một số lí luận về sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm trong các doanh nghiệp.
1.1 Sản phẩm hàng hoá và thị trường sản phẩm của các doanh nghiệp.
1.1.1 Quan niệm về sản phẩm hàng hoá trong nền kinh tế thị trường.
Theo quan niệm kinh tế chính trị Mac_Lenin, hàng hoá là một vật phẩm có thể
thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào quá trình tiêu dùng thông qua
mua bán. Vì vậy, không phải bất kỳ vật phẩm nào cũng là hàng hoá.
Hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị (giá trị trao đổi).
_ Giá trị sử dụng của hàng hoá là công dụng của vật phẩm có thể thoả mãn nhu
cầu nào đó của con ngươì. Giá trị tri sử dụng của hàng hoá do thuộc tính tự nhiên
của hàng hoá qui định. Vì vậy nó là một phạm trù vĩnh viễn. Giá trị hàng hoá có đặc
điểm : là giá trị sử dụng không phải cho người sản xuất trực tiếp mà là cho người
khác, cho xã hội. Giá trị sử dụng đến tay người tiêu dùng phải thông qua mua bán.
Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi.
_ Giá trị hàng hoá : Để hiểu được giá trị hàng hoá phải đi từ giá trị trao đổi. Giá
trị trao đổi biểu hiện là quan hệ tỷ lệ về số lượng trao đổi lẫn nhau giữa các giá trị
khác nhau. Hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau nhưng lại được trao đổi với
nhau theo một tỷ lệ nhất định nào đó, vì chúng đều là sản phẩm của lao động, có cơ
sở chung là sự hao phí lao động của con người. Lao động xã hội của người sản xuất
hàng hoá kết tinh trong hàng hoá, là giá trị của hàng hoá. Như vậy, giá trị là cơ sở
của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi là biểu hiện của giá trị.
Trong nền kinh tế thị trường một doanh nghiệp sản xuất ra một vật phẩm của
mình (đúng với các tiêu chuẩn về kỹ thuật đối với vật phẩm đó) và có thể trao đổi
trên thị truờng thì vật phẩm đó được gọi là hàng hoá và nó có đầy đủ hai thuộc tính
là giá trị và giá trị sử dụng.
1.1.2 Thị trường sản phẩm hàng hoá và cơ chế hoạt động của thị trường sản
phẩm.
1.1.2.1 Thị trường và các chức năng cơ bản của thị trường.
Có nhiều quan niệm khác nhau về thị trường, tuỳ vào cách nhìn nhận ở các góc
độ khác nhau về thị trường. Theo C_Mac: khái niệm thị trường không tách rời với
khái niệm phân công xã hội, đó là cơ sở chung của mọi nền sản xuất hàng hoá. Bất cứ
bán.
_ Thị truờng người mua: trong thị truờng này vai trò quyết định thuộc về
người mua, nếu thị trường người mua có sức mạnh thì dẫn đến độc quyền mua.
* Căn cứ vào qui mô thị trường:
_ Thị trường trong nước: chỉ diễn ra trong phạm vi một quốc gia.
_ Thị trường khu vực và thế giới: Diễn ra trong phạm vi khu vực và trên toàn
thế giới, đây là thị trường lớn nhất, ngày nay trong xu hướng quốc tế hoá được mở
rộng, các doanh nghiệp kinh doanh phải chú ý đến tiềm năng to lớn của thị truờng
này.
* Căn cứ vào tính chất cạnh tranh, chia thị trường thành:
_ Thị trường cạnh tranh hoàn hảo: thị trường này có đặc điểm là các chủ thể
kinh tế không có một chút nào về sức mạnh thị trường, họ phải bán với giá cả thị
trường mà không được tự ý thay đổi giá, nếu giá chỉ tăng một chút thôi thì cầu đến
với sản phẩm đó sẽ bằng không. Ví dụ như thị trường trứng gà, trứng vịt..........
_ Thị trường cạnh tranh độc quyền: thị trường này bao gồm một số hữu hạn
các chủ thể kinh tế, có thể chi phối cả thị trường (độc quyền theo nhóm). Ví dụ thị
truờng dầu gội đầu, kem đánh răng...
