LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN VẬT
LIỆU VÀ CÔNG CỤ DỤNG CỤ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN
XUẤT
I - SỰ CẦN THIẾT PHẢI HẠCH TOÁN VẬT LIỆU, CÔNG CỤ DỤNG CỤ.
1)Khái quát chung về vật liệu và công cụ dụng cụ.
Vật liệu và công cụ dụng cụ là những tài sản lưu động thuộc nhóm hàng tồn
kho. Trong các doanh nghiệp tuỳ theo từng giai đoạn sản xuất kinh doanh khác
nhau mà hàng tồn kho được chia thành các loại khác nhau.
-Ở giai đoạn chuẩn bị sản xuất, hàng tồn kho bao gồm vật liệu và công cụ
dụng cụ, hàng mua đang đi đường.
-Ở giai đoạn sản xuất, hàng tồn kho bao gồm sản phẩm dở dang , bán thành
phẩm.
-Ở giai đoạn tiêu thụ , hàng tồn kho bao gồm: thành phẩm , hàng hoá trong
kho , hàng gửi bán.
Như vậy, vật liệu và công cụ dụng cụ tham gia vào giai đoạn đầu của qúa
trình sản xuất kinh doanh để bắt đầu hình thành lên sản phẩm mới , chúng rất
đa dạng và phong phú về chủng loại, phức tạp về kỹ thuật.
Vật liệu thuộc loại đối tượng lao động là một trong ba yếu tố cơ bản của quá
trình sản xuất kinh doanh (tư liệu lạo động , sức lao động, đối tượng lao động )
Vật liệu là cơ sở vật chất để hình thành nên thực thể sản phẩm, trong mỗi quá
trình sản xuất vật liệu không ngừng chuyển hoá và biến đổi cả về mặt hiện vật
lẫn giá trị về mặt hiện vật, nó chỉ tham gia vào một quá trình sản xuất và khi
tham gia vào quá trình sản xuất vật liệu tiêu dùng toàn bộ không giữ nguyên
trạng thái ban đầu, giá trị của vật liệu được chuyển dịch toàn bộ một lần vào
giá trị sản phẩm mới tạo ra.
Khác với đối tượng lao động, công cụ dụng cụ tham gia vào nhiều chu kỳ sản
xuất, bị hao mòn dần, chuyển dịch từng phần giá trị vào chi phí sản xuất kinh
doanhvà giữ nguyên được hình thái vật chất ban đầu cho đến khi hư hỏng, tốc
độ chu chuyển của công cụ dụng cụ thường nhanh hơn tài sản cố định nhưng
chậm hơn nguyên vật liệu. Vì vậy mặc dù công cụ dụng cụ có những đặc điểm
hao hụt mất mát trong quá trình sản xuất sản phẩm.
- Tính toán đầy đủ, chính xác, kịp thời giá trị vật tư tiêu hao trong sản xuất, trị
giá vốn của thành phẩm và trị giá vật liệu nằm trong trị giá vốn đó .
- Tổ chức bảo quản vật liệu và công cụ dụng cụ trong kho cũng như trên đường
vận chuyển, phải có hệ thống kho tàng , phương tiện vận chuyển phù hợp với
tính chất của từng loại vật tư nhằm hạn chế những hao hụt , mất mát hoặc hư
hỏng xảy ra trong quá trình vận chuyển, bảo quản.
-Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển hoá của vật liệu, hạn chế việc ứ đọng vật tư,
rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh.
3)Nhiệm vụ của tổ chức và hạch toán vật liệu ,công cụ dụng cụ.
Xuất phát từ vị trí yêu cầu quản lý vật liệu và công cụ dụng cụ trong doanh
nghiệp sản xuất các doanh nghiệp cần thực hiện tốt các yêu cầu sau :
Tổ chức ghi chếp, tính toán và phản ánh tổng hợp số liệu về hình thành thu
mua, vận chuyển, bảo quản tình hình nhập xuất và tồn kho vật liệu và công cụ
dụng cụ tính giá thành thực tế của vật liệu và công cụ dụng cụ đủ thu mua
nhập kho :kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu mua vật tư về các mặt :số
lượng , chất lượng, chủng loại ,giá cả và thời gian nhằm đẩm bảo cung cấp đầy
đủ kịp thời đúng chủng loại cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp.
