Đề án môn học Kiểm toán Khoa Kế toán
LỜI MỞ ĐẦU
* * *
Cùng với sự phát triển và tiến bộ của xã hội, cơ chế thị trường ra đời đã làm
cho các hoạt động tài chính và sở hữu ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp. Vì
thế chức năng kiểm tra của kế toán dần dần không đáp ứng được nhu cầu của
người sử dụng thông tin và kiểm toán ra đời là một tất yếu khách quan. Từ khi xuất
hiện, ngành kiểm toán liên tục phát triển cả về lý luận, thực tiễn và ngày càng có
vai trò quan trọng, khẳng định mình là một môn khoa học, một lĩnh vực nghiên cứu
riêng. Cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực
vươn lên từ chính bản thân mình. Điều này đòi hỏi các nhà quản trị phải có những
quyết định và phương pháp quản lý đúng đắn để bảo đảm cho việc kinh doanh có
hiệu quả. Đó cũng là lý do xuất hiện loại hình kiểm toán nội bộ (KTNB). Với sự
hiện diện của mình, KTNB giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp có đầy đủ các
thông tin chính xác về tình hình hoạt động của doanh nghiệp mình, về các báo cáo
tài chính được lập cũng như nhiều báo cáo khác để làm cơ sở cho việc quản trị
doanh nghiệp.
KTNB tuy là một lĩnh vực mới mẻ nhưng đó là một trong những công cụ hữu
hiệu và có vai trò hết sức to lớn trong việc đánh giá tính chính xác của các báo cáo
tài chính, kiểm toán tính tuân thủ, hoạt động trong doanh nghiệp, taọ niềm tin cho
những người sử dụng thông tin và là cơ sở để ra các quyết định của nhà quản trị.
Trước đây có quan điểm cho rằng hoạt động kiểm toán nội bộ là sự mở rộng
công việc của kiểm toán viên bên ngoài. Thực tế, trong nhiều trường hợp, chương
trình kiểm toán nội bộ do kiểm toán viên bên ngoài đặt ra và trực tiếp sử dụng đẻ
phục vụ nhu cầu của kiểm toán bên ngoài. Hiện nay, tuy có một số mặt quan tâm
chung, nhưng những ưu tiên của kiểm toán nội bộ và kiểm toán bên ngoài lại rất
Đào Thị Nhung 1 Kiểm toán 46b
Đề án môn học Kiểm toán Khoa Kế toán
khác nhau. Kiểm toán viên bên ngoài có trách nhiệm chủ yếu với các bên, ngoài tổ
chức khách hàng, còn kiểm toán viên nội bộ thì chịu trách nhiệm chủ yếu với tổ
chức. Kiểm toán viên bên ngoài quan tâm đặc biệt đến sự đúng đắn của báo cáo tài
đời muộn hơn, bắt đầu từ năm 1940 mới xuất hiện khái niệm KTNB. Nhưng nó có
sự phát triển rất mạnh mẽ đặc biệt trong công việc quản trị doanh nghiệp. Các đơn
vị kiểm toán cơ sở phát hiện ra rằng hệ thống KTNB là phương tiện quản lí có hiệu
quả và là công cụ đắc lực giúp các nhà quản lí giám sát được toàn bộ hoạt động của
đơn vị mình. Không những thế, trong các cơ quan nhà nước việc hình thành các bộ
phận KTNB để kiểm tra thường xuyên các hoạt động trong cơ quan đang tỏ ra có
nhiều tác dụng thiết thực.
Với sự lớn mạnh và gia tăng quy mô các doanh nghiệp vài thập niên gần đây,
tầm quan trọng KTNB cũng lớn mạnh một cách tương ứng, làm cho nó trở thành
yếu tố chính trong việc thiết lập hệ thông kiểm soát và kiểm tra nội bộ.ở một số
nước, cơ quan lập pháp đã đưa ra những văn bản pháp luật nhằm tạo ra hành lang
pháp lí để tạo điều kiện cho KTNB hoạt động và phát triển. Bộ phận KTNB đã
phát triển mạnh ở Mỹ cũng như ở châu Âu từ những năm 60. Sự phát triển này đă
được khuyến khích bởi sự thành lập của trường đào tạo kiểm toán nội bộ (IIA) năm
1941 tại New York, tổ chức này đã xác định bản chất, mục tiêu và phạm vi hoạt
động của bộ phận KTNB. Tiếp đó là sự xuất hiện của Hiệp hội kiểm toán viên nội
bộ ở Pháp từ năm 1965 và sau đó trở thành Viện nghiên cứu của kiểm toán viên và
Đào Thị Nhung 3 Kiểm toán 46b
Đề án môn học Kiểm toán Khoa Kế toán
kiểm toán viên nội bộ của Pháp (IFAC) vào năm 1973. Phổ biến ở các nước, việc
trao đổi kinh nghiệm và bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán nội bộ đã được thực hiện ở
các hiệp hội kế toán viên.
