PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TÂY GIAI ĐOẠN 2001 2005 - Pdf 64

PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HÀ TÂY GIAI ĐOẠN 2001 2005
I. NHỮNG CĂN CỨ CƠ BẢN CHO VIỆC PHÁT TRIỂN TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TỈNH
HÀ TÂY GIAI ĐOẠN 2001-2005.
1. Quan điểm phát triển TTCN Hà Tây.
1.1. Phục hồi và phát triển TTCN truyền thống
-Việc phục hồi phát triển các làng nghề truyền thống không chỉ có
ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn về mặt văn hoá xã hội. Vì khi
bán sản phẩm truyền thống không chỉ có ý nghĩa là bán " giá trị sử dụng" mà
còn bán " giá trị văn hoá nghệ thuật " nằm trong sản phẩm đó. vì thế tính chất
truyền thống, phong cách riêng của địa phương, tính độc đáo và hình thức sản
phẩm, thậm chí cả địa danh làm ra giá trị sản phẩm đều làm tăng giá trị sản
phẩm . Mặt khác làng nghề truyền thống còn là điểm du lịch kỳ thú cho khách
nước ngoài. Quan điểm cơ bản là phải đánh giá đúng vai trò của Làng nghề
trong điều kiện công nghiệp hoá -hiện đại hoá .
Kỹ thuật trực tiếp làm tăng giá trị kinh tế, Văn hoá và xã hội vừa trực
tiếp làm tăng giá trị kinh tế vừa là cơ sở điều kiện phát triển lâu dài của làng
nghề .
Phải giữ gìn giá trị văn hoá của làng nghề, bảo vệ và tu bổ cảnh quan
của làng nghề, tôn tạo các di tích của làng nghề, phục hồi các lễ hội và phong
tục tập quán của làng nghề là điều kiện cần thiết tạo cho việc giữ dìn bản sắc
văn hoá dân tộc và phát triển các làng nghề trong hiện tại và tương lai.
Xây dựng các làng nghề thành điểm du lịch và gắn kết với các điểm du lịch
trong việc cung cấp sản phẩm và giới thiệu văn hoá huỵện, tỉnh, để tạo ra giá
trị kinh tế cho huyệnvà tỉnh ...
-Kết hợp yếu tố truyền thống với các yếu tố hiện đại.
Truyền thống được hình thành và phát triển nhiều đời tạo thành phong
cách riêng cho sản phẩm. Chính truyền thống là yếu tố quyết định để chiếm lĩnh
thị trường. Song sản phẩm phải luôn được cải thiện, cải tiến, phù hợp với cuộc
sống mới trong điều kiện khoa học kỹ thuật văn hoá xã hội cao hơn. (Chẳng
hạn sản phẩm điêu khắc trạm trổ, dệt may... cần kết hợp công nghệ hiện đại và

tiềm năng này đưa kinh tế du lịch trở thành ngành công nghiệp không khói ,
trước hết cần phát triển TTCN với phát triển du lịch cụ thể :
- Coi du lịch là thị trường tiêu thụ các sản phẩm TTCN.
- Phát triển các sản phẩm TTCN trên cơ sở gắn kết với yếu tố truyền
thống của cảnh quan du lịch Làng nghề.
- Kết hợp làng nghề TTCN với du lịch là biện pháp để phát huy bản sắc
văn hoá dân tộc .
1.3. Phát triển TTCN theo hướng sản xuất hàng hoá .
Trong lịch sử phát triển của mình loài người đã trải qua các hình thức
phát triển từ thấp đến cao , kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc đến kinh tế hàng
hoá. Sự ra đời của kinh tế hàng hoá đánh dấu bước tiến có ý nghĩa vô cùng to
lớn trong quá trình phát triển loài người.
Trong nền kinh tế hàng hoá , các quan hệ kinh tế đều được biểu hiện
thông qua quan hệ hàng hoá , tiền tệ và đều được thực hiện trên thị trường .
Trong sản xuất hàng hoá , dịch vụ được tạo ra nói chung nhằm mục đích trao
đổi , mục đích mua bán trên thị trường . Sản xuất hàng hoá có vai trò hết sức
to lớn đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội mỗi quốc gia , nó góp phần
thúc đẩy sự phát triển của các ngành sản xuất vật chất nói chung và ngành
nghề TTCN nói riêng.
Vai trò của kinh tế hàng hoá được thể hiện trước hết ở chỗ , nó tạo động
lực và buộc mỗi người không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
bằng cách giảm chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm , sao cho hao phí lao
động cá biệt phù hợp với hao phí lao động xã hội cần thiết để tạo ra một đơn
vị sản phẩm , chỉ có như vậy người sản xuất nói chung và sản xuất TTCN nói
riêng mới có thể thực hiện được tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng nhờ đó
TTCN mới có hiệu quả . Mặt khác cũng xuất phát từ sản xuất hàng hoá tạo ra
sự phân công lao động hợp lý hình thành các ngành nghề, các cơ sở , các vùng
sản xuất ... Một trong những biểu hiện quan trọng nhất của quá trình phân
công lao động xã hội là quá trình chuyên môn hoá tạo ra nhiều sản phẩm có
chất lượng , số lượng phù hợp với thị hiếu trên cơ sở khai thác hiệu quả tài

