CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA
Ở VIỆT NAM
2.1. ĐIỀU KIỆN ĐỂ HÌNH THÀNH SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA
Mặc dù một sở giao dịch có thể thực hiện tốt chức năng như một thị trường hàng
hoá, nhưng những lợi ích tiềm tàng của nó không thể đảm bảo chắc chắn sẽ thành
công. Để có thể thành lập một sở giao dịch hàng hóa thì cần phải hội tụ những điều kiện
nhất định. Đứng trên góc độ những chủ thể trên sở giao dịch là các thành viên sáng lập
sở giao dịch, cơ quan nhà nước, nhà quản lý, điều hành và các tổ chức kinh doanh trên
sở giao dịch hàng hóa, sau đây em xin phân các điều kiện này thành các điều kiện khách
quan và điều kiện chủ quan.
2.1.1. Điều kiện khách quan để hình thành sở giao dịch hàng hóa
Như đã nói ở trên, việc chia các điều kiện là đứng trên góc độ chủ thể của sở
giao dịch hàng hóa, do đó những điều kiện khách quan là những điều kiện tồn tại tất
yếu mà các chủ thể này không thể tác động vào được.
2.1.1.1. Cơ chế thị trường
Chính các yếu tố thị trường chứ không phải sự kiểm soát độc quyền hay là một
sự kiểm soát quá mức cần thiết của nhà nước tố tạo nên giá cả hàng hóa trên sở giao
dịch. Quá kiểm soát thường bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về chức năng và mục đích
của các sở giao dịch hàng hoá. Những can thiệp trên cơ sở quy định của chính phủ
không phải là điều xấu nếu như nó không làm ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của
thị trường. Tuy nhiên sự can thiệp này sẽ trở thành một yếu tố tác động tiêu cực đến thị
trường khi nó làm cho hoạt động thị trường gián đoạn khiến những người tham gia thị
trường khó có thể hoạt động một cách hiệu quả. Và chẳng có một nhà đầu tư nào, kể cả
những đầu tư nhiệt tình nhất lại mong muốn giao dịch trên một thị trường kém hiệu quả
vì bị can thiệp như vậy.
Cũng có những người hiểu sai cho rằng chính những sở giao dịch hàng hóa đã
tạo nên các mức giá, tuy nhiên, những sở giao dịch này chính là một hình ảnh của một
thị trường hàng hoá tự nhiên. Trên thị trường, chính cung và cầu về loại hàng hóa phải
là những yếu tố xác định giá cả chứ không phải là các yếu tố khác. Nếu có nhiều người
mua hơn là người bán thì giá sẽ bị đẩy lên, ngược lại nếu có nhiều người bán hơn người
mua thì giá lại bị đẩy xuống. Lý do để một sở giao dịch tương lai hay một sở giao dịch
Sự sẵn có của thiết bị đánh giá tiêu chuẩn và các nhân viên có kĩ thuật: Một
thiết bị đo phẩm chất một cách chính xác với khả năng cân đo hoặc xác định phẩm chất
một khối lượng hàng hoá nhất định trong suốt mùa giao dịch cao điểm là một yêu cầu
thiết yếu. Cũng giống như ở các sở giao dịch, ở mỗi nhà kho chính của sở cũng cần
phải có các thiết bị riêng. Các nhân viên vận hành có kĩ năng cũng hết sức quan trọng
bởi lẽ kết quả kiểm tra sẽ khác nhau rất lớn nếu như cuộc kiểm tra đó được tiến hành
bởi một người không có những kĩ năng cần thiết.
Hệ thống tiêu chuẩn được chấp nhận: Chính phủ thường đặt ra những tiêu chuẩn
chất lượng không phù hợp với các nhu cầu thương mại. Thêm vào đó, các mùa vụ phục
vụ xuất khẩu lại phải phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Do vậy, nếu như không có
một hệ thống đánh giá tiêu chuẩn chung thống nhất nào mà được tất cả mọi người đều
chấp nhận thì nên tạo ra một hội đồng với những đại điện khác nhau để đánh giá, đưa ra
các tiêu chuẩn.
