Lý luận chung về bảo hiểm nhân thọ
I. LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ TÁC DỤNG CỦA BẢO HIỂM NHÂN THỌ.
1. Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm nhân thọ.
a. Trên thế giới.
Như chúng ta đã biết, khởi thuỷ của bảo hiểm là từ đại dương. Tiếp đó
là sự ra đời của bảo hiểm hoả hoạn. Còn bảo hiểm con người – bảo hiểm
nhân thọ một ngành bảo hiểm lớn nhất ra đời khi nào.
Vào thế kỷ thứ 2 sau công nguyên, ở thành Rôm nhà luật học Ujpien đã
lập ra một bảng tỷ lệ tử vong đầu tiên trên thế giới. Bằng bảng tỷ lệ tử vong
này, người ta có thể ước tính một người sống ở một độ tuổi nào đó, còn có
thể sống thêm được bao nhiêu năm nữa. Chẳng hạn, một người ở độ tuổi 20-
25 có thể còn sống thêm 28 năm nữa. Dựa trên những ước tính tuổi thọ này,
những người La Mã đã tổ choc và thực hiện một hệ thống trợ cấp trọn đời,
mà hệ thống này mang “ dáng dấp” của các hợp đồng nhân thọ ngày nay.
Đến thời Trung cổ, ở Bắc Âu, ở Pháp đã xuất hiện những Phường buôn.
Mục đích của các Phường buôn là duy trì những mối quan hệ từ thiện, tương
tế giữa các thành viên. Để ra nhập Phường buôn, các thành viên phải đóng
góp một khoản hội phí bằng tiền hoặc bằng thực phẩm, đổi lại, khi họ bị chết
sẽ được Phường buôn mai táng và cử hành tang lễ. Trường hợp ốm đau, các
hội viên sẽ nhận được tiền điều trị. Họ cũng được trợ cấp khi tuổi già, khi
gặp phải những bất hạnh trong cuộc sống như : cháy nhà, mất cắp hoặc
người thân trong gia đình bị chết.
Như vậy, Phường buôn đã bao hàm một yếu tố xác định của bảo hiểm
con người, đó là “ sự tương hỗ” giữa những người cùng hội, cùng phường.
Tuy nhiên, hoạt động của Phường buôn dần dần bị biến mất do sự cấm đoán
của các vua chúa Châu Âu và sự nên án của Nhà thờ thiên chúa giáo thời bấy
giờ.
• Bảo hiểm con người như một bộ phận của hợp đồng bảo hiểm hàng hải.
Trong các hợp đồng bảo hiểm hàng hảI, cũng đã tong đề cập đến vấn đề
bảo đảm cuộc sống con người. Đó là bảo hiểm tù binh và bảo hiểm nô lệ.
Bảo hiểm tù binh:
Bắt đầu từ thế kỷ 17, các nhà bảo hiểm chịu trách nhiệm về những
người chết trên boong tàu vì ốm đau, nhưng với điều kiện các bác sĩ đã thông
báo họ hoàn toàn “ khoẻ mạnh và không có dị tật gì” vào thời điểm con tàu
khởi hành.
Theo nhà luật học Po-chi-e, những người da đen là những đồ vật, việc
bảo hiểm trên đầu họ là hoàn toàn có thể theo lẽ tự nhiên. Cũng như bảo
hiểm tù binh,bảo hiểm nô lệ chỉ dừng lại trong chừng mực của bảo hiểm đồ
vật.
Mặc dù, bảo hiểm tù binh và bảo hiểm nô lệ ra đời khá sớm cùng với
bảo hiểm hàng hải với đối tượng là những con người. Song đây cũng chưa
thật sự là bảo hiểm con người, bởi lẽ đối tượng ở đây được coi như những đồ
vật, những món hàng- những thứ mà có thể quy ra một cái giá nhất định.
• Sự ra đời của bảo hiểm con người.
