Quá trình hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) - Pdf 63

Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc và một số giải pháp thúc đẩy hội nhập của Việt Nam
Quá trình hình thành khu vực mậu dịch
tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA)
1.1. Những nhân tố thúc đẩy sự hình thành ACFTA
1.1.1. Sự phát triển mạnh mẽ của các khu vực mậu dịch tự do
(FTA) trên toàn cầu
Nền kinh tế thế giới đã trải qua sự biến đổi cha từng thấy trong nửa cuối những
năm 1990. Đặc biệt, các hoạt động của các tập đoàn đã đợc toàn cầu hoá mạnh mẽ
thông qua đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI), sự sáp nhập và mua lại (M&As) xuyên biên
giới và thông qua các kênh giao dịch quốc tế khác nhau. Cùng với cuộc cách mạng
công nghệ thông tin, luật chơi mới về cạnh tranh đã đợc thiết lập ở các lĩnh vực nh
kiểm soát quản lý, quản lý công nghệ, nội địa hoá và mối quan hệ giữa các hãng, tìm
kiếm các nguồn lực bên ngoài và sử dụng các chính sách thơng mại quốc tế.
Mục đích và nội dung của các thoả thuận thơng mại u đãi (PTA) cũng đã thay
đổi mạnh mẽ. Trong quá trình hình thành khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA)
và Liên minh Châu Âu (EU) vào nửa đầu những năm 1990, cuộc thảo luận kinh tế về
những quan điểm thuận và chống PTA phần lớn chỉ giới hạn ở những đánh giá mang
tính lý thuyết và chiêm nghiệm về sức sáng tạo thơng mại của J. Viner [1] và các tác
động méo mó của thơng mại. Tuy nhiên, không khí xung quanh ý tởng chủ nghĩa khu
vực đã thay đổi mạnh mẽ vào nửa cuối những năm 1990.
Một đối tác tích cực là EU. Sau khi hoàn thành sự hội nhập sâu sắc giữa các nớc
thành viên, EU bắt đầu đàm phán một loạt khu vực mậu dịch tự do (FTA Free Trade
Area) với một số thành viên của Hội đồng thơng mại tự do Châu Âu (EFTA), với các
nớc Đông Âu và các nớc ven Địa Trung Hải. Các đối tác tích cực khác là những nớc t-
ơng đối nhỏ bao gồm Mehico, Chile và Singapore. Những nớc này đã đàm phán và ký
kết một số FTA với cả những nớc trong khu vực cũng nh những nớc cách xa về địa lý.
Bị kích thích bởi các bớc phát triển này, trong suốt những năm 80, Mỹ đã tích cực theo
đuổi khả năng thành lập khu vực mậu dịch tự do với các nớc khác ở khu vực Châu á -
Thái Bình Dơng. Bớc đi đầu tiên của nớc này là việc đa ra đề nghị thành lập khu vực
mậu dịch tự do với Australia. Năm 1987, Mike Mansfield - đại sứ Mỹ tại Nhật Bản đã
đa ra đề nghị nghiên cứu khả năng thành lập Khu vực mậu dịch tự do Mỹ Nhật Bản.

Costa Rica,
Bolivia, G3.
Canada, Mehico,
Trung Mỹ (Costa Rica,
El Salvador, Honduras,
Guatamela,
Nicaragoa), Venezuela,
Columbia, Equdor,
MERCOSUR,
Peru, Bolivia
Canada và
Mehico
(NAFTA),
Israel, Jordan
Malta, Cyprus,
Andora, Thổ Nhĩ
Kỳ, Thuỵ Sỹ,
Liechtenstein,
Ireland, Norway,
Séc, Hungary, Ba
Lan, Slovak,
Rumania, Bulgaria,
Lithuania, Estonia,
Latvia, Faeroes,
Slovenia, Mehico,
Chile, Palestine,
Tunisia, Israel,
Jordan
Các khu mậu dịch tự do đang đàm phán hay có kế hoạch bắt đầu đàm phán
Mỹ, Mehico,

sẽ có 300 hiệp định mậu dịch tự do song phơng và khu vực có hiệu lực [2]. Chính tổng
giám đốc WTO Sapuchai Panitchpakdhi cũng phải thừa nhận xu thế đàm phán hiệp
định mậu dịch tự do song phơng và khu vực đã trở nên phổ biến, và nghi ngại rằng xu
thế này có thể phá vỡ các hoạt động đa phơng trong khuôn khổ WTO [3].