Việc miêu tả chất lượng và quá trình kiểm tra được chấp nhận không phải là
phục vụ cho sở giao dịch mà là để phục vụ cho những người tham gia vào sở. Những
tiêu chuẩn của nước ngoài có thể là một tham khảo hữu ích chứ không phải là yếu tố
quyết định đối với những hàng hoá xuất khẩu. Thông thường các sở giao dịch thường
có một dach sách các mức phẩm cấp khác nhau, và với các tiêu chuẩn định lượng khác
nhau đối với mỗi loại tiêu chuẩn. Danh sách này phải được những người tham gia chủ
yếu trên thị trường chấp nhận và nếu cần thì phải được xác nhận bởi một cơ quan nhà
nước có thẩm quyền.
Lòng tin của người tham gia thị trường vào giấy chứng nhận phẩm chất: Đối
với những công ty chế biến hay với những thương nhân đã quen với việc tự mình kiểm
tra hàng hoá thì việc chấp nhận phải mua bán thông qua những mô tả về phẩm chất thật
là khó khăn. Chính vì thế để tạo ra lòng tin đối với họ thì hệ thống kiểm định chất
lượng có thể là sự kết hợp giữa các mẫu hàng và các giấy chứng nhận phẩm cấp. Đó là
việc người mua có thể kiểm định xem liệu các giấy chứng nhận có phù hợp với các thực
trạng hàng hoá hay không. Sau một thời gian (có thể chỉ là một vài tháng) thì mọi người
có thể quen dần và bắt đầu mua bán thông qua điện thoại. Khi đã tạo dựng được lòng
tin trên thị trường thì sở giao dịch có thể bỏ qua những mẫu hàng hoá này. Một biện
trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển.
2.1.2. Điều kiện chủ quan để hình thành sở giao dịch hàng hóa
2.1.2.1. Nhu cầu hình thành sở giao dịch hàng hóa
Nhu cầu hình thành sở giao dịch hàng hóa ở đây xuất phát từ chính những
chủ thể tương lai của sở giao dịch, bao gồm từ người sản xuất đến những nhà
nhà kinh doanh, đầu tư lớn. Đây chính là một trong những yếu tố chủ quan hết
sức cần thiết để xây dựng sở giao dịch hàng hóa. Tuy nhiên, để xuất hiện nhu cầu
thì cần phải có những điều kiện nhất định như cung - cầu hàng hóa lớn từ nhiều
đối tượng khác nhau, và các rủi ro giá cả trên thị trường đủ lớn để hình thành
nên nhu cầu bảo hiểm và đủ hấp dẫn thu hút đầu tư.
Cung và cầu hàng hóa lớn: Cần phải có rất nhiều thành viên tiềm năng, và
hàng hoá được giao dịch trên sở giao dịch phải là một bộ phận quan trọng trong
hoạt động của những thành viên tham gia. Đây là một trong những điều kiện
thiết yếu để hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hoá. Bởi lẽ sở giao dịch là
một nơi để tập trung những người mua và người bán về những mặt hàng nhất
định, do đó việc thành lập sở giao dịch hàng hóa sẽ trở nên vô ích nếu như không
có cung và cầu lớn. Điều đó có nghĩa là phải có một lượng lớn những người sẽ
tham gia vào thị trường. Những người tham gia này cũng tùy thuộc vào loại hình
sở giao dịch hàng hóa. Bất cứ sở giao dịch nào cũng đều khó mà hoạt động được
nếu chỉ có người sản xuất hoặc những nhà buôn đơn thuần. Vì vậy, muốn hình
thành sở giao dịch hàng hóa nhất thết phải có được một số lượng lớn những
người tham gia và thuộc nhiều nhóm đối tượng không chỉ những người có nhu
cầu trong nước mà còn phải nỗ lực thu hút sự tham gia những người mua nước
ngoài. Một nhóm khách hàng quan trọng nữa chính là chính phủ và các bộ phận
của chính phủ chuyên chịu trách nhiệm mua hay bán hàng hóa. Ví dụ như sở
giao dịch có thể mời bộ phận chuyên thực hiện hỗ trợ nông nghiệp (như phân
bón, thuốc trừ sâu, ngũ cốc…) để thực hiện đấu giá ở sở giao dịch thay vì phân
phối trực tiếp như trước đây; và có thể thuyết phục những người tiêu dùng hàng
hóa lớn trong khu vực hàng hóa công cộng (như quân đội, bộ giáo dục…) tham
gia mua hàng hóa qua sở giao dịch, việc mua bán này còn có thể giúp góp phần
các sở giao dịch tương lai thì phải có những cơ hội thu lợi lớn từ đó mới thu hút
được những nhà đầu tư này. Những rủi ro biến động giá cả gây thiệt hại cho
người sản xuất, hay người tiêu dùng nhưng lại chính là một nhân tố tạo cơ hội
thu lợi nhuận cho những nhà đầu cơ.