Nữa đầu thế kỷ 18, ở các nước Tây Ban Nha, Hà Lan, Pháp bảo hiểm
nhân thọ nói riêng và bảo hiểm con người nói chung bị cấm hoạt động bởi
thế lực chính trị và nhà thờ thiên chúa giáo.
Các vua Châu Âu thời bấy giờ đã nên án bảo hiểm con người, vì họ tự
coi con người là bất tử. Người ta gán cho bảo hiểm con ngườilà “đẩy con
người nhanh đến cái chết”, là “những hoạt động chống lại thuần phong mỹ
tục”. Chính vì những quan niệm này mà bảo hiểm con người bị pháp luật
cấm. Về phía nhà thờ thiên chúa giáo, cũng đã kịch liệt lên án bảo hiểm cuộc
sống của con người, vì lý do hoạt động này lạm dụng cuộc sống của con
người. Cuộc sống con người theo giáo lý của nhà thờ chỉ thuộc về “ đấng tối
cao” không ai được phép kinh doanh trên cuộc sống của “sản phẩm” do chúa
Jê- su tạo ra.
Như vậy, vì những lý do nhận thức, vì thiếu cơ sở khoa học, bảo hiểm
con người đã bị cấm đoán từ hai phía quyền lực : nhà nước và nhà thờ cho
đến tận những năm cuối thế kỷ 18.
• Sự xuất hiện công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên trên thế giới.
Vào thế kỷ 17, hai nhà toán học Pascal và Fermat đã tìm ra phương
là công ty Maji năm 1868, công ty Kyori năm 1888 và năm 1889 là công ty
Nippon. Công ty bảo hiểm nhân thọ được thành lập đầu tiên ở Hàn Quốcvào
năm 1889 và ở Singapo năm 1909.
Ngày nay, bảo hiểm con người và đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ phát
triển hết sức mạnh mẽ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Điều này được
thể hiện rất rõ ở doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ ở các khu vực và trên thế
giới.
Bảng 1: Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ theo khu vực năm 1999.
Bảo hiểm
nhân thọ
Doanh
thu
(triệu
USD)
Tỷ lệ
tăng sau
khi đã
điều chỉnh
lạm phát
(%)
Thị
phần
(%)
Phí
bảo hiểm
/GDP
(%)
Phí
bảo
hiểm
hai loại hình bảo hiểm nhân thọ : bảo hiểm nhân thọ có thời hạn 5 năm, 10
năm và chương trình đảm bảo cho trẻ em đến tuổi tới trường(ASGD). Ngày
22/06/1996, Bộ Tài Chính ký quyết định số568/TC/QĐ/TCCB thành lập
công ty bảo hiểm nhân thọ (Bảo Việt nhân thọ) kể từ đây bảo hiểm nhân thọ
mới chính thức đi vào hoạt động và phát triển không ngừng. Nừu như năm
1997 doanh thu phí của toàn thị trường mới có trên 4 tỷ đồng thì năm 2001
con số này đã nên tới 2800 tỷ đồng, vượt doanh thu phí của bảo hiểm phi
nhân thọ. Tốc độ phát triển của bảo hiểm nhân thọ là rất lớn và còn hứa
hẹnlớn trong những năm tiếp theo.
2. Tác dụng của bảo hiểm nhân thọ.
Bảo hiểm nhân thọ ngày càng phát triển và giữ vai trò quan trọng trong
mỗi nền kinh tế, mỗi tổ chức, mỗi gia đình và mỗi cá nhân. Điều này được
thể hiện rất rõ thông qua tác dụng của bảo hiểm nhân thọ.
a. Đối với người tham gia bảo hiểm.
• Bảo hiểm nhân thọ góp phần ổn định cuộc sống cho các cá nhân và gia
đình, là chỗ dựa tinh thần cho người được bảo hiểm.
