THỰC TRẠNG CỦA QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ - NHỮNG KẾT QUẢ BAN ĐẦU VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN CẦN THÁO GỠ - Pdf 63

Thực trạng của quá trình cổ phần hoá - Những kết
quả ban đầu và những khó khăn cần tháo gỡ
I/ Chủ trơng của Chính phủ trong tiến trình thực hiện cổ
phần hoá trong những năm vừa qua:
1.1.Giai đoạn thí điểm (1992 - 1995):
Chủ trơng Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc đã đợc chính phủ
nêu ra trong quyết định 217/HĐBT ngày 14/11/1987 ở điều 22 : Bộ
tài chính nghiên cứu và cho tổ chức làm thử việc mua bán Cổ phần ở
một số xí nghiệp và báo cáo kết quả lên Hội đồng bộ tr ởng ( nay là
chính phủ) vào cuối năm 1988 . tuy nhiên điều kiện cụ thể lúc bấy
giờ vẫn còn là chế độ bao cấp đối với các doanh nghiệp Nhà n ớc nên
việc thực hiện quyết định không thành công
Đến năm 1990, Chính phủ ra quyết định 143/HĐBT trong đó có
nội dung: Nghiên cứu và làm thử việc chuyển xí nghiệp quốc doanh
tahnhf công ty Cổ phần . Lúc đó lại cha có luật công ty và có sự
thiếu thống nhất về quan điểm nên quyết định này cũng không triển
khai đợc.
Phải đến năm 1992 , vấn đề Cổ phần hoá mới đợc chú ý một cách
đầy đủ và rõ ràng bằng quyết định 202/HĐBT ngày 8/6/1992 của Chủ
tịch Hội đồng Bộ trởng ( nay là Thủ tớng Chính phủ) đã ban hành
Quyết định số 202/CT về thí điểm chuyển một số doanh nghiệp Nhà
nớc thành công ty cổ phần. Sau đó, ngày 4/3/1993 Thủ t ớng Chính
phủ ban hành tiếp Chỉ thị số 84/TTg về việc xúc tiến thực hiện thí
điểm Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc và các giải pháp đa dạng
hoá hình thức sở hữu đối với doanh nghiệp Nhà nớc .
Quyết định số 202/CT đã chọn 7 doanh nghiệp Nhà n ớc làm thí
điểm, đồng thời giao nhiệm vụ cho mỗi Bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh,
Thành phố trực thuộc TW chọn từ 1 đến 2 doanh nghiệp để tổ chức thí
điểm chuyển thành công ty cổ phần.
Sau 4 năm triển khai thực hiện Quyết định số 202/CT và Chỉ thị
số 84/TTg (1992-1996) cả nớc chỉ Cổ phần hoá đợc 5 doanh nghiệp

