THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG MARKETING HIỆN NAY TRONG VIỆC NÂNG
CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY HẠ LONG
I- ĐẶC ĐIỂM KINH DOANH CỦA CÔNG TY HẠ LONG
CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC ỨNG DỤNG MARKETING
TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
1- Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của công ty Hạ
Long.
Công ty ứng dụng công nghệ và kỹ thuật Hạ Long là doanh nghiệp trách
nhiệm hữu hạn được thành lập theo quyết định số 3901CP/TLDN ngày 10
tháng 6 năm 1997 của Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội với trụ sở chính là P7N1
tổ 11 Kim Giang, Thanh Xuân, Hà Nội.
Trước năm 1997 Công ty ứng dụng công nghệ và kỹ thuật Hạ Long là một
bộ phận của Tổng Công ty Hạ Long trực thuộc Bộ Quốc phòng, với tiền thân là
một bộ phận nghiên cứu những công nghệ tiên tiến để áp dụng vào quốc
phòng. Tuy nhiên do tình hình kinh tế đất nước có những đổi mới, khối kinh tế
thuộc Bộ Quốc phòng cũng có những sự cải tổ, do không được bao cấp như
trước nên một số bộ phận phải bị giải tán, Hạ Long được tách ra trở thành
một Công ty trách nhiệm hữu hạn độc lập dựa trên cơ sở bộ khung của bộ
phận nghiên cứu công nghệ của Tổng Công ty Hạ Long trực thuộc Bộ Quốc
phòng trước đây.
Từ khi tách ra trở thành một công ty độc lập, Hạ Long đã tiến hành hoạt
động sản xuất kinh doanh với mục đích lợi nhuận tối đa và phạm vi kinh doanh
là nhập khẩu, lắp ráp máy tính, máy văn phòng và một số thiết bị công nghệ
cao. Ngoài ra trong những năm gần đây công ty có mở rộng thực hiện hoạt
động dịch vụ. Và đặc biệt là trong năm vừa qua đưa thêm chính thức vào danh
mục kinh doanh một loại sản phẩm mới mang tính chất cao cấp đó là cửa tự
động (Autodoor) mang nhãn hiệu DORTEX.
Hình thức công ty là loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, trách
nhiệm của những người có vốn trong công ty được giới hạn bởi phần
vốn góp của mình. Với tổng số vốn góp ban đầu là 450 triệu VNĐ. Công
ty chính thức bắt đầu sản xuất kinh doanh vào ngày 15 tháng 6 năm
Tổng cộng 3.300.000
Cửa tự động là một lĩnh vực mới của công ty một phần nằm trong chiến
lược đa dạng hoá kinh doanh của công ty Hạ Long, lĩnh vực cửa tự động là một
lĩnh vực mới trên thị trường, chỉ chiếm một doanh thu rất nhỏ trong doanh thu
công ty (chiếm 4,96%). Không phải là sản phẩm chính được tập trung nguồn
lực.
Lĩnh vực kinh doanh máy tính, phụ kiện và các sản phẩm liên quan là lĩnh
vực truyền thống của công ty Hạ Long. Công ty Hạ Long đã có nhiều năm kinh
nghiệm trong lĩnh vực này, ban giám đốc luôn coi đó là lĩnh vực chính của công
ty, và thực tế lĩnh vực này có doanh thu chiếm tới 76,67% doanh thu. Công ty
tập trung phần lớn nguồn lực cho lĩnh vực này.
Kinh doanh dịch vụ hỗ trợ và cung cấp những giải pháp kỹ thuật cho các
công ty và tổ chức trong các dự án tin học hoá hay hiện đại hoá là một trong
những lĩnh vực quan trọng không chỉ vì nó chiếm 15,87% doanh thu và mà còn
vì lĩnh vực này liên quan trực tiếp tới lĩnh vực máy tính, nó là lĩnh vực hỗ trợ
1 Số liệu năm 2000, trích báo cáo KQKD
BAN GIÁM ĐỐC
P. Kỹ thuật P. Kế toán P. Kinh doanh
Nghiên cưú
Lắp đặt
Sửa chữa
Marketing Bán hàng Dịch vụ
máy tính, khi cung cấp giải pháp thì công ty được tăng uy tín và đôi khi có đơn
đặt hàng máy tính.
2.2.Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý.
Công ty Hạ Long là một công ty trách nhiệm hữu hạn, ban giám đốc của
công ty bao gồm 2 người, giám đốc ông Bùi Hữu Cư, phó giám đốc bà Trần Thị
Vượng. Công ty hiện tiến hành quản lý theo kiểu trực tuyến chức năng.
Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức cơ cấu quản lý của công ty
* Phòng giám đốc là cơ quan lãnh đạo cao nhất quyết định mọi vấn đề
*Bộ phận sửa chữa là một phần không thể thiếu được ở phòng kỹ thuật
của một công ty kỹ thuật sản xuất máy tính. ở Công ty Hạ Long, bộ phận sửa
chữa đóng vai trò sửa chữa cho cả hai mảng sản phẩm vật chất là cửa tự động
và máy tính, thực hiện nhiệm vụ bảo hành của công ty hơn thế nữa bộ phận
sửa chữa còn phối hợp với bộ phận dịch vụ của phòng kinh doanh để tiến hành
thực hiện kinh doanh dịch vụ sửa chữa thuê.