Mặc dù trong thời đại hiện nay, khoa học kỹ thuật đã phát triển cao,
nhưng rủi ro bất ngờ vẫn có thể xảy ra và thực tế đã chứng minh rằng nhiều
cá nhân và gia đình trở nên khó khăn, túng quẫn khi có một thành viên trong
gia đình, ịăc biệt thành viên đó lại là người trụ cột bị chết hoặc bị thương tật
vĩnh viễn. Khi đó gia đình phải chi phí mai táng chôn cất, chi phí nằm viện,
thuốc men, chi phí phẫu thuật và bù đắp những khoản thu thường xuyên bị
mất đi. Khó khăn hơn là một loạt các nghĩa vụ và trách nhiệm mà người chết
chưa kịp hoàn thành như : trả nợ, phụng dưỡng cha mẹ già, nuôI dạy con cái
ăn học…Dù rằng hệ thống bảo trợ xã hội và các tổ chức xã hội có thể trợ cấp
khó khăn, nhưng cũng chỉ mang tính tạm thời trước mắt, chưa đảm bảo được
lâu dài về mặt tài chính. Tham gia bảo hiểm nhân thọ sẽ phần nào giải quyết
được những khó khăn đó.
• Bảo hiểm nhân thọ góp phần ổn định tài chính và sản xuất kinh doanh
cho các doanh nghiệp, tạo lập mối quan hệ gần gũi, gắn bó giữa người lao
thọ thường rất lớn, vì hoạt động bảo hiểm nhân thọ mang tính dài hạn, do
đó nguồn vốn bảo hiểm nhân thọ cung cấp cho thị trường cũng là nguồn
vốn dài hạn, thường là từ 5,10 năm trở lên. Nừu được đầu tư phát triển
các vùng kinh tế chiến lược, xây dựng cơ sở hạ tầng sẽ rất phù hợp và có
hiệu quả.
ở Đài Loan, năm 1987 chính phủ bắt đầu mở cửa cho các công ty
bảo hiểm nước ngoài vào hoạt động. Từ đó đến nay, các công ty này đã cung
cấp vốn cho thị trường Đài Loan hàng năm từ 500-800 triệu USD.
ở Mỹ, năm 1970 số vốn các công ty bảo hiểm nhân thọ cung cấp chỉ
là 9 tỷ đô la, trong khi đó cung cấp vốn qua hệ thống ngân hàng để đầu tư là
37 tỷ đô la. Nhưng đến năm 1991 số vốn do các công ty bảo hiểm nhân thọ
đầu tư là 90,2 tỷ đô la, trong khi hệ thống ngân hàng cung cấp đầu tư trong
nước chỉ có 85,7 tỷ đô la.
• Bảo hiểm nhân thọ còn là một công cụ hữu hiệu để huy động những
nguồn tiền mặt nhàn rỗi nằm ở các tầng lớp dân cư trong xã hội để thực
hành tiết kiệm, góp phần chống lạm phát. Khi nền kinh tế phát triển, đời
sống nhân dân ngày càng cao, sẽ xuất hiện nhu cầu tiết kiệm hoặc đầu tư
số tiền mặt tạm thời nhàn rỗi. ở các nước đang phát triển và chậm phát
triển, thường thiếu các công cụ để đsản phẩm ứng nhu cầu này, vì vậy bảo
hiểm con người mà đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ ra đời đã giúp các tổ
chức và cá nhân thực hiện nhu cầu một cách có hiệu quả. Do đối tượng
rộng, lại vừa mang tính tiết kiệm, vừa mang tính rủi ro, hơn nữa do cơ
chế và cách thức đóng phí thuận lợi, cho nên bảo hiểm nhân thọ có nhiều
ưu điểm hơn hẳn gửi tiền tiết kiệm. Vì thế, việc thực hành tiết kiệm từ chi
tiêu ngân sách gia đình để mua bảo hiểm nhân thọ sẽ dễ dàng hơn, điều
này không chỉ có ý nghĩa thiết thực đối với từng gia đình mà còn có ý
nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế xã hội.
