LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỔNG QUAN VỀ BHXH
1. Khái niệm BHXH
Cho đến nay, hầu như chưa có một định nghĩa chính thống về BHXH.
Mặc dù, gần đây trong một số xuất bản phẩm các tác giả đã đề cập đến khái
niệm này. Đã hơn 100 năm nay, các nước trên thế giới có xu hướng chung là
thực hiện hệ thống an toàn xã hội mà trong đó BHXH chỉ là một trong các cơ
chế chủ yếu. Do vậy, thường tập trung vào định nghĩa về an toàn,còn BHXH chỉ
được phân biệt với các cơ chế khác trong hệ thống bằng những đặc trưng cơ bản
của BHXH.
Trong tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua
ng y 10/12/1948 có à đoạn viết: “Tất cả mọi người với tư cách l th nh viênà à
của xã hội có quyền hưởng BHXH. Quyền đó đặt trên cơ sở sự thoã mãn các
quyền về kinh tế, xã hội v và ăn hoá cần cho nhân cách v sà ự tự do phát triển
của con người ...”
Theo Tổ chức lao động thế giới gọi tắt l ILO, BHXH à ở đây được hiểu
l sà ự bảo vệ của xã hội đối với các th nh viên cà ủa mình thông qua một loạt
biện pháp công cộng (bằng pháp luật, trách nhiệm của Chính phủ) để chống
lại tình trạng khó khăn về kinh tế v xã hà ội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập
gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi gi , t n tà à ật, chết; thêm v o à đó
BHXH bảo vệ việc chăm sóc y tế, sức khoẻ v trà ợ cấp cho các gia đình.
BHXH được định nghĩa như vậy phản ánh tổng quát về mục tiêu, bản
chất v chà ức năng của sự nghiệp n y. BHXH có mà ục đích cuối cùng là
hướng tới sự phát triển của mỗi cá nhân v to n xã hà à ội, thể hiện sự gắn kết
quyền lợi v trách nhià ệm của các cá nhân trong cộng đồng v cà ủa to n xã hà ội
với mỗi người.
BHXH l mà ột trong những quyền cơ bản của con người trong một xã
hội hiện đại v mà ục tiêu cao cả nhất của nó l vì sà ự an to n, phòng tránhà
được hậu quả về những tổn thất, thất bại gây ra bởi những rủi ro trong cuộc
sống hay trong quá trình lao động. BHXH hướng tới sự phát triển, sự đảm
bảo tốt nhất cho con người, góp phần quan trọng v o tà ạo lập sự ổn định và
nhập thì có được những khoản trợ cấp nhất định để sinh sống.
Xã hội ng y c ng phát trià à ển trên mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá và
xã hội; L mà ột lĩnh vực mang tính xã hội, BHXH ng y c ng à à đòi hỏi phải
được nhận thức sâu rộng hơn. Ngo i vià ệc nêu lên phạm vi, mức độ thức hiện
các chế độ của BHXH thì vai trò của các nhân tố, các bên tham gia, phương
thức tổ chức v thà ực hiện quá trình bảo hiểm cũng c ng ng y phân à à định rõ
hơn. Đó l quá trình tià ến tới thoả mãn tốt hơn nhu cầu của con người về
BHXH.
2. Bản chất của BHXH
2.1. Về phương diện cá nhân, BHXH l mà ột nhu cầu khách quan của con
người.
BHXH l mà ột nhu cầu khách quan, đa dạng v phà ức tạp, nó nhằm đảm
bảo an to n và ề kinh tế, giữ cho cuộc sống ổn định, an to n, tránh à được đói
nghèo sa sút khi bị mất nguồn thu nhập trong cuộc sống. Đó chính l các nhuà
cầu về BHXH v cà ũng l nhà ững nhu cầu tự nhiên trong hệ thống các nhu cầu
về cuộc sống của con người. Điều n y xuà ất phát từ nhu cầu cần thiết để đảm
bảo các tiêu chuẩn hay giá trị cho một cuộc sống tối thiểu. Theo nh nghiênà
cứu tâm lý v h nh vi cà à ủa con người Maslow, nhu cầu BHXH nằm trong nhóm
nhu cầu ở bậc thiết yếu cùng với các nhu cầu về điều kiện sinh tồn khác là
ăn, ở, mặc v à đi lại mức tối thiểu nhất. BHXH cần phải được đảm bảo trước
khi thoả mãn các nhu cầu xã hội khác rộng hơn trong đời sống con người.