2.1.2.2. Điều kiện cơ sở hạ tầng trang thiết bị
Việc dễ dàng tiếp cận và trang bị đầy đủ cũng là một điều kiện cần thiết, ví dụ
như việc dễ dàng tiếp cận với các trục đường, sự sẵn có các công ty vận tải, những thiết
bị cân cầu đường, dịch vụ quản lý chất lượng, sự quản lý có hiệu quả, kho hàng và
thông tin liên lạc (nếu các nhà kho và các công ty vận tải thuộc quyển kiểm soát của chỉ
một vài công ty và không được sử dụng chung, thì sẽ chỉ nhận được rất ít lợi ích từ một
sở giao dịch hàng hoá). Việc xác định địa điểm để xây dựng sở giao dịch cũng là một
điều kiện quan trọng. Ví dụ đối với các sở giao dịch với những hình thức đấu giá công
khai thì cần phải có đủ không gian cho việc tháo dỡ hàng hoá, kho hàng và vận chuyển
hàng hoá đã được giao dịch, và cần phải có hệ thống đường sá có thể cho phép những
xe tải có trọng tải lớn vận hành. Nếu như sở giao dịch giao dịch hàng hoá trên cơ sở các
loại mẫu hàng hoá thì hàng hoá cần phải được đưa đến địa điểm thu nhận hàng một
cách nhanh chóng. Thêm vào đó trong một thời gian ngắn các phòng thí nghiệm cần
phải kiểm tra đánh giá chất lượng hàng hoá và đưa tới các sàn giao dịch hàng hoá mà có
thể ở rất xa. Do đó tất cả các công việc này có thể diễn ra trong một khung cảnh ồn ào
và bừa bộn do đó sở giao dịch không thể ở gần một khu vực dân cư, nhưng phải có điều
kiện giao thông thích hợp, gần với nguồn cung hàng hoá để giảm thiểu chi phí. Hơn nữa
đối với những hàng hoá được giao dịch để xuất khẩu hay nhập khẩu thì nên xem xét
đến việc đặt các sở giao dịch gần các bến cảng. Tuy nhiên đối với các sở giao dịch hàng
hoá đã áp dụng phương tiện giao dịch điện tử thì việc xác định địa điểm cho sàn giao
dịch là không cần thiết, thay vào đó cần phải có một hệ thống thông tin liên lạc sẵn có.
Và đối với các sở giao dịch bất kể là giao dịch điện tử hay đấu giá đề cần thiết phải có
những yêu cầu máy móc nhất định như: hệ thống điện thoại tốt, các bảng điện tử và một
mạng lưới máy tính kết nối thông suốt, với hệ thống hỗ trợ hiệu quả, mạng lưới cung
cấp điện ổn định.
2.1.2.3. Các chính sách của chính phủ
thời gian này thì việc trao đổi có thể hoàn toàn không mất phí đăng kí, thuế gia
trị gia tăng hay sự đánh thuế nào (ngoài một khoản phí giao dịch rất thấp cho sở
giao dịch). Với các giao dịch tương lai cũng vậy, chỉ những giao dịch giao hàng
thật mới bị đánh thuế. Do đó, việc hoàn thiện hệ thống thuế và các chính sách
thuế liên quan tới sở giao dịch hàng hóa là một trong những điều kiện cần để có
thể hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa.
Các chính sách tiền tệ - ngân hàng: Cần phải nhấn mạnh rằng các chính
sách tiền tệ có thể tác động mạnh đến các chức năng của sở giao dịch hàng hoá.