*Trên lý thuyết thì phòng kỹ thuật thường chỉ có những bộ phận nghiên
cứu và có chức năng cố vấn nhưng ở thực tế những công ty vừa và nhỏ để
giảm sự tốn kém không cần thiết của bộ máy quản lý những công ty vừa và
nhỏ thường có xu hướng sát nhập những bộ phận với nhau trong cùng một
phòng, ở Công ty Hạ Long cũng vậy. Thực tế công ty không cần có phòng sản
xuất mà bộ phận sản xuất trực thuộc phòng kỹ thuật. Điều này có một lợi thế
đó là phòng kỹ thuật có thể trực tiếp tư vấn và quản lý chất lượng của sản
phẩm được sản xuất lắp ráp. Bộ phận sản xuất ở công ty Hạ Long có nhiệm vụ
là lắp ráp máy tính từ những linh kiện nhập ngoại.
• Chức năng của phòng kinh doanh
Phòng kinh doanh của công ty có chức năng kinh doanh, thực hiện công
tác bán hàng và thực hiện những giao dịch của công ty. ở Công ty Hạ Long
phòng kinh doanh có ba bộ phận đó là các bộ phận Marketing, bán hàng, dịch
vụ. Thực chất trong những bộ phận này lại chia thành những nhóm nhỏ hơn.
Sơ đồ: Cơ cấu tổ chức của phòng kinh doanh
Nếu nhìn vào sơ đồ quản trị của phòng kinh doanh có thể thấy phòng kinh
doanh quản trị phương thức nhóm. Các nhóm tự quản trị và hoạt động theo
phương thức khoán. Trưởng phòng trực tiếp điều hành hoạt động thường
ngày của các bộ phận bán lẻ, bán sỉ máy tính, bộ phận kinh doanh dịch vụ và bộ
phận quảng cáo. Phó phòng có nhiệm vụ điều hành bộ phận kinh doanh cửa tự
động, phóng phòng có trách nhiệm báo cáo với trưởng phòng về tình hình kinh
doanh của bộ phận kinh doanh cửa tự động.
Công ty ngay từ khi thành lập đã nhận thức được tầm quan trọng của
công tác marketing trong nền kinh tế thị trường, vì vậy bộ phận Marketing
Số lượng lao động nữ 4 13,33%
Tuổi trung bình của đội ngũ nhân viên 26
Số lượng lao động có trình độ cao đẳng hay đại học 27 96%
Thu nhập trung bình ≈70$
Thông qua bảng số liệu có thể thấy lực lượng lao động của công ty tương
đối trẻ và có trình độ. Hầu hết nhân viên đều có trình độ đại học hoặc tương
đương đại học, tuy vậy trong những vấn đề kỹ thuật của công ty thì còn nhiều
vấn đề cần phải giải quyết, có thể nói hầu hết nhân viên marketing và nhân
viên phòng kinh doanh đều có bằng đại học kinh tế là rất tốt, đáp ứng được
những nhu cầu hiện nay của công ty nhưng xét thực tế công ty kinh doanh mặt
hàng máy tính là mặt hàng kỹ thuật, trong thời gian tới khi mở rộng thị
trường, những khách hàng trở nên khó tính hơn và những đòi hỏi cao hơn,
nhân viên kinh doanh của công ty ngoài những kiến thức về kinh tế cũng cần
có những hiểu biết kỹ thuật cơ bản về mặt hàng này. Vấn đề đào tạo và nâng
cao trình độ nhằm đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của doanh nghiệp cũng đã được
ban giám đốc quan tâm. Tuy nhiên với tiềm lực nhỏ của công ty, kinh phí cho
đào tạo là tương đối ít, do vậy để giải quyết vấn đề trên công ty chủ trương chỉ
tuyển thêm những nhân viên đã được đào tạo có kiến thức của cả hai chuyên
ngành, đồng thời khuyến khích những nhân viên của công ty học tập nâng cao
kiến thức kết hợp với một số chương trình đào tạo cơ bản cho nhân viên với
phương thức vừa học vừa làm nhưng đây cũng không phải là một biện pháp
lâu dài trong thời gian kế tiếp khi công ty mở rộng và phát triển công ty sẽ
phải có những đâù tư lâu dài cho lĩnh vực nhân lực.
2.4. Cơ sở vật chất kỹ thuật, máy móc thiết bị, công nghệ.
Là một công ty hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực thương mại và lắp ráp,
cơ sở vật chất của công ty ứng dụng công nghệ và kỹ thuật Hạ Long hầu hết
bao gồm những thiết bị phục vụ đáp ứng nhu cầu sản xuất và kinh doanh của
công ty, giá trị của cơ sở vật chất không thuộc loại lớn.