Áp dụng đúng đắn các phương pháp kĩ thuật hạch toán vật liệu và công cụ
dụng cụ hướng dẫn kiểm tra các đơn vị trong doanh nghiệp thực hiện đầy đủ
các hạch toán ban đầu về vật tư hàng hoá (lập chứng từ, luân chuyển chứng
từ)mở các sổ, thẻ kế toán chi tiết để thực hiện hạch toán vật liệu và công cụ
dụng cụ đúng chế độ qui định nhằm đẩm bảo sử dụng thống nhất trong công
tác kế toán.
Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản dự trữ và sử dụng vật tư phát hiện
ngăn ngừa và đề xuất các biện pháp xử lý vật tư thừa, thiếu ,ứ đọng kém hoặc
mất phẩm chất ,tính toán chính xác số lượng và giá trị vật tư thực tế đưa vào
sử dụng đủ tiêu hao quá trình sản xuất kinh doanh.Phân bổ hợp lý và chính xác
giá trị vật liệu và công cụ dụng cụ đủ tiêu hao vào các đối tượng sử dụng(tính
vào chi phí sản xuất kinh doanh của các bộ phận, đơn vị sử dụng)
vật liệu chính gắn liền với từng đơn vị sản xuất cụ thể, nguyên vật liệu chính
cũng bao gồm cả nủa thành phẩm mua ngoài với mục đích tiếp tục quá trình
sản xuất chế tạo sản phẩm.
- Vật liệu phụ:là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất không
cấu thành nên thực thể chính của sản phẩm mà nó được sử dụng kết hợp với
nguyên vật liệu chính để hoàn thiện và nâng cao tính năng chất lượng của sản
phẩm hoặc được sử dụng để đảm bảo cho công cụ lao động hoạt động bình
thường hay dùng để phụ vụ cho nhu cầu kĩ thuật và quản lý.
- Nhiên liệu: Về thực chất nó là một loại vật liệu phụ nhưng có tác dụng cung
cấp nhiệt lượng trong quá trình sản xuất, tạo điều kiện cho quá trình chế tạo
sản phẩm ra bình thường, nhiên liệu có thể tồn tại ở thể rắn thể lỏng hoặc thể
khí .. .
- Phụ tùng thay thế:Là những loại vật tư hay sản phẩm dùng để thay thế hoặc
sửa chữa tài sản cố định và công cụ dụng cụ sản xuất .
- Thiết bị và vật liệu xây dựng cơ bản:Là những loại vật liệu và thiết bị được sử
dụng cho công việc xây dựng cơ bản, tái tạo tài sản cố định . Đối với thiết bị xây
dựng cơ bản thì bao gồm :thiết bị cần lắm, thiét bị không cần lắp công cụ-khí
cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt vào các công trình xây dựng cơ bản .
- Phế liệu thu hồi :là những loại vật liệu thu hồi từ quá trình sản xuất kinh
doanh để sử dụng lại hoặc bán ra ngoài.
Để đảm bảo thuận tiện tránh nhầm lẫn cho công tác quản lý và hạch toán về
số lượng cũng như giá trị đối với từng thứ vật liệu, trên cơ sở phân loại vật
liệu doanh nghiệp phải xây dựng sổ danh điểm vật liệu, xác định thống nhất
tên gọi của từng thứ vật liệu, kí mã hiệu, qui cách và số hiệu của từng thứ vật
liệu.
1.3)Một số cách phân loại khác
Thông thường để tiện cho việc theo dõi và hạch toán vật liệu theo khía cạnh
khác nhau, người ta còn phân loại vật liệu theo một số khía cạnh sau:
- Theo nguồn cung cấp vật liệu thì bao gồm :vật lieej mua ngoài, vật liệu nhập
từ hoạt động gia công tự chế, vật liệu nhận góp vốn liên doanh, vật liệu thu hồi
lý những chi phí cấu thành nên giá trị của vật liệu và công cụ dụng cụ, những
chi phí bất hợp lý, bất hợp lệ và những chi phí kém hiệu quả.
- Yêu cầu thống nhất:Yêu cầu này đồi hỏi việc tính giá vật liệu và công cụ dụng
cụ phải đẩm bảo thống nhất về nội dung và phương pháp tính giá giữa các kỳ
hach toán của doanh nghiệp làm cơ sở cho việc so sánh, đấnh giá các chỉ tiêu
kinh tế tài chính giã các chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
2.2)Các nguyên tắc tính giá:
Có nhiều nguyên tắc tính giá được kế toán thừa nhận, nhưng trong phạm vi
đề tài này chỉ trình bày những nguyên tắc cơ bản có liên quan đến tính giá vật
liệu và công cụ dụng cụ. Trước hết để đi vào nghiên cứu các qui tắc có liên
quan đến giá vật liệu và công cụ dụng cụ, chúng ta phải nghiên cứu khái niệm
hoạt động liên tục:
- Hoạt động liên tục:Là việc ghi chép kế toán đặt trên giả thiết là đơn vị hoạt
động vô thời hạn hoặc ít nhất là không bị giải thể trong một tương lai gần
(thường là 12 tháng). Do vậy khi lập báo cáo tài chính kế toán được bán theo
giá nào khi đơn vị đó ngừng tồn tại, có nghĩa là kế toán quan tâm đến giá vốn
hơn là giá thị trường.