• Bảo hiểm nhân thọ còn góp phần giải quyết một số vấn đề về mặt xã hội
như : tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, tăng vốn đầu tư cho
việc giáo dục con cái, tạo ra một nếp sống đẹp, tiết liệm có kế hoạch,…
hoạch, có kỷ luật. Nội dung tiết kiệm khi mua bảo hiểm nhân thọ khác với
các hình thức tiết kiệm khác ở chỗ, người bảo hiểm đảm bảo trả cho người
tham gia bảo hiểm hay người thân của họ một số tiền rất lớn ngay cả khi họ
mới tiết kiệm được một khoản tiền nhỏ. Có nghĩa là khi người được bảo
hiểm không may gặp rủi ro, trong thời hạn đã được ấn định trong hợp đồng,
những người thân của họ sẽ nhận được những khoản trợ cấp hay số tiền bảo
hiểm từ công ty bảo hiểm nhân thọ. Điều đó thể hiện rõ tính chất rủi ro trong
bảo hiểm nhân thọ.
b. Tính đa mục đích của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.
Trong khi tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng được
một mục đích là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tượng bảo hiểm gặp sự
cố, từ đó góp phần ổn định tài chính cho người tham gia, thì bảo hiểm nhân
thọ có thể đsản phẩm ứng được rất nnhiều mục đích khác nhau. Mỗi loại hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ sẽ đáp ứng một nhu cầu nhất định. Chẳng hạn, hợp
đồng bảo hiểm hưu trí sẽ đsản phẩm ứng yêu cầu của người tham gia những
khoản tiền trợ cấp hàng tháng, từ đó góp phần ổn định cuộc sống của họ khi
về già. Hợp đồng bảo hiểm tử vong sẽ giúp người được bảo hiểm để lại cho
gia đình một số tiền bảo hiểm khi họ không may bị tử vong. Số tiền này đsản
phẩm ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của người quá cố như : trang
trải nợ nần, giáo dục con cáI, phụng dưỡng cha mẹ già,…Hợp đồng bảo
hiểm nhân thọ đôi khi còn có vai trò như vật thế chấp để vay vốn hoặc bảo
hiểm nhân thọ tín dụng thường được bán cho các đối tượng đi vay để họ mua
xe hơi, đồ dùng gia đình hoặc dùng cho các mục đích cá nhân khác,…Chính
vì đsản phẩm ứng được nhiều mục đích khác nhau nên loại hình bảo hiểm
này có thị trường ngày càng rộng và được rất nhiều người quan tâm.
c. Bảo hiểm nhân thọ cho phép bảo hiểm trong cùng một hợp đồng bảo hiểm
cho hai sự kiện trái ngược nhau, đó là sự kiện “tử vong” và sự kiện “sống”.
Bảo hiểm cho hai trường hợp trái ngựoc nhau là trường hợp duy nhất
trong bảo hiểm. Đối với các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ, người ta chỉ có
thể bảo hiểm cho hậu quả của các sự kiện được bảo hiểm chứ không bảo
đồng bảo hiểm nhân thọ, điều này hoàn toàn không như vậy. Trong các bảo
hiểm trong trường hợp tử vong, người thụ hưởng bảo hiểm không phải là nạn
nhân của biến cố. Người được bảo hiểm chết, song người thụ hưởng bảo
hiểm là những người có mối quan hệ thân thuộc với người được bảo hiểm, ví
dụ như : vợ chồng, con cái,…của người tham gia bảo hiểm. Điều này làm
hạn chế sự tự do của người được bảo hiểm , người được bảo hiểm không
phải lúc nào cũng có thể tự do thay đổi người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm.
Ngoài ra, chưa kể đến tính chất của hợp đồng bảo hiểm này, đôi khi dẫn đến
những vụ án hình sự về các hành động phạm tội của người thu nhưởng đối
với người được bảo hiểm.
e. Phí bảo hiểm nhân thọ chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy
quá trình định phí khá phức tạp.