ở khu vực Đông á, tính đến tháng 12/ 2002 chỉ có 4 khu vực nh vậy đợc ký kết
(tham khảo Phụ lục 1), nhng điều cần nói là xu hớng này mới chỉ xuất hiện ở Đông á
từ năm 1999. Vào cuối năm 1998, Hàn Quốc đã đề nghị Nhật Bản nghiên cứu khả
năng thành lập khu vực mậu dịch tự do giữa hai nớc. Tháng 9/ 1999, Singapore đã nhất
trí với New Zealand về việc bắt đầu đàm phán thành lập khu vực mậu dịch tự do, nớc
này cũng đa ra đề nghị tơng tự đối với các nớc Chile, Mehico và Hàn Quốc. Tháng 10
năm đó, Singapore đã đa ra đề nghị thiết lập quan hệ giữa Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA) với Hiệp định quan hệ kinh tế gần gũi hơn giữa Australia và New
Zealand (CER). Tháng 11 năm đó, Singapore bắt đầu đàm phán với Chile và tháng 12,
nớc này đề nghị đi đến một hiệp định với Nhật Bản.
Chỉ đến năm 1999 và 2000, các cuộc đàm phán và nghiên cứu ở cấp chính phủ
mới thật sự có đợc động lực, và đi tiên phong là Singapore khi nớc này đa ra sáng kiến
đàm phán và nghiên cứu về khu vực mậu dịch tự do với một loạt các nớc khác trong
khu vực. Khái niệm về khu vực mậu dịch tự do đại Đông á (EAFTA) đã đợc đa ra thảo
luận tại Hội nghị thợng đỉnh ASEAN + 3 tổ chức vào tháng 12/ 2000 và các nớc đã đi
đến nhất trí thành lập một nhóm nghiên cứu về vấn đề này. Năm 2001, Singapore và
New Zealand đã đạt đợc thoả thuận và đó là khu vực mậu dịch tự do đầu tiên ở Đông
á phù hợp với Điều 24 của Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT). Tháng
11 năm đó, ASEAN và Trung Quốc đã đi đến thoả thuận về nguyên tắc đối với việc
thành lập 1 khu vực mậu dịch tự do giữa các nớc ASEAN và Trung Quốc trong vòng
10 năm.
Lý do khiến cho hàng loạt FTA nói trên đợc ký kết là bởi lẽ thực tế đã cho
thấy, ở một mức độ nhất định, nguồn lợi mà FTA mang lại cho các quốc gia là rất
lớn:
Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh, các FTA gần nh bao gồm toàn bộ các lĩnh vực
trong quan hệ kinh tế thơng mại giữa các thành viên: không chỉ thơng mại hàng hoá,

FTA ngăn cản tiến trình tự do hoá toàn cầu là khó xảy ra.
Thật vậy, tuy GATT và WTO đề cao nguyên tắc không phân biệt đối xử trong
ngoại thơng nhng vẫn có những điều khoản cụ thể cho phép các thành viên tham gia
FTA, với điều kiện phải thông báo về những FTA đó. Điều 24 của GATT quy định về
việc thành lập và hoạt động của FTA và liên hiệp thuế quan đối với trao đổi hàng hoá.