- Nguyên tắc giá phí: Giá phí là giá được định ra cho một nghiệp vụ kinh tế
nhằm đo lường, tính toán giá trị thực tế của một tài sản khi mua trong chuẩn
mực kế toán quốc tế số 2 ban hành 10/1995 đã đưa ra định nghĩa giá phí vật
liệu và công cụ dụng cụ mua vào như sau:
+ Giá thành lịch sử cảu vật liệu và công cụ dụng cụ là tổng cavs chi phí mua
hàng, giá trị chế biến và các chi phí chế biến khác phải gánh chịu trong việc
vận chuyển chúng.
+ Giá trị mua hàng bao gồm:Giá mua hàng kể cả các loại thuế nhập khẩu cùng
các loại thuế mua hàng khác mà có thể tính trực tiếp và được trừ các khoản
chiết khấu mua, giảm giá và hàng mua bị trả lại.
- Nguyên tắc nhất quán liên tục: Theo nguyên tắc này các quá trình phải áp
dụng tất cả các khái niệm, các nguyên tắc các chuẩn mực và các phương pháp
tính toán chuẩn mực trên cơ sở nhất quán từ kỳ này sang kỳ khác. Nguyên tắc
+ Với vật liệu và công cụ dụng cụ nhận góp vốn liên doanh, cổ phần thì giá thực
tế là giá do hội đồng liên doanh qui định.
+ Giá thực tế của vật liệu và công cụ dụng cụ thu nhập từ phế liệu thu hồi được
đánh giá theo giá thực tế có thể sử dụng, có thể tiêu thụ theo giá ước tính.
3.1.2 tính giá đầu ra của vật liệu, công cụ - dụng cụ
Việc lựa chọn phương pháp tính giá thực tế vật liệu, công cụ – dụng cụ
xuất kho phải căn cứ vào đặc điểm của từng doanh nghiệp về số lượng danh
điểm, số lần nhập, xuất vật liệu, công cụ – dụng cụ, trình độ của nhân viên kế
toán, thủ kho, điều kiện kho tàng của doanh nghiệp. Các phương pháp tính giá
thực tế vật liệu, công cụ – dụng cụ xuất kho thường dùng là:
* Giá thực tế đích danh ( tính trực tiếp )
Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có điều kiện bảo
quản riêng từng lô vật liệu, công cụ – dụng cụ nhập kho, vì vậy khi xuất kho lô
nào thì tính theo giá thực tế nhập kho đích danh của lô đó.
Ưu điểm : là công tác tính giá vật liệu, công cụ – dụng cụ được thực hiện
kịp thời và thông qua việc tính giá vật liệu, công cụ – dụng cụ xuất kho kế toán
có thể theo dõi được thời hạn bảo quản của từng lô vật liệu, công cụ – dụng cụ
Nhược điểm: đòi hỏi doanh nghiệp phải có điều kiện kho tàng để bảo
quản riêng từng lô vật liệu, công cụ – dụng cụ nhập kho.
* Phương pháp nhập trước - xuất trước ( FIFO)
Theo phương pháp này vật liệu, công cụ – dụng cụ được tính giá thực tế
xuất kho trên cơ sở giả định lô vật liệu, công cụ – dụng cụ nào nhập vào kho
trước sẽ được xuất dùng trước, vì vậy lượng vật liệu, công cụ – dụng cụ xuất
kho thuộc lần nhập nào thì tính theo giá thực tế của lần nhập đó.
Ưu điểm: cho phép kế toán có thể tính giá vật liệu, công cụ – dụng cụ xuất
kho kịp thời.