Thị trường cạnh tranh độc quyền này cũng có thể dẫn tới độc quyền tập
đoàn(xuất hiện khi một đơn vị cạnh tranh có khả năng thao túng tất cả các đơn vị
khác) có sức mạnh chi phối toàn bộ cả thị trường.
Thị trường có các chức năng sau:
_ Chức năng thừa nhận: chức năng này đảm bảo cho hàng hoá được thị truờng
chấp nhận. Sản xuất hàng hoá là việc riêng của từng người có tính chất độc lập
tương đối với người sản xuất khác. những vấn đề mấu chốt là hàng hoá của họ có
đáp ứng nhu cầu xã hội về chất lượng, hình thức, qui cách so với thị hiếu người tiêu
dùng không? Chi phí để sản xuất hàng hoá có được xã hội chấp nhận không? Chỉ có
trên thị trường và thông qua thị trường các vấn đề trên mới được khẳng định.
_ Chức năng cung cấp thông tin: chức năng này đảm bảo cho người sản xuất và
người tiêu dùng hiểu rõ những biến động về nhu cầu xã hội: số lượng, giá cả, cơ cấu
và xu hướng thay đổi của nhu cầu các loại hàng hoá, dịch vụ. Giúp người sản xuất
phải thường xuyên cải tiến chất lượng, mẫu mã hàng hoá..... cho phù hợp nhu cầu, thị
hiếu người tiêu dùng. Vì vậy qui luật giá trị có tác dụng thúc đẩy sản xuất hàng hoá
nhiều, nhanh, tốt, rẻ hơn.
_ Phân hoá những người sản xuất hàng hóa: Trên đây là các tác dụng tích cực
của qui luật giá trị, bên cạnh đó tác dụng tiêu cực của qui luật này là phân hoá
những người sản xuất hàng hoá thành giàu, nghèo khác nhau.
Xuất phát từ yêu cầu của qui luật giá trị, một số người sản xuất trong điều kiện
thuận lợi về trình độ, kiến thức, trang bị kỹ thuật, vốn... sẽ phát tài và trở thành giàu
có. Ngược lại, những người không có các điều kiện trên hoặc gặp rủi ro sẽ dẫn tới
mất vốn, phá sản.
*Qui luật cạnh tranh:
Cạnh tranh là ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các đơn vị sản xuất với
nhau, giữa người sản xuất với người tiêu dùng hàng hoá, dich vụ nhằm giành giật
những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hoá để thu nhiều lợi ích
nhất cho mình. Trên tinh thần đó, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì
phải sản xuất ra hàng hoá với chất lượng tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn, giá rẻ hơn các
đơn vị sản xuất kinh doanh khác mới mong chiếm lĩnh được thị trường. Qui luật
cạnh tranh buộc các doanh nghiệp khi bước vào sản xuất kinh doanh phải nghiên
cứu thị trường, thị hiếu, sở thích người tiêu dùng. Do đó cạnh tranh không chỉ kích
thích tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất như ở trên đã trình bày mà còn
làm cho sản xuất gắn với tiêu dùng, phục vụ nhu cầu xã hội ngày càng tốt hơn.
*Qui luật cung cầu:
Qui luật này phản ánh mối quan hệ giữa cung cầu trên thị trường:
_ Cầu được hiểu ở đây không phải là nhu cầu bất kỳ mà là nhu cầu có khả năng
thanh toán. Như vậy qui mô của cầu phụ thuộc chủ yếu vào tổng số tiền xã hội dùng
để mua tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, dịch vụ trong từng thời kỳ nhất định.
_ Cung là tổng số hàng hoá có ở thị trường hoặc có khả năng thực tế cung cấp cho thị
trường.
Qui luật cung cầu hoạt động khách quan, độc lập với ý thức con người, biểu hiện
sự hoạt động của nó thông qua sự vận động lên xuống của giá cả xung quanh giá trị
Quá trình tái sản xuất mở rộng gồm 4 khâu : Sản xuất-phân phối-trao đổi-tiêu
dùng. Quá trình chỉ kết thúc khi người bán nhận được tiền và người mua nhận được
hàng, tức là lúc đó công tác tiêu thụ mới hoàn thành.