Ở Việt Nam, theo quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với
doanh nghiệp Nhà nước, ban hành kèm theo Nghị định 59/CP ngày 03 tháng 10
năm 1996 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định
27/CP-1999) báo cáo tài chính hàng năm của doanh nghiệp nhà nước phải được
kiểm tra, xác nhận của kiểm toán độc lập hoặc kiểm toán nội bộ. Như vậy quy đinh
này đã bước đầu tạo hành lang pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của kiểm
toán nội bộ. Đến ngày 28 tháng 10 năm 1997 Bộ trưởng Bộ tài chính ký Quyết
định số 832/TC/QĐ/CĐKT ban hành Quy chế kiểm toán nôi bộ - kiểm toan nội bộ
của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, chức năng của KTNB hiện đại là
đánh giá độc lập hệ thống kiểm soát nội bộ, nhưng chức năng truyền thống của
KTNB là xem xét, đánh giá độ tin cậy, thống nhất của các thông tin tài chính và
hoạt động, đánh giá việc sử dụng tiết kiệm, hữu ích, có hiệu quả vốn và tài sản
doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc quy định chức năng, nhiệm vụ cho KTNB cần
phải xem xét phù hợp với điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng khu vực kinh tế,
từng ngành và từng đơn vị.
1.1.2.3. Nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ
Về cơ bản, nhiệm vụ của KTNB bao gồm các nhiệm vụ sau:
- Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ, tài liệu, số liệu kế
toán, việc chấp hành chế độ, thể lệ kế toán tài chính của nhà nước.
Đào Thị Nhung 5 Kiểm toán 46b
Đề án môn học Kiểm toán Khoa Kế toán
- Kiểm tra và xác nhận mức độ trung thực, hợp lí của báo cáo quyết toán
do kế toán và các bộ phận khác trong DN lập ra.
- Kiểm tra xác nhận giá trị vốn góp của DN và các đối tác tham gia liên
doanh với DN. Kiểm tra xác nhận tính trung thực, hợp lí, đầy đủ của số
liệu kế toán và báo cáo quyết toán của đơn vị liên doanh.
- Kiểm tra tính hiệu quả và tính pháp lí của hệ thống kiểm soát nội bộ
trong đó có hệ thống kế toán. Giám sát sự hoạt động và tham gia hoàn
thiện chúng.
- Kiểm tra tính hiệu quả và tính pháp lí của quy chế kiểm soát nội bộ,
đồng thời có kiến nghị hoàn thiện các quy chế này.
Thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ trên, KTNB có trách nhiệm hướng
dẫn nghiệp vụ cho cán bộ kế toán và các cán bộ nghiệp vụ khác có liên quan, đề
xuất các quyết định quản lí, xử lí về tài chính kế toán và các nội dung xử lí khác.
1.1.2.4. Quyền hạn của kiểm toán nội bộ
Do đặc trưng của KTNB là kiểm tra, xác minh tính đúng đắn của các báo cáo
tài chính trong doanh nghiệp, tính tuân thủ và hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp nên KTNB có những quyền hạn riêng để đảm bảo mục đích hoạt động.
trong doanh nghiệp. Ngoài ra, KTNB cũng tiến hành các nội dung kiểm toán tuân
thủ để xem xét việc chấp hành các chính sách, qui định của doanh nghiệp.