Nhược điểm: phải tính giá theo từng danh điểm vật liệu, công cụ – dụng
cụ và phải hạch toán chi tiết vật liệu, công cụ – dụng cụ tồn kho theo từng loại
giá nên tốn nhiều công sức. Ngoài ra, phương pháp này làm cho chi phí kinh
doanh của doanh nghiệp không phản ánh kịp thời giá cả thị trường của vật
vật liệu, công cụ – dụng cụ. Căn cứ vào lượng vật liệu, công cụ – dụng cụ xuất
dùng trong kỳ và giá đơn vị bình quân để xác định giá thực tế xuất trong kỳ.
Giá đơn vị
bình quân cả
kỳ dự trữ
x
Giá thực tế VL, CCDC tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Lượng thực tế VL, CCDC tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Ưu điểm: giảm nhẹ được việc hạch toán chi tiết vật liệu, công cụ – dụng
cụ so với phương pháp nhập trước- xuất trước, không phụ thuộc vào số lần
nhập, xuất của từng danh điểm vật liệu, công cụ – dụng cụ.
Nhược điểm: dồn công việc vật liệu, công cụ – dụng cụ xuất kho vào cuối
kỳ hạch toán nên ảnh hưởng đến tiến độ của các khâu kế toán khác, đồng thời
phương pháp này cũng phải tính giá theo từng danh điểm vật liệu, công cụ –
dụng cụ.
- Phương pháp giá thực tế bình quân sau mỗi lần nhập
Theo phương pháp này sau mỗi lần nhập kế toán phải xác định giá bình
quân của từng danh điểm vật liệu, công cụ – dụng cụ. Căn cứ vào giá đơn vị
bình quân và lượng vật liệu, công cụ – dụng cụ xuất kho giữa hai lần nhập kế
tiếp để kế toán xác định giá thực tế vật liệu, công cụ – dụng cụ xuất kho.
Giá đơn vị Giá thực tế VL, CCDC tồn kho sau mỗi lần nhập
bình quânsau =
mỗi lần nhập Lượng thực tế VL, CCDC tồn sau mỗi lần nhập
Ưu điểm: phương pháp này cho phép kế toán tính giá vật liệu, công cụ –
dụng cụ xuất kho vừa chính xác vừa cập nhật.
Nhược điểm: tốn nhiều công sức, tính toán nhiều lần.
Phương pháp này chỉ sử dụng ở những doanh nghiệp có ít danh diểm vật
liệu, công cụ – dụng cụ và lần nhập của mỗi loại không nhiều.
- Phương pháp giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước
Theo phương pháp này kế toán xác định giá đơn vị bình quân dựa trên
Đối với các doanh nghiệp có nhiều loại vật liệu, công cụ – dụng cụ giá cả
thường xuyên biến động, nghiệp vụ nhập – xuất vật liệu, công cụ – dụng cụ
diễn ra thường xuyên thì việc hạch toán theo giá thực tế trở nên phức tạp, tốn
nhiều công sức và nhiều khi không thực hiện được. Do đó việc hạch toán hàng
ngày nên sử dụng giá hạch toán.
Giá hạch toán là loại giá ổn định doanh nghiệp có thể sử dụng trong thời
gian dài để hạch toán nhập, xuát, tồn kho vật liệu, công cụ – dụng cụ trong khi
chưa tính được giá thực tế của nó. Doanh nghiệp có thể sử dụng giá kế hoạch
hoặc giá mua vật liệu, công cụ – dụng cụ ở một thời điểm nào đó hay giá vật
liệu, công cụ – dụng cụ bình quân tháng trước để làm giá hạch toán. Sử dụng
giá hạch toán để giảm bớt khối lượng cho công tác kế toán nhập, xuất vật liệu,
công cụ – dụng cụ hàng ngày nhưng cuối tháng phải tính chuyển giá hạch toán
của vật liệu, công cụ – dụng cụ xuất, tồn kho theo giá thực tế. Việc tính chuyển
dựa trên cơ sở hệ số giá giữa giá thực tế và giá hạch toán.
Giá thực tế VL, CCDC + Giá thực tế VL, CCDC
Hệ số giá VL, tồn kho đầu kỳ nhập trong kỳ
CCDC =
Giá hạch toán VL, CCDC + Giá hạch toán VL, CCDC
tồn kho đầu kỳ nhập trong kỳ
Giá thực tế Hệ số giá Giá hạch toán
VL, CCDC = VL, CCDC x VL, CCDC
xuất kho xuất kho
Ưu điểm: phương pháp hệ số giá cho phép kết hợp chặt chẽ hạch toán chi
tiết và hạch toán tổng hợp về vật liệu, công cụ – dụng cụ trong công tác tính
giá, nên công việc tính giá được tiến hành nhanh chóng và không bị phụ thuộc
vào số lượng danh điểm vật liệu, công cụ – dụng cụ, số lần nhập, xuất của mỗi
loại nhiều hay ít.