Điều 5 của GATS (Hiệp định chung về thơng mại và dịch vụ) cho phép lập các FTA về
trao đổi dịch vụ. Ngoài ra còn có một điều khoản đặc biệt cho phép ký kết FTA về trao
đổi hàng hoá giữa các thành viên là nớc đang phát triển. Các quy định này có thể
Đinh Thị Việt Thu - Anh 8, K38C, Đại học Ngoại Thơng - 4
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc và một số giải pháp thúc đẩy hội nhập của Việt Nam
không bắt buộc trong các vụ giải quyết tranh chấp nhng có tác dụng nh là nguyên tắc
ứng xử ở một chừng mực nào đó. Tuy nhiên, còn vợt xa phạm vi của những điều khoản
này là việc không tồn tại bất kỳ một quy định chính sách nào khác đợc quốc tế thừa
nhận. Vì thế, các thoả thuận khu vực có thể chứa đựng hầu hết các vấn đề vợt xa thơng
mại hàng hoá và dịch vụ. Nói cách khác, ở một mức độ nhất định, các FTA có tính bổ
sung cho WTO trong việc tự do hoá thơng mại. Chính vì vậy, giới học giả Nhật cho
rằng các FTA nên theo mô hình WTO cộng, nghĩa là bao gồm nhiều lĩnh vực hơn
và mức độ sâu rộng hơn. Tại Hội nghị thách thức và cơ hội đối với việc hợp tác khu
vực APEC ngày 16/ 5/ 2003 tại Tokyo (Nhật Bản), Đại sứ Singapore tại Nhật Bản cũng
nêu rõ: Tự do hoá thơng mại theo WTO không có đợc nhiều bớc tiến trong những năm
gần đây do WTO có quá nhiều thành viên. Trong bối cảnh nh vậy, các hiệp định tự do
khu vực và song phơng sẽ là cơ chế bổ sung tốt cho tiến trình đa phơng [3]. Nh vậy,
FTA là cách tiếp cận tốt thứ nhì đối với tự do hoá mậu dịch nhng là giải pháp khả thi
nhất trong một thế giới đa dạng. Tuy nhiên, FTA chỉ trở thành những viên đá lát đờng
cho toàn cầu hoá khi nó phải đảm bảo rằng ảnh hởng do thơng mại tăng lên (trade
creation) lớn hơn ảnh hởng do thơng mại giảm đi (trade diversion) [1]. Đến khi đó,
FTA sẽ có thể trở thành một đòn bẩy thúc đẩy chủ nghĩa đa phơng và tự do thơng mại
toàn cầu và cuối cùng, chủ nghĩa khu vực mới sẽ đi vào liên kết kinh tế theo chiều sâu.
Một điểm lợi nữa của FTA là trong quá trình hình thành mạng lới các FTA, mối
liên hệ với đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) và cải cách kinh tế trong nớc đã đặc biệt đợc

nguyên nhân làm chậm tiến trình toàn cầu hoá [4].
Thứ hai, hầu nh tất cả các FTA hình thành trong thời gian gần đây đều có nội
dung toàn diện, không chỉ giải quyết các rào cản tại biên giới quốc gia nh các FTA
truyền thống mà còn bao trùm các lĩnh vực dịch vụ và sở hữu trí tuệ, đặc biệt cả đầu t
và thơng mại điện tử, là những lĩnh vực cha có quy định quốc tế chung. Câu hỏi đặt
ra là liệu các cam kết mang tính ràng buộc trong những lĩnh vực mới đó có thật sự phù
hợp và thuận lợi, hay trên thực tế chúng lại đặt ra những rào cản mới cho các nớc bên
ngoài và tác động tiêu cực đến tiến trình đàm phán đa phơng về các lĩnh vực này.
Ngoài ra, còn phải kể đến những vấn đề truyền thống đặt ra cho FTA nói chung, nhất
là về khả năng tác động giảm bớt thơng mại của các nớc không tham gia FTA.