Theo tác giả Jean-Claude Harrari “sản phẩm bảo hiểm nhân thọ không
gì hơn chính là kết quả của một tiến trình đầy đủ để đưa sản phẩm đến công
chúng”. Trong tiến trình này, người bảo hiểm phải bỏ ra rất nhiều chi phí để
tạo nên sản phẩm, như : chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng,…Những
chi phí đó mới chỉ là một phần để cấu tạo nên giá cả sản phẩm bảo hiểm
nhân thọ (tính phí bảo hiểm nhân thọ ), một phần chủ yếu khác lại phụ thuộc
vào :
+ Độ tuổi của người được ,
+ Tuổi thọ bình quân của con người,
+ Số tiền bảo hiểm ,
+ Thời hạn tham gia,
+ Phương thức thanh toán,
+ Lãi suất đầu tư,
+ Tỷ lệ lạm phát và thiểu phát của đồng tiền,
+ …
Điều đó khác với việc định giá cả một chiếc ô tô, chiếc ô tô là sản phẩm
của một dây chuyền sản xuất, để sản xuất ra nó, người ta phải chi ra rất nhiều
khoản chi phí như : nguyên nhiên vật liệu, chi phí lao động sống, khấu hao
quy phải ra đời trước khi ngành bảo hiểm phát triển. Luật bảo hiểm và các
văn bản có liên quan sẽ đề cập cụ thể đến các vấn đề như : tài chính, đầu tư,
hợp đồng, thuế,…Đây là những vấn đề mang tính chất sống còn cho hoạt
động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ. Chẳng hạn, ở một số nước phát triển
như : Anh, Pháp, Đức…nhà nước thường tạo đIều kiện thuận lợi cho bảo
hiểm nhân thọ bằng cách có chính sách thuế ưu đãi. Mục đích là nhằm tạo ra
cho các cá nhân cơ hội để tiết kiệm, tự mình lập nên quỹ hưu trí, từ đó cho
phép giảm bớt phần trợ cấp từ ngân sách nhà nước. Mặt khác, còn đẩy mạnh
được quá trình tập trung vốn trong các công ty bảo hiểm nhân thọ để từ đó
có vốn dài hạn đầu tư cho nền kinh tế. Cũng vì những mục đích trên, mà một
số nước ở Châu á như :ấn Độ, Hông Kông, Singapo không đánh thuế doanh
thu đối với các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, sự ưu đãi này là đòn bẩy tích
cực để bảo hiểm nhân thọ phát triển.
Từ những đặc trưng cơ bản của bảo hiểm nhân thọ như đã nêu ở trên,
chúng ta có thể thấy được những đIều khác biệt giữa bảo hiểm nhân thọ và
phi nhân thọ, thể hiện qua bảng so sánh :
Bảng 2: Bảng so sánh bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ.
Bảo hiểm nhân thọ Bảo hiểm phi nhân thọ
1. Đối tượng bảo hiểm - Con người Tài sản
Con người
Trách nhiệm
2. Thời hạn bảo hiểm - Nhiều mức 5,10,
năm…
- Thường là một năm
3. Phí bảo hiểm
a. Nhân tố ảnh hưởng
b. Cách thức đóng phí
Thời gian tham gia
Số tiền bảo hiểm
Tỷ lệ lãI kỹ thuật
thuộc trách nhiệm bảo
hiểm.
2. Các loại hình bảo hiểm nhân thọ cơ bản.
Bảo hiểm nhân thọ đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau. Đối với
những người tham gia mua mục đích chính của họ hoặc là để bảo vệ con cái và
những người ăn theo tránh khỏi những khó khăn khi cái chết đến bất ngờ đối
với họ hoặc tiết kiệm để đáp ứng các nhu cầu về tài chính trong tương lai, nâng
cao mức sống khi về già, đảm bảo học tập cho con cái…Do vậy, người bảo