MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ CHÀO
HÀNG XÚC TIẾN BÁN Ở CÔNG TY KINH DOANH DỊCH VỤ
I. SỰ TỒN TẠI TẤT YẾU VÀ ĐẶC TRƯNG THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ THÔNG TIN DI
ĐỘNG
1. Khái niệm, đặc trưng và phân loại sản phẩm dịch vụ thông tin di động
1.1. Khái niệm
Để có được khái niệm về sản phẩm thông tin di động ta hãy khái quát
bản chất dịch vụ là gì. Sản phẩm dịch vụ là một quá trình hoạt động bao
gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quana hệ giữa người
cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay
đổi quyền sở hữu. Sản phẩm của dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá
phạm vi của sản phẩm vật chất.
Từ quan điểm trên chúng ta thấy rằng dịch vụ phải gắn với hoạt động
để tạo ra nó. Các nhân tố cấu thành dịch vụ không như những hàng hoá hữu
hiệu, chúng không tồn tại dưới dạng hiện vật. Từ đó có khái niệm cụ thể vì
sản phẩm dịch vụ thông tin di động là số sản phẩm để đáp ứng nhu cầu liên
lạc mọi lúc mọi nơi của con người.
* Sản phẩm dịch vụ thông tin di động của những đặc điểm là: Mạng
viễn thông GMS là một trong những ứng dụng của kỹ thuật viễn thông có
nhu cầu lớn nhất và phát triển nhanh. Những hệ thống điện thoại di động
mang tính độc lập cao, có nghĩa là một thuê bao ở Anh không thể sử dụng ở
Việt Nam được và ngược lại. Chính vì vậy hệ thống thông tin di động chung
cho toàn thế giới là rất cần thiết. Hội đồng các cơ quan bưu chính viễn thông
châu âu đã phác thảo một số đặc điểm của hệ thống mới nhằm làm mục tiêu
cho các nước nghiên cứu. Những đặc điểm đó là:
- Có dung lượng cao
- Trở thành tiêu chuẩn chung
- Chi phí cho trang thiết bị thấp
- Sử dụng mạng điện thoại cầm tay thuận tiện
- Độ an toàn cao
- Chất lượng cuộc gọi cao
khác. Dịch vụ có tính mau hỏng như vậy nên việc sản xuất mua bán và tiêu
dùng dịch vụ bị giới hạn bởi thời gian. Cũng từ đặc điểm này mà làm mất
cân đối quan hệ cung cầu cục bộ giữa các thời gian khác nhau trong ngày,
trong tuần trong tháng.
Đặc tính mau hỏng của dịch vụ quy định sản xuất và tiêu dùng dịch vụ
phải đồng thời, trực tiếp trong một thời gian giới hạn nếu không tuân thủ
những điều kiện đó sẽ không có cơ hội mua bán tiêu dùng.
4 đặc tính trên được mô tả ở sơ đồ sau:
Hình 1: Mô tả bốn đặc tính cơ bản của dịch vụ
1.2.2. Phân loại sản phẩm dịch vụ thông tin di động
Sản phẩm dịch vụ gồm dịch vụ chính và các dịch vụ phi khác
- Sản phẩm dịch vụ chính: là dịch vụ đàm thoại mà Công ty cung cấp
cho khách hàng
Không hiện hữu
Dịch vụ
Mau hỏngKhông tách dời
Không đồng nhất
- Sản phẩm dịch vụ phụ:
+ Dịch vụ chuyển tiếp cuộc gọi
+ Dịch vụ chờ cuộc gọi
+ Dịch vụ giữ cuộc gọi
+ Dịch vụ hiển thị cuộc gọi
+ Dịch vụ cấm hiển thị số gọi đến
+ Dịch vụ hộp thư thoại
+ Dịch vụ chuyển Fax….
+ Mobichat
+ Moiphone WAP
+ Mobimail
+ Mobifun.
Do áp dụng được những kỹ thuật mới và vận dụng khả năng của
Có thể nói 10 năm đổi mới đất nước là 10 năm đổi mới các ngành
Bưu chính viễn thông với tư duy đổi mới và tư duy chiến lược phát triển của
ngành là đúng đắn và các biện pháp triển khai có hiệu quả. Trong thời gian
qua ngành Bưu điện đã thực sự tạo nên một cuộc cách mạng trong lĩnh vực
Bưu chính viễn thông Việt Nam.
Các dịch vụ Bưu chính viễn thông hôm nay đã trở thành các dịch vụ
phổ cập đại chúng với đa số các tầng lớp nhân dân được cung cấp rộng rãi
và đều khắp trên toàn quốc tới tận huyện, xã, lên đến đồn biên phòng và đến
tận các hòn đảo xa xôi. Vì thế ngành bưu điện trong quá trình phát triển
luôn coi viễn thông là một trong những lĩnh vực được ưu tiên đầu tư cho
đến năm 1990 dịch vụ viễn thông cung cấp cho khách hàng chỉ là dịch vụ
truyền thông đơn thuần như điện thoại, điện báo, telex chất lượng thấp, đầu
nối chậm, khách hàng phải tốn nhiều thời gian chờ đợi. Đến nay nhờ việc
đưa vào mạng lưới các thiết bị chuyển mạng, truyền dẫn điện tử kỹ thuật số,
nhiều dịch vụ mới đã được cung cấp cho xã hội như: Truyền số liệu, điện
thoại di động, vô tuyến nhắn tin, dịch vụ Intarnet đáp ứng nhu cầu ngày
càng tăng cả về số lượng và chất lượng của người tiêu dùng.