Thứ ba, nhiều nớc tham gia FTA dờng nh chỉ nhằm mục đích tự vệ để tránh bị
gạt ra ngoài, chứ hoàn toàn không theo 1 chiến lợc bài bản, khiến tình hình FTA nói
chung trên thế giới ngày càng phức tạp, đặc biệt tại Đông á. Nhật Bản và Malaysia
cách đây không lâu còn rất bàng quan, giờ đã trở thành những nớc ráo riết tìm kiếm
FTA song phơng, chủ yếu vì lo ngại các nớc khác có FTA sẽ chiếm mất thị trờng
truyền thống của họ.
Thứ t, mặc dù các FTA song phơng nhìn chung đều mang tính mở cửa hơn so
với WTO, song vẫn không giải quyết đợc những lĩnh vực hoặc những ngành hàng nhạy
cảm của từng nớc. Nông lâm ng nghiệp của Nhật Bản là 1 thí dụ rõ rệt nhất.
Đinh Thị Việt Thu - Anh 8, K38C, Đại học Ngoại Thơng - 6
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc và một số giải pháp thúc đẩy hội nhập của Việt Nam
Nhật Bản đã chọn Singapore làm đối tác đàm phán FTA đầu tiên vì quốc đảo Đông
Nam á này hầu nh không xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp, vậy mà xuất khẩu cá
vàng (gold fish) của Singapore vẫn là một vấn đề lớn trong tiến trình đàm phán giữa 2
nớc. Liên quan đến vấn đề này, cũng cần chỉ ra rằng vì các FTA song phơng thờng đợc
thiết kế sao cho phù hợp với điều kiện cụ thể của hai nớc liên quan, cho nên chúng rất
khó có thể mở cho các nớc khác cùng tham gia, trừ khi là phải xây dựng một hiệp định
mới.
Thứ năm, liên quan đến thơng mại hàng hoá là lĩnh vực quan trọng nhất song
hầu hết các FTA quy định về xuất xứ trong các hiệp định thờng rất khác nhau. Nếu

trởng
1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998*
GDP thực 3.84 9.19 14.24 13.49 12.66 10.55 9.54 8.80 7.80
Lạm phát 3.06 3.54 6.34 14.60 24.20 16.90 8.30 2.80 -0.90
Xuất khẩu 19.20 14.36 18.07 8.76 35.56 24.91 17.93 20.91
Nhập khẩu -13.28 18.47 28.32 34.06 10.38 15.52 19.52 3.73
*: cho đến tháng 11/ 1998
Nguồn: J.Lim, Tăng trởng kinh tế của Trung Quốc và hệ luỵ của nó đối với ASEAN Báo
cáo nghiên cứu của Hệ thống các trung tâm nghiên cứu APEC của Philippines (PASCN), 2001.
Từ bảng trên có thể thấy tốc độ tăng trởng GDP của Trung Quốc tăng khá đều
qua các năm, bình quân đạt 7 8%/ năm, đặc biệt vào năm 1997 1998, trong khi
các nớc Châu á đang điêu đứng vì khủng hoảng thì Trung Quốc vẫn duy trì đợc tốc độ
tăng trởng cao và ổn định. Xuất khẩu và nhập khẩu đều có sự tăng trởng theo hớng cán
cân thơng mại ngày càng nghiêng về phía xuất khẩu. Cùng với sự tăng trởng cao của
GDP và ngoại thơng, tốc độ lạm phát cũng đợc điều tiết khá hiệu quả, giảm dần qua
các năm, cho thấy chính sách quản lý vĩ mô của Trung Quốc rất tốt. Tính chung trong
cả giai đoạn kể từ khi bắt đầu thực hiện chính sách cải cách và mở cửa vào năm 1978
đến năm 2001, tốc độ tăng trởng GDP bình quân của Trung Quốc là 9.3%/ năm, và
tăng trởng thơng mại đạt 15%/ năm. Nói cách khác, trong 23 năm qua, GDP và ngoại
thơng của Trung Quốc đã tăng tơng ứng 8 và 25 lần [6]. Dự trữ ngoại tệ năm 2001 vợt
250 tỷ USD, đứng thứ hai trên thế giới. Cơ cấu ngành nghề biến đổi nhanh: tỷ trọng
nông nghiệp chỉ còn 15% trong GDP, dịch vụ đã lên tới 33.6%; dự trữ lơng thực, dầu
thô tăng đáng kể [7]. Hiện nay, Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 7 thế giới
tính theo tỷ giá hối đoái chính thức, và lớn thứ 2 nếu tính theo sức mua [6]. Nhờ kinh
tế tăng trởng nhanh, Trung Quốc đã giảm mạnh đợc số ngời sống dới ngỡng nghèo
đói. Đồng thời, Trung Quốc đã không chỉ phát triển đợc nền kinh tế của mình mà còn
có nhiều đóng góp đối với các nền kinh tế Châu á. Ví dụ, trong cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ Châu á 1997, Trung Quốc đã không phá giá đồng NDT và do vậy đã giúp
các nớc bị ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tránh đợc tình trạng phá giá để cạnh tranh,
phần nào giúp các nớc nhanh chóng phục hồi sau khủng hoảng.