Nếu lạm phát cao, thì các hợp đồng kỳ hạn về tiền tệ và lãi suất khó có thể được
giao dịch, và hàng hoá được giao dịch bằng đồng nội tệ, bất cứ giao dịch kỳ hạn
nào với kỳ hạn hơn một khoảng từ một đến ba tháng (tuỳ thuộc vào mức tăng và
khả năng dự đoán được của lạm phát) sẽ là hiệu quả cho mục đích tự bảo hiểm
lạm phát, chứ không phải là tự bảo hiểm giá cả hàng hoá: cuối cùng thì giá cả
của hàng hoá lúc kết thúc kỳ hạn được được xác định phụ thuộc vào tỷ lệ lạm
phát hơn là giá trị thực của hàng hoá. Các sở giao dịch hàng hoá ở các quốc gia
có tỷ lệ lạm phát cao do đó sẽ hướng tới những khách hàng liên quan đến thương
nhân hơn là việc sử dụng các hợp đồng giao ngay hoặc có thời hạn ngắn, và
nhóm các ngân hàng và các thể thế tài chính với việc sử dụng các hợp đồng giao
ngay hơn là các hợp đồng kỳ hạn. Việc kiểm soát vốn có thể cũng có tác dụng nếu
họ hạn chế việc các khách hàng tham gia vào các sở giao dịch nội địa; trong
trường hợp này, trong các quy định về các dòng vốn, các chính phủ có thể sẽ đưa
ra một ngoại lệ cho việc lợi nhuận tạo ra trên các sở giao dịch về nước của các
khách hàng nước ngoài
Tại nhiều nước, các quy định không cho phép các ngân hàng tham gia vào các
hoạt động như là buôn bán hàng hoá, cấp tiền bảo chứng cho các nhà tự bảo hiểm, tích
trữ hàng hoá, hay là các gói công cụ trên các sở giao dịch hàng hoá cho các nhà đầu tư.
Những quy định này đều là những rào cản khá lớn cho việc thực hiện các chức năng của
các sở giao dịch hàng hoá; các ngân hàng và các sở giao dịch do đó nên hợp tác để sửa
đối những quy định này.
Chính vì vậy, thông qua các công cụ chính sách này, nhà nước thể hiện sự ủng hộ
chuẩn bị sẵn về việc phổ biến vai trò lợi ích cũng như những nguy cơ tiềm ẩn trên sở
giao dịch từ đó thu hút được những người tham gia có nhu cầu thực sự, với động cơ
chân chính.
2.2. NHỮNG ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN SỞ GIAO DỊCH
HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM
2.2.1. Cơ chế kinh tế của việt Nam
Nền kinh tế Việt Nam kể từ năm 1954 cho đến nay đã trải qua nhiều thời kỳ
phát triển khác nhau. Song tổng quan lại có thể chia ra làm hai giai đoạn lớn với hai
phương pháp tổ chức và quản lỹ nền kinh tế hoàn toàn khác nhau:
Giai đoạn 1954-1986: thực chất giai đoạn này Việt Nam chưa có thị trường hàng
hóa theo đúng nghĩa của nó. Hầu hết những sản phẩm của xã hội đều do nhà nước quản
lý, tổ chức sản xuất hay nhập khẩu cũng đều phụ thuộc vào những quyết định của nhà
nước và sau đó được phân phối theo hiện vật theo nhu cầu của nền kinh tế quốc dân và
đời sống dân cư. Vào giai đoạn này bức tranh nền kinh tế Việt Nam hết sức ảm đạm.
Giai đoạn 1987 đến nay: Sau khi tiến hành một công cuộc Đổi mới toàn diện nền
kinh tế, Việt nam đang chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Bước
ngoặt có ý nghĩa cơ bản là xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung và luôn đi liền với hành
chính quan liêu bao cấp trước đây và thực hiện cơ chế thị trường. Vấn đề độc quyền nhà
nước được xem xét lại và có những thay đổi đáng kể. Nhà nước bắt đầu giảm sự can
thiệp trực tiếp vào sản xuất kinh doanh và vào thị trường nói chung. Đồng thời nhà
nước cũng vạch ra những nguyên tắc nhất định trong việc can thiệp vào thị trường như
sau:
Nguyên tắc thứ nhất: Nhà nước chỉ can thiệp ở tầm vĩ mô và bằng các biện
pháp vĩ mô đối với hoạt động kinh tế nói chung; còn những hoạt động mang tính vi mô,
vốn dĩ là công việc của các chủ thể kinh tế thì để cho họ tự quyết định theo sự dẫn dắt
của các quy luật thị trường và tự chịu trách nhiệm.