*Cơ sở vật chất sử dụng để quản trị: Trụ sở của công ty đặt tại 57C –
Giảng Võ. Đây là một cơ sở hiện đại được trang bị đầy đủ những thiết bị văn
15600
00
15600
00
214500
0
A. Nợ phải trả 1575
000
15850
00
15850
00
11060
00
11060
00
110500
0
Nợ dài hạn --------
--
770000 770000 910.00
0
910.00
0
750.000
B. NV chủ sở 459.0 450.00 450.00 454.00 454.00 114000
hữu 00 0 0 0 0 0
NV kinh doanh 450.0
00
450.00
20300
0
15550
00
15550
00
214000
0
Có thể dựa trên bảng cân đối kế toán của công ty để có một số nhận xét về
tình hình tài chính của công ty:
Tài sản cố định của công ty không có sự thay đổi, chứng tỏ trong suốt 3 năm
qua công ty không tăng cường đầu tư cho tài sản cố định mà chỉ giữ nguyên thực
trạng.
Vốn lưu động của công ty lớn gấp nhiều lần tài sản cố định của công ty:
Do công ty có chiều hướng là một công ty thương mại nhiều hơn là một công
ty sản xuất. Nguồn vốn dài hạn trong những năm 1998, 1999, 2000 đều lớn
hơn tài sản cố định chứng tỏ khả năng thanh toán của doanh nghiệp tốt,
nguồn vốn đủ tài trợ cho TSCĐ và TSLĐ đủ để doanh nghiệp trả các khoản nợ
vay ngắn hạn. Nguồn vốn của công ty đã có mức phát triển: 2000 là
2.145.000.000 VNĐ, hơn so với năm 1998 là 2.029.000.000 VNĐ. Tuy vậy vốn
của công ty còn tương đối khó có khả năng cạnh tranh trong những hợp đồng
có giá trị lớn.
2.6. Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong
thời gian qua.
Bảng báo cáo kết quả kinh doanh 1998-2000.
Đơn vị 1000đ
Chỉ tiêu 1998 1999 2000
1. Tổng doanh thu 5.500.000 3.000.000 3.300.000
2. Các khoản giảm trừ 60.000 - 60.000
3. Doanh thu thuần 5.440.000 3.000.000 3.240.000
II. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH HIỆN NAY
CỦA CÔNG TY HẠ LONG VÀ THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG MARKETING
TRONG VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
1. Thực trạng thị trường của Công ty Hạ Long
1.1. Thực trạng bản thân công ty.
Công ty ứng dụng công nghệ và kỹ thuật Hạ Long là một công ty vừa và
nhỏ hoạt động chủ yếu trên thị trường máy tính Việt Nam. Hạ Long cũng là
một trong số những công ty đã có nhiều thành công trong những năm qua. Tuy
vậy Hạ Long vẫn chưa đạt được mức phát triển và quy mô lớn so với những
công ty đang dẫn đầu ngành. Tổng doanh thu của công ty trong toàn bộ những
lĩnh vực liên quan tới máy tính bao gồm dịch vụ và phần cứng năm 2000 là
2,663 tỷ VNĐ, cộng với 0,52 tỷ là từ những hoạt động dịch vụ , chiếm chưa tới
0,1% trong tổng số hơn 3000 tỷ của thị trường công nghệ thông tin Việt Nam.
Những con số này cho thấy công ty không thuộc vào loại hình doanh nghiệp
dẫn đầu thị trường. Hơn thế hoạt động của công ty chủ yếu tập trung trong hai
lĩnh vực là thị trường máy tính cho các công ty cùng ngành và thị trường máy
tính cho các dự án hay các xí nghiệp, công ty vừa và nhỏ còn trong thị trường
bán lẻ cho các khách hàng thuộc khối gia đình công ty tỏ ra tương đối yếu kém.
Bảng : Tỷ lệ thị phần của công ty trong lĩnh vực máy tính nguyên chiếc
2
Phân đoạn thị
trường
Số lượng
tiêu thụ (c)
Tỷ trọng
(%)
Doanh thu
(1000đ)
Tỷ trọng (%)
-Những công ty máy tính nước ngoài của Đài Loan, Trung Quốc. Những
công ty này cũng có tiềm lực xấp xỉ như những công ty Việt Nam, họ tham gia
vào thị trường VIệt Nam chủ yếu theo mục tiêu lợi nhuận, thông qua các hợp
đồng đại lý ngắn hạn. Họ hỗ trợ các công ty đối tác bằng hỗ trợ kỹ thuật, tham
gia chủ yếu trong thị trường máy tính gia đình. Các nhãn hiệu được đăng ký và
chất lượng, khả năng bảo hành của họ cũng chỉ tương đương hay nhỉnh hơn
một chút so với các công ty trong nước.Cũng có thể coi những công ty nước
ngoài này là đối thủ trực tiếp của các công ty trong nước, tuy họ họ vừa là đối
tác nhưng họ sử dụng những công ty đối tác của Việt Nam để cạnh tranh với