nhất thế giới. Tính trung bình cả giai đoạn, Trung Quốc thu hút khoảng 45 tỷ USD
vốn/ năm, đứng đầu trong các nớc đang phát triển và đứng thứ hai thế giới, chỉ sau Mỹ
[6].
Sự tăng trởng liên tục của xuất khẩu và đầu t trực tiếp nớc ngoài đã đem lại cho
Trung Quốc một nguồn dự trữ ngoại tệ dồi dào. Tính đến cuối năm 2002, dự trữ ngoại
hối của Trung Quốc đạt 274 tỷ USD, tơng đơng tổng giá trị nhập khẩu của cả nớc
trong 10 tháng, tăng xấp xỉ 30% so với mức 212.1 tỷ USD vào cuối năm 2001 [8].
Đinh Thị Việt Thu - Anh 8, K38C, Đại học Ngoại Thơng - 9
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc và một số giải pháp thúc đẩy hội nhập của Việt Nam
Tính trung bình trong thời gian 5 năm (1997 2002), dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc
đã tăng 104.7%, từ 139.9 tỷ USD lên tới 286.4 tỷ USD, đa nớc này trở thành nớc có
mức dự trữ ngoại tệ lớn thứ hai trên thế giới, sau Nhật Bản [10]. Nguồn dữ trữ ngoại tệ
lớn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với một quốc gia đang phát triển nh Trung
Quốc, nhất là trong thời điểm hiện nay, khi tỷ giá hối đoái của đồng NDT trên thị tr-
ờng thế giới rất thấp và không thể chuyển đổi thành vàng đợc.
Bên cạnh đó, nợ nớc ngoài của Trung Quốc tiếp tục giảm. Tính đến cuối tháng
6/ 2002, số d nợ đứng ở mức 160 tỷ USD. Số tiền gửi tiết kiệm của c dân vào cuối
tháng 10/ 2002 đạt 9,200 tỷ NDT (tơng đơng 1,100 tỷ USD). Tiền gửi của c dân tăng