Nguyên tắc thứ hai: Nhà nước thực hiện các hành vi can thiệp vào hoạt động
kinh tế phải xuất phát từ hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam, có tính đến yêu cầu hội nhập
quốc tế trong giai đoạn đương đại. Mọi hành vi sao chép một cách máy móc các mô
hình quản lý của nước ngoài mà không tính đến hoàn cảnh và điều kiện đặc thù của Việt
cho các đầu mối.
Đặc biệt trong những nỗ lực để gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, Việt
Nam đã có rất nhiều cam kết nhằm cải cách cơ cấu kinh tế, dần dần hội nhập nền kinh
tế trong nước với các nền kinh tế khác trên thế giới. Việt Nam chấp nhận bị coi là nền
kinh tế phi thị trường trong 12 năm tức là không muộn hơn 31/12/2018. Tuy nhiên,
trước thời điểm trên, nếu ta chứng minh được với đối tác nào là kinh tế Việt Nam hoàn
toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì đối tác đó ngừng áp dụng chế độ “phi thị
trường” đối với ta. Chế độ “phi thị trường” chỉ có ý nghĩa trong các vụ kiện chống bán
phá giá. Và các thành viên WTO không có quyền áp dụng cơ chế tự vệ đặc thù đối với
hàng xuất khẩu nước ta dù ta bị coi là nền kinh tế phi thị trường. Trong những cam kết
này có rất nhiều cam kết liên quan đến những lĩnh vực hàng hóa xuất khẩu góp phần
thúc đẩy việc hình thành sở giao dịch hàng hóa việt Nam. Ví dụ Về trợ cấp phi nông
nghiệp, Việt Nam đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp bị cấm theo quy định WTO
như trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa. Tuy nhiên với các ưu đãi đầu tư dành cho
hàng xuất khẩu đã cấp trước ngày gia nhập WTO, ta được bảo lưu thời gian quá độ là 5
năm (trừ ngành dệt may). Về trợ cấp nông nghiệp, Việt Nam cam kết không áp dụng trợ
cấp xuất khẩu đối với nông sản từ thời điểm gia nhập. Tuy nhiên, ta bảo lưu quyền
được hưởng một số quy định riêng của WTO dành cho nước đang phát triển trong lĩnh
vực này. Đối với loại hỗ trợ mà WTO quy định phải cắt giảm nhìn chung ta duy trì được
ở mức không quá 10% giá trị sản lượng. Ngoài mức này, ta còn bảo lưu thêm một số
khoản hỗ trợ nữa vào khoảng 4.000 tỷ đồng mỗi năm. Các loại trợ cấp mang tính chất
khuyến nông hay trợ cấp phục vụ phát triển nông nghiệp được WTO cho phép nên ta
được áp dụng không hạn chế. Những biện pháp bảo hộ đối với nông dân trước đây nay
đã bị dỡ bỏ, do đo người nông dân lại càng cần cơ một cơ chế thị trường mới để thay
thế những biện pháp này để tránh những rủi ro hay ít nhất là không bị lâm vào tình
trạng bị ép giá hoặc cạnh tranh quá khốc liệt trên thị trường thế giới.
Với những cải cách như vậy, cơ chế thị trường của Việt nam đã cỏ thể cho phép
việc hình thành và phát triển một cơ cấu thị trường hiện đại với nhiều hình thức kinh
doanh không chỉ ở những sở giao dịch hàng hóa hữu hình thông thường mà ngay cả với
những sở giao dịch tương lai về hàng hóa.
Trong những năm vừa qua Việt Nam đã khẳng định được vị thế của Việt Nam
trên trường quốc tế và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới với việc trở
thành thành viên thứ 150 của WTO, được bầu làm ủy viên không thường trực của hội
đồng bảo an liên hợp quốc… Nhờ vậy mà uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày
càng gia tăng và thu hút mối quan tâm ngày càng lớn của các nhà đầu tư. Bằng chứng là
việc thu hút FDI của Việt Nam trong những năm vừa qua tăng nhanh và năm 2007 đã