1.2. Sự phối hợp giữa kiểm toán nội bộ với kiểm toán viên bên ngoài
1.2.1. Sự cần thiết phải phối hợp
Trên thực tế, doanh nghiệp được cung cấp những dịch vụ kiểm toán chính từ
hai nguồn khác nhau – kiểm toán viên nội bộ và kiểm toán viên bên ngoài – điều
Đào Thị Nhung 7 Kiểm toán 46b
Đề án môn học Kiểm toán Khoa Kế toán
này đã tạo ra sự trong dợi là có những mối quan hệ qua lại làm cơ sở cho sự phối
hợp mà người ta mong muốn. Cho dù một loại hình dịch vụ kiểm toán là do kế
toán viên độc lập của Nhà nước thực hiện còn loại hình kia do các nhân viên thuộc
phòng kiểm toán nội bộ của bản thân doanh nghiệp đảm nhận, nhưng cả hai nỗ lực
kiểm toán đều phải xử lý hồ sơ và nhân sự của cùng một công ty. Do đó, khả năng
trùng lặp không cần thiết về cố gắng hoặc những yêu cầu quá mức đối với phòng
nhân sự là không tránh được. Đồng thời, cũng thường có khả năng tiềm tàng là
toàn bộ nỗ lực kiểm toán có thể, trong chừng mực nào đó, được hợp nhất theo một
cách thức để đáp ứng có hiệu quả hơn những mục tiêu và mục đích lớn hơn của
doanh nghiệp. Vì vậy, chúng ta cần biết rõ hơn những mục đích ban đầu của từng
nhóm kiểm toán và việc đạt được những mục đích này có thể liên quan như thế nào
tới, một cách gián tiếp hoặc trực tiếp, những mối quan tâm chung. Chúng ta cũng
cần biết nhiều hơn về những mối quan tâm chung này và làm thế nào để có thể
thoả mãn được chúng một cách tốt nhất thông qua những kiểu phối hợp đặc biệt.
1.2.2. Cơ sở của sự phối hợp hiệu quả
1.2.2.1. Những mối quan tâm ban đầu và thứ yếu
Sự phối hợp hiệu quả của kiểm toán viên (KTV) nội bộ và KTV bên ngoài
khởi đầu cùng với sự hiểu biết về những mối quan tâm ban đầu và thứ yếu của mỗi
loại kiểm toán viên. Sau đó sự hiểu biết này sẽ là cơ sở cho việc nhìn nhận những
mối quan tâm chung.
Những mối quan tâm ban đầu của kiểm toán viên nội bô.
Kiểm toán nội bộ là chứng năng đánh giá độc lập được thiết lập trong một
nội bộ. Như vậy, mặc dù cả KTV nội bộ và KTV bên ngoài đều có những nhiệm
vụ ban đầu rất khác nhau nhưng họ có mối quan tâm thứ yếu chung về tính đầy đủ
của hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị. Đó là mối quan tâm chung cung cấp cơ
Đào Thị Nhung 9 Kiểm toán 46b
Đề án môn học Kiểm toán Khoa Kế toán
sở hợp lý chủ yếu cho nỗ lực phối hợp hiệu quả giữa hai loại kiểm toán này.
Những mối quan tâm chung thứ yếu khác.
Thực chất của mối quan tâm chính trong hệ thống kiểm soát kế toán nội bộ
không thể phủ nhận những mối quan tâm chung thứ yếu khác. Chẳng hạn, đứng về
lợi ích của toàn bộ công ty, KTV nội bộ quan tâm đến việc tổ chức tìm kiếm dịch
vụ kiểm toán bên ngoài sao cho cung cấp giá trị tốt với giá phí phải trả và tối thiểu
hoá việc can thiệp vào các hoạt động khác đang diễn ra trong đơn vị. KTV nội bộ
có mối quan tâm cơ bản gần giống với KTV bên ngoài khi họ là bất cứ người bán
nào khác cùng với năng lực đặc biệt trong trường hợp có hiểu biết tốt hơn về phạm
vi mà sản phẩm bán đặc thù được cung cấp. Mặt khác, KTV bên ngoài cũng quan
tâm đến lợi ích của công ty, đặc biệt với nghĩa là một khách hàng giàu có thì đó là
một nhân tố quan trọng hơn đối với uy tín và doanh thu của hãng kiểm toán tư
nhân bên ngoài. ở một chừng mực nào đó, KTV bên ngoài cũng biết rằng nhà quản
lý của công ty đó sẽ chờ đợi ở họ lời khuyên trong việc đánh giá tính hiệu quả của
kiểm toán nội bộ, bao gồm cả phạm vi và chất lượng cả các dịch vụ khác nhau của
kiểm toán nội bộ. KTV bên ngoài cũng biết rằng quản lý thường sẽ mong đợi nếu
không nói là đòi hỏi - rằng KTV bên ngoài sẽ đưa ra tất cả sự cân nhắc có thể đối
với công việc của KTV nội bộ trong khi thực hiện công việc kiểm toán của chính
mình. Do đó, tất cả những mối quan tâm thứ yếu này của hai nhóm kiểm toán có
ảnh hưởng đến việc tăng cường thêm mối quan tâm đã có trong những nỗ lực phối
hợp hiệu quả.
