán số thuế và các khoản
phải nộp khác của đơn vị đối với ngân sách Nhà nước, cho các cổ đông, các nhà đầu tư,
các bên tham gia liên doanh, các khách hàng và các tổ chức, cá nhân xử lý các mối quan
hệ về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan trong quá trình hoạt động của đơn
vị”.

phân tích. Việc thực hiện các phương pháp này một phần tuỳ thuộc vào thời gian thu thập
các bằng chứng kiểm toán.
4
Xác định phạm vi kiểm toán có ý nghĩa quan trọng, mà trước hết các đơn vị được
kiểm toán cần có những hiểu biết nhất định về kiểm toán, yêu cầu của kiểm toán và việc
các kiểm toán viên tiến hành các thủ tục kiểm toán mà họ cho là cần thiết theo đó tạo
điều kiện, cung cấp đầy đủ cho kiểm toán viên. Việc các đơn vị được kiểm toán không
thực hiện đúng các thoả thuận trong hợp đồng kiểm toán, lẩn tránh trách nhiệm hoặc từ
chối cung cấp những thông tin, bằng chứng cần thiết, hay ngăn chặn công việc của kiểm
toán viên đều dẫn đến việc phạm vi kiểm toán bị giới hạn, trong trường hợp này, nếu
kiểm toán viên không thể thực hiện được các thủ tục kiểm toán thay thế khác một cách
hợp lý, khi đó cần đưa ra ý kiến từ chối. Tuy nhiên đôi khi do hạn chế về thời gian, hoàn
cảnh cũng có thể dẫn đến phạm vi kiểm toán bị giới hạn. Trong những trường hợp như
vậy, kiểm toán viên phải cố gắng tìm ra các phương pháp hợp lý để thu thập được các
bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp để có thể nêu ý kiến “chấp nhận toàn bộ”
trong báo cáo kiểm toán. Nếu không, tuỳ theo tính chất, mức độ trọng yếu và các bằng
chứng bổ sung mà kiểm toán viên đánh giá mức độ cần thiết đề đưa ra ý kiến phù hợp.
3) Thực trạng của hoạt động kiểm toán độc lập
Hoạt động kiểm toán độc lập Việt Nam ra đời năm 1991 và ngày càng thể hiện vai
trò quan trọng trong nền kinh tế. Nếu năm 1991 chỉ có 2 công ty kiểm toán độc lập và 15
nhân viên thì đến nay cả nước đã có hơn 136 công ty với hơn 5 nghìn nhân viên, cung
cấp hơn 20 loại dịch vụ nghề nghiệp cho khách hàng.
Tuy nhiên, trong đội ngũ kiểm toán viên nước ta hiện nay chỉ có hơn 888 kiểm
toán viên hành nghề có chứng chỉ kiểm toán viên (thống kê của Hội Kiểm toán viên hành
nghề Việt Nam - VACPA), trong số đó chỉ có khoảng 300 người có chứng chỉ kiểm toán
viên quốc tế. Tính bình quân mỗi công ty kiểm toán mới chỉ có 6,5 kiểm toán viên có
chứng chỉ. Có một số công ty kiểm toán chỉ có 3 kiểm toán viên với vỏn vẹn 6 khách
hàng.
Từ năm 2006 trở lại đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng
khoán, môi trường kinh tế của Việt Nam càng đòi hỏi tính minh bạch trong thông tin tài

Về việc phát triển năng lực của các công ty kiểm toán độc lập, nhiều chuyên gia
cũng có ý kiến, nên liên kết các công ty kiểm toán thành những doanh nghiệp lớn có quy
mô nhất định về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, loại hình dịch vụ. Ngoài ra, một doanh
nghiệp kiểm toán có thể trở thành thành viên của một hãng kiểm toán lớn, chẳng hạn như
VACO, điều này sẽ giúp quảng bá và thúc đẩy hình ảnh của thương hiệu rất nhiều.
6
Một hạn chế lớn khác xuất phát từ nhận thức, các doanh nghiệp chưa hiểu rõ được
vai trò của kiểm toán trong chiến lược phát triển lâu dài của mình. Hiện tại, có tới 60%
khách hàng của các công ty kiểm toán trong nước là kiểm toán theo luật định. Thị phần
khách hàng tự nguyện đã tăng lên nhưng chưa đáng kể. Nhiều doanh nghiệp vẫn có khái
niệm "bị kiểm toán" chứ không phải là "được kiểm toán", vì vậy, cần thúc đẩy tuyên
truyền về lợi ích của các hoạt động của kiểm toán bằng nhiều kênh khác nhau.
Hạn chế thứ ba là môi trường pháp lý đối với kiểm toán độc lập chưa được hoàn
thiện. Khuôn khổ pháp lý cho hoạt động kiểm toán độc lập hiện nay là rất thấp, chủ yếu
dựa trên Nghị định số 07/CP, đã ra đời từ cách đây 13 năm, Quyết định số 76/2004/TT-
BTC và Quyết định 87/2005/QĐ-BTC. Vì vậy, nhiều ý kiến cho rằng nên ban hành luật
kiểm toán độc lập, các doanh nghiệp kiểm toán bắt buộc đề phòng những gian lận kiểm
toán khi có sự thông đồng giữa doanh nghiệp được kiểm toán và các doanh nghiệp kiểm
toán.
III. Một số vấn đề chủ yếu về kiểm soát chất lượng kiểm toán độc lập ở Việt
Nam
Đối với hoạt động kiểm toán, kiểm soát chất lượng kiểm toán có thể được hiểu là
một hệ thống chính sách và biện pháp để nắm bắt và điều hành hoạt động kiểm toán đạt
chuẩn mực chung. Hệ thống chính sách và biện pháp đó bao gồm: quan điểm về kiểm
soát, hệ thống các quy định nghiệp vụ kiểm toán và kiểm soát, cơ cấu tổ chức bộ máy
kiểm soát, chính sách về nhân sự, các hoạt động kiểm tra, soát xét, thu thập thông tin, xác
nhận... Kiểm soát chất lượng kiểm toán được thực hiện trong toàn bộ quá trình kiểm toán
của một cuộc kiểm toán, do nhiều cấp độ kiểm soát tiến hành, với nhiều phương pháp
kiểm soát khác nhau.
Mục tiêu chung của kiểm soát chất lượng kiểm toán là nhằm hỗ trợ bộ phận kiểm

kiểm toán được bảo đảm, từ đó củng cố được niềm tin của các doanh nghiệp và các nhà
đầu tư vào chất lượng kiểm toán và đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên. Ngược lại,
nếu chất lượng kiểm toán không được kiểm soát, hoặc kiểm soát không có hiệu quả thì
niềm tin của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư vào chất lượng kiểm toán và đạo đức
nghề nghiệp của kiểm toán viên khó tránh khỏi sự lung lay.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220 “Kiểm soát chất lượng hoạt động
kiểm toán”: Chất lượng hoạt động kiểm toán là mức độ thoả mãn của các đối tượng sử
dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của kiểm
8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status