Nhược điểm: phương pháp này thích hợp với doanh nghiệp có nhiều
chủng loại vật liệu, công cụ – dụng cụ và đội ngũ kế toán có chuyên môn cao.
kho và trên các sổ sách kế toán, đồng thời chứng từ kế toán còn là căn cứ để
kiểm tra giám sát tình hình biến động về số lượng từng thứ vật liệu và công cụ
dụng cụ thực hiện quản lý có hiệu quả phục vụ nhu cầu về vật liệu và công cụ
dụng cụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Theo chế độ chứng từ kế toán qui định và ban hành theo quyết định
1141/TC/QĐ-CĐKT ngày 01/11/1995 của bộ tài chính các chứng từ kế toán
vật liệu và công cụ dụng cụ bao gồm:
-Phiếu nhập kho (mẫu số 01-VT) dùng để xác định số lượng vật tư sản
phẩm, hàng hoá nhập kho làm căn cứ ghi thẻ kho, thanh toán tiền hàng xác
định tránh nhiệm với người liên quan và ghi sổ kế toán phiếu nhập kho được
sử dụng trong mọi trường hợp nhập kho của mọi vật liệu và công cụ dụng cụ.
-Phiếu xuất kho (mẫu số 02-VT)để theo dõi chặt chẽ số lượng vật tư sản
phẩm hàng hoá xuất kho các bộ phận sử dụng trong đơn vị làm căn cứ để hạch
toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm và kiểm tra việc sử dụng, thực
hiện điịnh mức tiêu hao vật tư, phiếu xuất kho được lập cho một hay nhiều thứ
vật tư, sản phẩm , hàng hoá cùng một kho dùng cho một đối tượng hạch toán
chi phí hoặc cùng một mục đích sử dụng.
-Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ(mẫu 03-VT) Được dùng để theo
dõi số lượng vật tư, sản phẩm, hàng hoá di chuyển từ kho này đến kho khác
trong nội bộ đơn vị hoặc đến đơn vị khác trực thuộc, phiếu là căn cứ để thủ
kho ghi vào thẻ kho, kế toán ghi vào sổ chi tiết, làm chứng từ vận chuyển trên
đường.
-Phiếu xuất vật tư theo hạn mức (mẫu 04-VT)
Theo dõi số lượng vật tư xuất kho trong trường hợp lập phiếu xuất kho
một lần theo định mức nhưng xuất kho nhiều lần trong một tháng cho bộ phận
sử dụng vật tư theo hạn mức, phiếu này làm căn cứ để hạch toán chi phí sản
xuất, tính giá thành sản phẩm và kiểm tra việc sử dụng vật tư theo định mức.
-Biên bản kiểm nghiệm (mẫu số 05-VT)xác định qui cách và số lượng vật
tư, sản phẩm hàng hoá trước khi nhập kho, làm căn cứ để qui trách nhiệm
trong thanh toán và bảo quản.
phục vụ cho việc ghi sổ kế toán chi tiết được đơn giản nhanh chóng và kịp thời.
3)Các phương pháp hạch toán chi tiết và công cụ dụng cụ.
3.1)Phương pháp thẻ song song.
Nội dung hạch toán chi tiết vật liệu theo phương pháp thẻ song song giữa
kho và phòng kế toán như sau:
+ Ở kho: việc ghi chép tình hình nhập – xuất – tồn kho hàng ngày do thủ
kho tiến hành trên thẻ kho và chỉ ghi theo số lượng.
Khi nhập – xuất các chứng từ nhập – xuất vật liệu thủ kho phải kiểm tra
tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ rồi tiến hành ghi chép số thực nhập, số
thực xuất vào chứng từ và thẻ kho. Cuối ngày tính ra số tồn kho ghi vào thẻ
kho. Định kỳ thủ kho gửi ( hoặc kế toán xuống kho nhận ) các chứng từ nhập –
xuất đã được phân loại theo từng thứ vật liệu cho phòng kế toán.
+ Ở phòng kế toán: kế toán sử dụng sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu để ghi
chép tình hình nhập – xuất – tồn kho theo chỉ tiêu hiện vật và chỉ tiêu giá trị. Về
cơ bản sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu có kết cấu giống như thẻ kho nhưng có
thêm các cột để ghi chép chỉ tiêu hiện vật và giá trị.