1.2.2.2. Thái độ đúng đắn của mỗi nhóm kiểm toán
Mặc dù những mối quan tâm ban đầu và thứ yếu của KTV nội bộ và KTV bên
ngoài đã tạo ra cơ sở phong phú cho việc thiết lập một nỗ lực phối hợp hiệu quả
nhưng mỗi nhóm kiểm toán vẫn cần có thái độ đúng đắn của mình. Những nhà
Đề án môn học Kiểm toán Khoa Kế toán
hoạt động kiểm soát tài chính và việc thoả thuận với KTV bên ngoài về hoạt động
kiểm toán theo thông lệ hàng năm. Tuy nhiên, việc ban hành Luật những hành vi
hối lộ nước ngoài vào năm 1977 đã có xu hưởng nhiều hơn đến giám đốc điều
hành trong những phần việc này. Đặc biệt kết quả của những quy định do Uỷ ban
Chứng khoán và Giao dịch đề xuất đã yêu cầu giám đốc điều hành ký một báo cáo
quản lý trong đó bao gồm việc trình bày về tính đầy đủ của hệ thống kiểm soát kế
toán nội bộ. Tất cả những quy định này có xu hướng ảnh hưởng sâu rộng hơn đến
giám đốc điều hành trong việc giao dịch với KTV bên ngoài và do đó đóng góp
quan trọng trong việc thúc đẩy cách tiếp cận nghiêm túc hơn về tiến trình phối hợp.
Vai trò của Uỷ ban kiểm toán. Uỷ ban kiểm toán, dưới sự lãnh đạo của chủ
tịch uỷ ban kiểm toán (CAC), ngày càng nhận trách nhiệm nhiều hơn về việc tuyển
dụng và thông qua các điều khoản hợp đồng của KTV bên ngoài. Sau đó, Uỷ ban
kiểm toán cũng có vai trò tích cực hơn trong việc phối hợp các nỗ lực của kiểm
toán nội bộ và kiểm toán bên ngoài. Điều này không có nghĩa rằng vai trò của các
bên liên quan khác là không cực kỳ quan trọng. Nhưng sự tham gia của uỷ ban
kiểm toán có uy tín lớn - đặc biệt là chủ tịch uỷ ban kiểm toán - và mối quan tâm
sâu rộng hơn về sự phối hợp hiệu quả đã làm tăng thêm sức mạnh cho việc đạt
được thoả thuận phối hợp một cách tốt nhất có thể.
Tầm quan trọng của việc hiểu biết đúng đắn. Trong tất cả các hoạt động phối
hợp của các quan chức cấp cao của đơn vị đã được trình bày ở trên, việc hiểu biết
đúng đắn của tất cả các cá nhân ngày càng trở nên quan trọng. Đặc biệt cần thiết là
sự hiểu biết về những mối quan tâm ban đầu và thứ yếu của mỗi nhóm kiểm toán
và sự cần thiết phải hoà trộn các nỗ lực kiểm toán đã được phối hợp theo cách thức
cho phép có thể đạt được tất cả các mục tiêu chính. Một điều cũng đặc biệt quan
trọng là các bên liên quan nhận ra sự cần thiết về trình độ nghiệp vụ cao của mỗi
nhóm kiểm toán và sự cần thiết về quan hệ nghiệp vụ ở mức độ tương tự giữa KTV
nội bộ và KTV bên ngoài. Điều này cũng bao gồm việc tiếp tục thừa nhận rằng
Đào Thị Nhung 12 Kiểm toán 46b
Đề án môn học Kiểm toán Khoa Kế toán
1.2.3. Những yếu tố của sự phối hợp hiệu quả
Sự phối hợp giữa KTV nội bộ và KTV bên ngoài có thể được thực hiện dưới
nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, những hoạt động phối hợp này có thể nhóm
thành 11 loại sau:
1. Trao đổi tài liệu kiểm toán.
2. Sự chia sẻ trực tiếp về thông tin.
3. Sử dụng phương pháp luận phổ biến.
4. Hỗ trợ công việc hợp tác.
5. Hợp tác trong đào tạo cán bộ.
6. Triển khai trợ giúp những tài liệu kiểm toán.
7. Lập kế hoạch chung.
8. Phân loại công việc kiểm toán.
9. Tổng hợp các báo cáo kiểm toán.
10.Lập báo cáo chung lên các tổ chức cấp cao hơn.
11.Đánh giá chéo.
1.2.3.1. Trao đổi tài liệu kiểm toán
Kiểu phối hợp cơ bản xoay quanh việc trao đổi tài liệu kiểm toán. Hai tài liệu
chủ yếu là hồ sơ và báo cáo kiểm toán. Những tài liệu này có thể có do KTV nội bộ
và KTV bên ngoài cung cấp cho nhau.
Trao đổi hồ sơ kiểm toán. Đối với hồ sơ kiểm toán, tính sẵn sàng cung cấp
chúng của KTV nội bộ cho KTV bên ngoài là vấn đề ít gây tranh luận nhất và do
đó là phổ biến nhất trong thực tế. Tính logic ở đây là KTV bên ngoài phải kiểm tra
những hồ sơ kiểm toán này ở phạm vi có thể dựa vào công việc của KTV nội bộ.
Đào Thị Nhung 14 Kiểm toán 46b
Đề án môn học Kiểm toán Khoa Kế toán
Hơn nữa, nó thường được nhìn nhận là điều đúng đắn có thể làm cho thông tin trở
nên sẵn có cho KTV bên ngoài mà mặt khác KTV bên ngoài sẽ phải có thêm thời
gian để thu thập với những cách khác nhau. Trong một số trường hợp KTV nội bộ
có thể do dự trong việc công khai hồ sơ kiểm toán mà chất lượng về mặt chuyên
môn của chúng không được như mong muốn, nhưng điều này sẽ là một vấn đề cần
đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của cả hai nhóm.
1.2.3.3. Sử dụng những thủ tục kiểm toán phổ biến
Trong nhiều trường hợp, người ta tin rằng hai nhóm kiểm toán đều mong
muốn rắng nhóm kiểm toán nội bộ sẽ tuân theo những thủ tục kỹ thuật tương tự với
những thủ tục được KTV bên ngoài áp dụng. Những ví dụ phổ biến nhất về điều
này là những thủ tục kiểm toán được áp dụng trong những phần riêng của toàn bộ
nỗ lực kiểm toán và sự sắp xếp những hồ sơ kiểm toán có liên quan. Sự hợp lý ở
đây là tất cả những thủ tục này đã làm cho KTV bên ngoài dễ dàng hơn trong việc
xem xét và sử dụng công việc của KTV nội bộ.
Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng những thủ tục phổ biến này chỉ là yếu tố
tương đối không quan trọng và dựa nhiều hơn vào năng lực nghề nghiệp cơ bản.
Trong bất kỳ tình huống nào, các mục tiêu của KTV nội bộ là rộng hơn so với
những mục tiêu của KTV bên ngoài và ở điểm nào đó cấn có sự tiếp cận khác nhau
đối với những nhiệm vụ kiểm toán riêng rẽ này. Ở một mức độ nào đó các thủ tục
phổ biến này có thể là hữu ích đối với những tình huống mang tính tập thể nhưng
sự xét đoán cần phải được kiểm nghiệm trong việc áp dụng thực tế. Tóm lại, nhũng
thủ tục kiểm toán phổ biến là một công cụ được sử dụng cùng với sự cẩn thận và
thận trọng hợp lý.
Đào Thị Nhung 16 Kiểm toán 46b