khăn, nh xí nghiệp Mộc Hà nội, xí nghiệp Đóng tàu thuyền Bình
Định, xí nghiệp Giày Hiệp An, mặc dù không đợc Nhà nớc hỗ trợ
vốn, nhng đã cố gắng khắc phục khó khăn và phát triển sản xuất-kinh
doanh liên tục hàng năm.
Để hỗ trợ cho công tác Cổ phần hoá, trong thời gian này, các cấp
các ngành đã triển khai việc củng cố tổ chức, bổ sung thành viên vào
Ban chỉ đạo Cổ phần hoá ở địa phơng và thành lập các ban chỉ đạo
Cổ phần hoá Chính phủ, trung ơng Đảng, Tổng liên đoàn lao động
Việt Nam.
1.3.Giai đoạn đẩy mạnh Cổ phần hoá (từ 29/6/1998 đến nay)
Trong giai đoạn này, nhờ những chuyển biến thuận lợi về cơ sở
pháp lý mà nổi bật là sự ra đời của Nghị định 44/CP ngày 29/6/1998
và việc thành lập Ban đổi mới quản lý doanh nghiệp TW, con số các
doanh nghiệp Cổ phần hoá đã tăng nhanh so với các thời kỳ tr ớc.
Sau hơn 2 năm thực hiện Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc theo
Nghị định số 44/CP, từ tháng 6/1998 đến hết tháng 8/2000 cả n ớc đã
cổ phần hoá 430 doanh nghiệp đa tổng số doanh nghiệp Nhà nớc đã
thực hiện cổ phần hoá lên 460 doanh nghiệp.
Trong số những doanh nghiệp đã Cổ phần hoá, những doanh
nghiệp thuộc lĩnh vực Công nghiệp và Xây dựng chiếm khoảng
44,2%; Dịch vụ thơng mại chiếm 39,2%; Giao thông vận tải chiếm
9,5%; Nông nghiệp chiếm 4,1% và thuỷ sản chiếm 2%. Hầu hết các
doanh nghiệp đã Cổ phần hoá đều tơng đối nhỏ, những công ty có
tổng số vốn lớn hơn 10 tỷ đồng chiếm khoảng 12%, trong khi các
doanh nghiệp có vốn nhỏ hơn 5 tỷ đồng chiếm đến hơn 50%. Vốn
trung bình của các doanh nghiệp đã Cổ phần hoá chỉ vào khoảng 3,1
tỷ đồng. Đa số các doanh nghiệp thực hiện Cổ phần hoá theo hình
thức thứ 2 nghĩa là bán một phần giá trị vốn của Nhà n ớc nắm giữ
trong doanh nghiệp.
Tính tới thời điểm 31/12/1999, trong số các địa ph ơng thực hiện

cổ phần đều hoạt động có hiệu quả hơn trớc xét tổng thể trên các mặt
doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách, tích luỹ vốnNhiều doanh
nghiệp đã thoát ra khỏi tình trạng nợ nần, phá sản, khắc phục đ ợc
những hạn chế do cơ chế quản lý cũ nh nạn tham nhũng, lãng phí
trong sản xuất, sự thiếu trách nhiệm trong lao động, quản lý trì trệ,
yếu kém
Kết quả hoạt động của 15 doanh nghiệp đã đợc Cổ phần hoá trớc
năm 1998 là rất khả quan. Những lợi ích mà Cổ phần hoá mang lại
cho doanh nghiệp đợc thể hiện rất rõ qua những con số sau:
Báo cáo hoạt động năm 1999 của 20 doanh nghiệp đã Cổ phần
hoá có thời gian hoạt động trên 1 năm cũng cho thấy những số liệu
rất khả quan, cụ thể nh sau:
Doanh thu tăng bình quân gần 2 lần: Điển hình công ty cổ phần
Cơ điện lạnh năm 1999 đạt 178 tỷ đồng, gấp gần 4 lần so với tr ớc khi
Cổ phần hoá ; công ty cổ phần bông Bạch Tuyết năm 1999 đạt 86 tỷ
đồng, gấp 1,5 lần so với trớc khi Cổ phần hoá...
Lợi nhuận tăng bình quân hơn 2 lần, cổ tức bình quân đạt 1-
2%/tháng.
Vốn tăng gần 2,5 lần (bao gồm cả tích luỹ từ lợi nhuận và thu
hút thêm vốn đầu t từ bên ngoài) : Nổi bật là công ty cổ phần chế
biến hàng xuất khẩu Long An vốn tăng 5 lần; công ty cổ phần Việt
Phong vốn tăng 2,4 lần
Ngoài những lợi ích kinh tế kể trên, khi Cổ phần hoá doanh
nghiệp Nhà nớc còn có thêm những lợi ích khác góp phần tích cực
vào việc năng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh:
Thứ nhất: Năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tăng
lên nhờ đợc bổ sung nguồn vốn lu động và đầu t đổi mới công nghệ.
Về nguyên tắc, tất cả số tiền bán cổ phiếu, sau khi trừ đi các chi phí
sẽ đợc điều chuyển để bổ sung vốn, mở rộng sản xuất kinh doanh.
Thứ hai: Doanh nghiệp có quyền chủ động trong sản xuất kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status