Hôm nay dịch vụ viễn thông đã trở thành một phương tiện thông tin
liên lạc nhanh chóng thuận tiện và bước đầu phổ cập đối với nhiều người
dân không chỉ có ở các vùng thành phố, thị xã mà cả ở nhiều vùng nông
thôn, miền núi, hải đảo xa xôi.
Đến cuối năm 1995 mật độ điện thoại của Việt Nam đã đạt tỷ lệ 1
máy trên 100 người (tương đương 746.000 máy). Mục tiêu này trước đây
dự báo sẽ đạt được vào năm 2000. Đây là kết quả quá trình nỗ lực của
ngành bưu điện Việt Nam. Nếu so sánh với năm 1991 thì Việt Nam chỉ có
0,18 máy/ 100 dân ( cứ tương đương 100.000 máy) tốc độ phát triển bình
quân hàng năm gần 60%.
Giữa năm 1996, chiếc máy điện thoại thứ 1.000.000 (trong đó có cả
điện thoại di động) đã được đưa vào hoạt động trên mạng lưới viễn thông
quốc gia Việt Nam. Vào thời đó Việt Nam là nước thứ 60/142 người trên thế
khổng lồ được truy cập, khai thác, chuyển tải xử lý và khối lượng thông tin
đang tiếp tục ra nhanh với tốc độ vô cùng nhanh chóng. Đất nước ta muốn
hội nhập thế giới thì phải xác định cơ sở hạ tầng Bưu chính viễn thông tốt
hơn, hoạt động với tốc độ nhanh hơn, dung lượng lớn hơn, tính chính xác
cao hơn và kịp thời hơn. Điều đó có nghĩa là nếu không có cơ sở Bưu chính
viễn thông hiện đại hội nhập được với đời sống thông tin thế giới sẽ không
có được những lượng thông tin cần thiết kịp thời và do đó nguy cơ tụt hậu
là điều không chánh khỏi.
Môi trường pháp luật
Một trong những khía cạnh môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến
hoạt động của doanh nghiệp là hệ thống luật pháp. Nhà quản lý phải quan
tâm đến từng chế độ pháp lý riêng biệt tại từng nước hộ đầu tư, cũng như
các mối liên hệ pháp luật giữa những nước này.
Các chế độ pháp luật của một quốc gia ảnh hưởng đến cách thức thực
hiện các nhân tố then chốt của quá trình quản lý. Các hệ thống luật pháp có
thể liên quan đến công việc kinh doanh trong một nước hay nhiều nước.
Nhưng ảnh hưởng chủ yếu của pháp luật là:
- Luật thương mại, hội đồng, bảo vệ các bằng sáng chế, nhãn hiệu
thương mại và quyền tác giả.
- Luật môi trường, những quy định về an toàn và sức khỏe.
- Luật thành lập doanh nghiệp.
- Luật lao động
- Luật chống độc quyền các hiệp hội kinh doanh
- Giá cả
- Thuế.
Việt Nam với chính sách mở cửa đổi mới nền kinh tế đã ra khỏi khủng
hoảng và đang phát triển với tốc độ bền vững, chế độ chính trị, pháp luật ổn
định cũng là mảnh đất tốt cho các nhà đầu tư. Mức tăng trưởng 9 - 10%/
năm của nền kinh tế đang tiếp tục được duy trì trong những năm tới đã mở
ra những nhu cầu to lớn về thông tin trong hoạt động kinh doanh cũng như
Quá trình quản trị Marketing liên quan tới dịch vụ tạo ra sự trao đổi
với tập khách hàng mục tiêu. Mục đích của nó là tạo sự thoả mãn cho các
bên quản trị Marketing có nhiệm vụ tác động đến mức độ thời điểm và cơ
cấu của nhu cầu theo một cách nào đó để giúp Công ty đạt được mục tiêu đề
ra. Về cơ bản có hể hiểu quản trị Marketing là quản trị các hoạt động
Marketing.
- Chào hàng xúc tiến bán là một bộ phận của xúc tiến thương mại của
Công ty (tức là một bộ phận của Marketing xúc tiến bán là các hoạt động
Marketing bao gồm những cửa chính trong một khoảng thời gian xác định
việc chào hàng cơ bản của Công ty theo hướng một lợi ích đặc trưng thuận
lợi cho một tập khách hàng trọng điểm chính xác.
Chính vì vậy quản trị xúc tiến bán là quản trị hoạt động Marketing
- Vậy có thể đưa ra khái niệm quản trị chào hàng xúc tiến bán như
sau:
“ Quản trị chào hàng xúc tiến bán là một quá trình bao gồm phân tích
kế hoạch hoá, triển khai, thực thi và kiểm tra chương trình chào hàng xúc
tiến bán đã đề ra nhằm tối ưu hoá chương trình đó, thu hút được sự chú ý
của khách hàng, đến với sản phẩm và dịch vụ, làm cho sản phẩm và dịch vụ
đó hấp dẫn hơn với một tập khách hàng trọng điểm xác định.
1.2. Mô hình quản trị chào hàng xúc tiến bán
Xác lập mục tiêu ch o h ng xúc tià à ến bán
Lựa chọn công cụ v kà ỹ thuật ch o h ngà à
xúc tiến bán
Thi đố,
đánh cá
v trò chà ơi
Những hội
nghị DN và
các cuộc triển
lãm thương
thông điệp
ch o h ngà à
xúc tiến
bán
Quyết
định quy
mô của
khích
lệ
Quyết
định
điều
kiện
tham gia
Xác định
cấu trúc
nghiệp
vụ ch oà
h ngà
xúc tiến
bán
Quyết định tiền thẩm định v o thà ực thi ch o h ng xúc tià à ến bán
Đánh giá kết quả chiến dịch ch o h ng xúc tià à ến bán