1.2.1.2 Các chỉ tiêu chủ yếu phản ánh kết quả hoạt động tiêu thụ sản
phẩm ở các doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp tổ chức sản xuất kinh doanh độc lập và có hiệu quả, phải
nghiên cứu và phân tích một hệ thống các chỉ tiêu liên quan đến quá trình sản xuất
kinh doanh.
Trong bài viết này vì không thể liệt kê được hết tất cả các chỉ tiêu ấy, em chỉ đưa
ra một số chỉ tiêu chủ yếu phản ánh kết quả hoạt động tiêu thụ ở các doanh nghiệp.
_ Số lượng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh
nhất định: Chỉ tiêu này phản ánh qui mô sản xuất của doanh nghiệp, chỉ tiêu này
càng lớn là dấu hiệu cho ta biết thị phần của doanh nghiệp có xu hướng tăng lên.
_ Chỉ tiêu về doanh thu:
Doanh thu = sản lượng * giá bán.
DT = Q * P
Doanh thu tiêu thụ = sản lượng tiêu thụ * giá bán.
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ hiệu quả trong công tác tiêu thụ sản phẩm, chỉ tiêu
này càng lớn chứng tỏ công tác tiêu thụ sản phẩm có nhiều biến chuyển tốt đẹp, cần
giữ vững và phát huy hơn nữa.
_ Chỉ tiêu về thuế nộp ngân sách nhà nước:
Chỉ tiêu này cho biết, phần thuế tính theo doanh thu phải nộp ngân sách nhà
nước. Cũng tương tự chỉ tiêu doanh thu nó phản ánh kết quả trong công tác tiêu thụ
sản phẩm.
1.2.2 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp.
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng tổng hợp
của nhiều nhân tố khác nhau. ở đây em xin tổng hợp các nhân tố đó thành hai nhóm
cơ bản đó là:
1.2.2.1 Nhóm các nhân tố khách quan.
hơn các đối thủ khác thì cạnh tranh lại chính là hàng rào các đối thủ, đảm bảo thắng
lợi cho doanh nghiệp.
Xét cho cùng thì cạnh tranh mới làm cho doanh nghiệp tự hoàn thiện mình, vì
vậy một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải chấp nhận cạnh tranh và
phải có sức cạnh tranh mạnh hơn.
1.2.2.2. Nhóm các nhân tố chủ quan:
Trong nhóm này có thể kể đến các nhân tố chính như sau:
- Chất lượng sản phẩm: Chất lượng sản phẩm là toàn bộ những thuộc tính phản
ánh chức năng, công dụng, tác dụng của sản phẩm đó. Chất lượng phải đạt được
những tiêu chuẩn yêu cầu kinh tế-kỹ thuật đặt ra cho mỗi sản phẩm đó.
Theo ISO 9000: Chất lượng là tổng thể các chỉ tiêu, những đặc trưng cơ bản của
sản phẩm thể hiện sự thoả mãn của nhu cầu trong những tiêu dùng xác định phù hợp
với công dụng của sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn.
Chất lượng là vấn đề cạnh tranh của các doanh nghiệp, cạnh tranh về chất
lượng là một trong những hình thức cạnh tranh “đẹp” vì nó thoả mãn tốt hơn nhu
cầu của người tiêu dùng và xã hội.
Doanh nghiệp muốn nâng cao uy tín, vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường
thì phải nâng cao chất lượng sản phẩm.
- Giá cả sản phẩm: Giá cả sản phẩm là một thông số phần nào nói lên được chất
lượng sản phẩm, giá cả còn là một vũ khí cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo qui
luật cung cầu khi giá cả tăng lên thì cầu giảm xuống nhưng đối với một doanh
nghiệp thích ứng linh hoạt với sự thay đổi của thị trường thì không nhất thiết phải
như vậy. Với một số mặt hàng xa xỉ thì khi tăng giá lên thì có thể cầu lại tăng lên.