BHXH thực sự l mà ột nhu cầu bức thiết. C. Mác đã từng viết “Vì nhiều
rủi ro khác nhau nên phải d nh mà ột số thặng dư nhất định cho quỹ BHXH để
mở rộng theo kiểu luỹ tiến quá trình tái sản xuất ở mức độ cần thiết, phù hợp
với sự phát triển của nhu cầu v tình hình tà ăng dân số”. BHXH thoả mãn các
nhu cầu về đảm bảo cuộc sống như đã trình b y à ở trên, BHXH còn l cà ần
thiết để tái sản xuất sức lao động, một trong những tiền đề quan trọng nhất để
tái sản xuất xã hội.
2.2. Dưới góc độ kinh tế:
BHXH l mà ột phạm trù kinh tế tổng hợp. Trong đó: đối với những
bảo vệ v phát trià ển nguồn lao động xã hội, mở rộng sản xuất, phát triển kinh
tế, ổn định trật tự xã hội nói chung. BHXH mang tính nhân văn, nhân đạo sâu
sắc vì lợi ích của con người trong những ho n cà ảnh gặp khó khăn, vì an to nà
xã hội v có ý nghà ĩa xã hội lâu d i. Mà ối quan hệ giữa các bên trong BHXH
phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động v dià ển ra giữa 3 bên: bên tham gia, bên
BHXH v bên à được BHXH.
Như vậy, tổ chức v và ận h nh mà ột hệ thống BHXH phải đứng trên một
quan điểm tổng thể, to n dià ện. BHXH không thể tách khỏi một thể chế chính
trị nhất định v phà ải dựa trên nền tảng kinh tế cụ thể. BHXH không phải là
loại hình bảo hiểm cá nhân hay cá nhân tự bảo hiểm m à đó l sà ự bảo hiểm
đặt trong những r ng buà ộc giữa những con người với nhau trong những mối
quan hệ nhất định trong cộng đồng mặc dù xuất phát điểm bao giờ cũng là
nhu cầu của mỗi con người. BHXH gắn liền với những biến cố l m già ảm hoặc
mất khả năng lao động, mất việc l m, à đó có thể l nhà ững rủi ro ngẫu nhiên:
ốm đau, tai nạn lao động ... nhưng cũng có thể l nhà ững trường hợp xảy ra
ho n to n không ngà à ẩu nhiên như: tuổi gi , thai sà ản. Đồng thời những biến cố
đó có thể xảy ra cả trong v ngo i quá trình lao à à động. Sự giảm hoặc mất khả
năng lao động l m già ảm hoặc mất thu nhập, phần thu nhập n y sà ẽ được bù
đắp hoặc thay thế từ nguồn quỹ tiền tệ tập trung do các bên tham gia đóng góp.
3. Sự cần thiết v tác dà ụng của BHXH
3.1. Sự cần thiết của BHXH:
Con người muốn tồn tại v phát trià ển luôn cần phải thoả mãn các nhu
cầu tối thiểu về vật chất v tinh thà ần v à để thoả mãn các nhu cầu đó con
người phải lao động, sáng tạo sản xuất ra các sản phẩm. Mặt khác, con người
ai cũng phải trải qua các giai đoạn phát triển của đời người đó l : sinh ra, là ớn
lên, trưởng th nh v chà à ết. Trong các giai đoạn sinh, lão, bệnh tử của con
người thì không ai có thể tồn tại độc lập khỏi sự giúp đỡ, chia sẻ của những
người xung quanh. Cuộc sống không phải lúc n o cà ũng diển ra bình thường,
con người không phải bao giờ cũng gặp thuận lợi, có đủ thu nhập v à điều
kiện sinh sống m trái là ại rủi ro luôn đi kèm với con người. Trong nhiều
quỹ tiền tệ. Khi người lao động gặp rủi ro, bên trung gian sẽ chi trả theo cam
kết không phụ thuộc v o già ới chủ có muốn hay không, l m nhà ư thế một mặt
giới chủ đỡ khó khăn về mặt kinh tế do không phải chi trả một lúc những
khoản tiền lớn, mặt khác người lao động l m thuê cà ũng được đảm bảo một
phần thu nhập khi họ gặp rủi ro. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện thì cơ
chế n y bà ộc lộ nhiều bất cập, tính pháp lý không cao. Do vậy, nhiều chủ sử
dụng lao động đã không tự giác tham gia, tính chất rủi ro còn quá lớn không có
sự đảm bảo về t i chính mà ột cách vững chắc. Trước tình hình đó, Nh nà ước
phải can thiệp điều chỉnh, sự can thiệp n y mà ột mặt l m tà ăng vai trò của Nhà
nước, một mặt Nh nà ước phải tăng chi tiêu ngân sách, đồng thời buộc giới
chủ v thà ợ phải góp thêm một phần để đảm bảo cho chính mình. Từ đó, cả
giới chủ v thà ợ đều được đảm bảo v hà ọ thấy có lợi. Các nguồn đóng góp
của giới chủ, thợ v sà ự hỗ trợ của Nh nà ước hình th nh nên mà ột quỹ tiền tệ
tập trung- quỹ BHXH.