Cuối kỳ, kế toán tiến hành đối chiếu số liệu trên “Thẻ kế toán chi tiết vật
liệu “ với “Thẻ kho” tương ứng do thủ kho chuyển đến, đồng thời từ “Sổ kế toán
chi tiết vật liệu” kế toán lấy số liệu để ghi vào “Bảng tổng hợp nhập – xuất –
tồn kho vật liệu” theo từng danh điểm, từng loại vật liệu để đối chiếu với số
liệu kế toán tổng hợp nhập, xuất vật liệu.
Ưu điểm: phương pháp này rất đơn giản trong khâu ghi chép và dễ pháp
hiện sai sót, đồng thời cung cấp thông tin nhập – xuất – tồn kho của từng danh
điểm vật liệu kịp thời, chính xác.
Nhược điểm: việc ghi chép trùng lắp (số lượng nhập – xuất – tồn được
theo dõi trên cả kho và phòng kế toán). Ngoài ra việc kiểm tra, đối chiếu chủ
yếu tiến hành vào cuối kỳ do vậy hạn chế chức năng kiểm tra kịp thời của kế
toán. Do vậy, phương pháp này chỉ sử dụng được khi doanh nghiệp có ít danh
điểm vật liệu.
Mẫu sổ và sơ đồ kế toán chi tiết vật liệu theo phương pháp thẻ song
Thẻ hoặc sổ chi tiết vật tư
Bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn kho vật tư
Kế toán tổng hợp
BẢNG TỔNG HỢP NHẬP – XUẤT - TỒN KHO VẬT LIỆU
Tháng … năm …
Số danh
điểm
Tên
vật
liệu
Tồn đầu
tháng
Nhập trong
tháng
Xuất trong
tháng
Tồn cuối
tháng
SL ST SL ST SL ST SL ST
Sơ đồ hạch toán chi tiết theo phương pháp thẻ song song
Ghi hàng ngày
Quan hệ đối chiếu
Ghi cuối tháng
3.2. Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
Nội dung của phương pháp
+ Ở kho: việc ghi chép ở kho của thủ kho cũng được thực hiện trên thẻ kho
giống như phương pháp thẻ song song.
+ Ở phòng kế toán: kế toán chỉ mở “ Sổ dối chiếu luân chuyển” theo từng
kho, cuối kỳ trên cơ sở phân loại chứng từ nhập, xuất theo từng danh điểm vật
liệu và theo từng kho, kế toán lập “Bảng kê nhập vật liệu”, “Bảng kê xuất vật
Tên
vật
liệu
Đơn
vị
tính
Đơn
giá
Số dư
đầu T1
Luân chuyển T1
Số dư
cuối
T2
SL ST Nhập Xuất SL ST
SL ST SL ST
Sơ đồ hạch toán chi tiết vật liệu theo phương pháp sổ đối chiếu
luân chuyển
Ghi hàng ngày Ghi cuối tháng Đối chiếu
3.3. Phương pháp số dư
+ Ở kho: giống các phương pháp trên. Định kỳ, sau khi ghi thẻ kho thủ kho
phải tập hợp toàn bộ chứng từ nhập, xuất kho phát sinh theo từng vật tư quy
định. Sau đó, lập phiếu giao nhận chứng từ và nộp cho kế toán kèm theo các
chứng từ nhập, xuất vật tư.
Ngoài ra thủ kho còn phải ghi số lượng vật tư tồn kho cuối tháng theo
từng danh điểm vật tư vào sổ số dư. Sổ số dư được kế toán mở cho từng kho và
dùng cho cả năm, trước ngày cuối tháng, kế toán giao cho thủ kho để ghi vào
sổ.Ghi xong thủ kho phải gửi về phòng kế toán để kiểm tra và tính thành tiền.
Số hiệu Số tiền Ngày …. tháng … năm
Người nhận Người giao
SỔ SỐ DƯ
Năm
Kho
Phiếu nhập kho
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Sổ số dư
Phiếu giao nhân chứng từ nhập
Bảng luỹ kế nhập, xuất, tồn kho vật liệu
Phiếu giao nhận chứng từ xuất
Bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn vật liệu
Sổ kế toán tổng hợp về vật liệu
Số
danh
điểm
Tên
vật
liệu
Đơ
n vị
tín
h
Đơn
giá
Số
Từ
ngày..Đ
ến
ngày..
Cộng
nhập
Từ
ngày..Đ
ến
ngày..
Từ
ngày..
Đến
ngày
Cộng
xuất
Sơ đồ hạch toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp số dư