do thu nhập tăng nhanh: mức GDP bình quân theo đầu ngời của Trung Quốc tăng từ
787 USD năm 1999 lên 853 USD năm 2000 và đạt 961 USD năm 2002 (tăng 6%) [8].
Cùng với Trung Quốc, các nớc ASEAN cũng bắt đầu thực hiện việc nới lỏng
chính sách và các biện pháp tự do hoá trong những năm 1990. ASEAN là tổ chức đầu
tiên tại Đông á thực hiện các FTA khu vực, đầu tiên là dới hình thức PTA rồi sau đó là
khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) để đáp lại các thách thức của các thị trờng
đang đợc toàn cầu hoá nhanh chóng. Tuy khá toàn diện hơn so với PTA, song bản chất
tự nguyện của AFTA tiếp tục gạt ra ngoài những khu vực nhạy cảm về chính trị nh
nông nghiệp và ô tô. Không có bớc tiến hay mục tiêu cụ thể nào đợc đề ra để đạt đợc
ranh giới thời gian 15 năm của AFTA. So với những FTA khu vực khác, nh thoả thuận
dày hơn 1000 trang của NAFTA, AFTA chỉ có 15 trang. Một số những ngời chỉ trích
ban đầu hoài nghi chủ trơng Nhất trí trớc, đàm phán sau (AFTA Agree first, Talk

đạt 97.8 tỷ USD năm 2000 [11].
Đinh Thị Việt Thu - Anh 8, K38C, Đại học Ngoại Thơng - 11
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc và một số giải pháp thúc đẩy hội nhập của Việt Nam
Bảng : Tổng giá trị ngoại thơng của ASEAN (1999 2000)
Đơn vị: triệu USD
Nớc (*)
Xuất khẩu Nhập khẩu
1999 2000
Sự thay đổi
1999 2000
Sự thay đổi
Giá trị % Giá trị %
Bruney 2,240.7 2,169.1 -71.6 -3.2 1,720.4 1,067.6 -652.8 -37.9
Indonesia 48,665.5 62,124.0 13,458.5 27.7 24,003.3 33,514.8 9,511.5 39.6
Malaysia 84,287.9 98,154.5 13,866.6 16.5 63,677.8 79,647.5 15,969.7 25.1
Myanmar 738.0 1,193.8 455.8 61.8 1,883.0 2,219.4 336.4 17.9
Philippines 35,036.9 38,078.2 3,041.3 8.7 30,742.5 31,387.4 644.9 2.1
Singapore 114,625.1 138,352.5 23,727.4 20.7 110,998.0 134,680.1 23,682.1 21.3
Thái Lan 56,110.9 69,254.1 13,143.2 23.4 48,318.0 61,905.8 13,587.8 28.1
Việt Nam 11,541.0 14,308.0 2,767.0 24.0 11,742.0 15,635.0 3,893.0 33.2
Tổng
353,346.0 423,634.0 70,288.0 19.9 293,085.0 360,057.6 66,972.6 22.9
(*): Thiếu số liệu của Campuchia và Lào
Nguồn: Hội nghị lần thứ 15 của Hội đồng AFTA về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN, tháng 9/
2001 (bản tiếng anh), Ban th ký ASEAN (www.aseansec.org).
Mặc dù năm 2000 thơng mại của ASEAN tăng trởng rất khả quan so với thời kỳ
khủng hoảng năm 1997 song bớc sang năm 2001, do ảnh hởng của khủng hoảng kinh
tế ở Mỹ và EU cũng nh sự suy thoái của cờng quốc kinh tế khu vực Nhật Bản, xuất
khẩu của ASEAN năm 2001 giảm xuống còn 366.8 tỷ USD [13].
Năm 2002, mặc dù kinh tế thế giới phục hồi chậm chạp nhng các nền kinh tế

và đang tích cực tham gia vào tất cả các hình thức hợp tác kinh tế khu vực và nỗ lực
nhằm mở những hớng hợp tác khu vực mới với các nớc ASEAN. Gần đây, ASEAN và
Trung Quốc đã dành đợc tiến bộ đáng kể trong việc thực hiện các chơng trình hợp tác
trên các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là thơng mại quốc tế, một động lực to lớn đối với
sự phát triển kinh tế của cả hai bên.
Bảng : Thơng mại song phơng giữa ASEAN và Trung Quốc
Đơn vị: Tỷ USD
Năm
Tổng
kim
ngạch
thơng
mại
Xuất
khẩu
của
Trung
Quốc
sang
ASEAN
Nhập
khẩu
của
Trung
Quốc
từ
ASEAN
Tốc độ tăng trởng (%)
Thị phần của
ASEAN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status