Mặt khác, khi nền kinh tế ng y c ng phát trià à ển những rủi ro đi liền với
nó cũng xuất hiện như thất nghiệp, tai nạn lao động, ốm đau, những rủi ro n yà
gây ra thiệt hại về thu nhập ng y c ng là à ớn hơn. Do vậy, BHXH cũng ng yà
c ng phà ải ho n thià ện hơn để thích ứng với tình hình cụ thể.
Như vậy, BHXH ra đời l mà ột đòi hỏi khách quan của thực tế v ng yà à
c ng phát trià ển cùng với sự phát triển của nền kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia,
mọi th nh viên trong xã hà ội đều thấy cần thiết phải tham gia BHXH, nó trở
th nh quyà ền lợi v nhu cà ầu của người lao động v à được thừa nhận l nhuà
cầu tất yếu khách quan, một trong những quyền lợi cơ bản của con người như
Tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ng yà
10/12/1948: “Tất cả mọi người, với tư cách l th nh viên cà à ủa xã hội đều có
quyền được hưởng BHXH ...”
3.2. Tác dụng của BHXH.
Trên cơ sở cương lĩnh công ước Giơnevơ (Công ước năm 1952) các
quốc gia tuỳ theo điều kiện, ho n cà ảnh thực tế của mình m có nhà ững hình
thức tổ chức BHXH riêng phù hợp. Tuy vậy, ở tất cả các quốc gia đều có
phần tái sản xuất giản đơn sức lao động cho người lao động. Giúp người lao
động nhanh chóng trở lại l m vià ệc góp phần tạo ra sản phẩm cho doanh nghiệp
v nà ền kinh tế quốc dân.
c. Phân ph ố i l ạ i thu nh ậ p gi ữ a nh ữ ng ng ườ i tham gia.
Cũng giống như tất cả các loại hình bảo hiểm khác, BHXH cũng dựa
trên nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” v vì và ậy người lao động bình đẳng
trong nghĩa vụ đóng góp cũng như trong quyền lợi nhận được từ quỹ BHXH.
Tập hợp tất cả những người đóng BHXH thuộc tất cả các ng nh nghà ề, lĩnh
vực hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế quốc dân. Bao gồm tất cả
các loại công việc từ đơn giản đến phức tạp, từ nhẹ nh ng à đến nặng nhọc
độc hại... Chính vì thế tính chất xã hội của BHXH l rà ất cao. BHXH phân
phối lại thu nhập giữa các đối tượng khác nhau giữa những người có thu nhập
cao v nhà ững người có thu nhập thấp, giữa những người khoẻ mạnh đang
l m vià ệc v nhà ững người ốm đau bệnh tật, thai sản ... Thực hiện chức năng
phân phối lại, BHXH cũng đồng thời góp phần thực hiện công bằng xã hội.
d. BHXH t ậ p trung đượ c ngu ồ n v ố n l ớ n cho phát tri ể n s ả n xu ấ t.
Nguồn quỹ hình th nh tà ừ sự đóng góp của các bên tham gia cũng là
nguồn vốn nh n rà ỗi có thể dùng để đầu tư v o nà ền kinh tế quốc dân. Quỹ
BHXH có thể có số dư v phà ần quỹ nh n rà ỗi được đầu tư cho các chương
trình kinh tế, xã hội, vừa đóng góp v o xây dà ựng đất nước vừa l m tà ăng
trưởng quỹ. Trong điều kiện hiện nay hoạt động n y có ý nghà ĩa rất quan trọng.
Ngo i ra, và ới chức năng giám đốc của mình, BHXH tiến h nh kià ểm tra,
giám sát việc tham gia v thà ực hiện chính sách BHXH để đảm bảo thực hiện
các nghĩa vụ v quyà ền lợi của người sử dụng lao động v ngà ười lao động
theo những quy định của pháp luật. Qua đó tạo điều kiện để người lao động
yên tâm l m vià ệc, còn người sử dụng lao động chủ động hơn trong việc quản
lý v sà ử dụng lao động trong quá trình hoạt động của mình. Chức năng giám
đốc còn thể hiện ở các khâu nghiệp vụ của hoạt động BHXH v thà ực hiện
chính sách BHXH.