Mục tiêu này hoàn toàn có cơ sở và có thể thực hiện được bởi tốc độ
tăng trưởng thời kỳ 1991-1995 là 9,8%; thời kỳ 1996-1999 là 7,18% cao hơn
cả nước.
-Từng bước cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân về văn
hoá, giáo dục đào tạo, y tế xã hội. Đến năm 2001 không còn hộ đói, giảm hộ
nghèo xuống còn 5-6%. Xây dựng nông thôn mới theo hướng sản xuất hàng
hoávà từng bước "làng nghề hoá" bằng phát triển công nghiệp và dịch vụ
nông thôn. Để đạt được mục tiêu đó CN-TTCN phải có hướng đi cụ thể, khẳng
định vai trò to lớn trong giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và các
vấn đề xã hội ...
Mục tiêu về chuuyển dịch cơ cấu kinh tế Hà Tây 2001-2005
Năm
Chỉ tiêu
2001 2005
CN-TTCN (%) 30 35
Nông nghiệp (%) 40 30
Dịch vụ (%) 30 35
GDP bình quân (USD) 360 700
Tốc độ tăng trưởng CN-TTCN
(%)
12 13,5
Để Thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hà Tây đề ra cho
công nghiệp như sau:
- Ngành CN - TTCN Hà Tây phấn đấu năm 2001có tốc độ tăng trưởng
12%, thời kỳ 2001-2005 tốc độ tăng trưởng 12-12,5%.
- Đưa sản xuất công nghiệp của tỉnh lên bước phát triển mới theo
hướng hiện đại hoá. Ưu tiên các ngành sản xuất chế biến nông sản, vật liệu xây
dựng, đồ uống, dệt may giầy da và mặt hàng thủ công mỹ nghệ .
- Công nghiệp Hà Tây xác định nhiệm vụ phục vụ nông nghiệp và công
nghiệp hoá nông thôn là trọng tâm.

Mục tiêu phát triển TTCN Hà Tây giai đoạn 2001-2005
Năm
Chỉ tiêu
Đ
ơn vị
200
1
2001-2005
Tốc độ
phát triển (%)
2
001
20
05
- Giá trị SL
t
ỷ đồng
1.500 2.000
1
2%
13-
13,5%
- Đóng góp
ngân sách
t
ỷ đồng
15 25
- Thu hút lao
động
n

- Chế biến nông sản thực phẩm, sản phẩm ăn uống .
- Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, mây tre đan, chạm trổ, khảm trai
- Dệt may, dệt lụa tơ tằm ..
-Sản xuất vật liệu xây dựng phục vụ cho nhu cầu xây dựng trong tỉnh và
cung cấp cho thị trường lớn Hà Nội ...
1.2. Quy hoạch TTCN theo địa phương vùng lãnh thổ.
Quy hoạch TTCN theo vùng lãnh thổ là quy hoạch việc phát triển các cơ
sở sản xuất trên một vùng nhất định, có liên quan đến điều kiện tự nhiên về đất
đai, khả năng cung cấp nguyên vật liệu, và điều kiện xã hội ... Quy hoạch theo
vùng lãnh thổ tạo điều kiện cho phép chọn địa điểm xây dựng từng cơ sở có
căn cứ xắc đáng. Chính vì vậy việc quy hoạch vùng lãnh thổ cần xác định .
-Xây dựng các xí nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, cần bố trí gần
hoặc trong vùng có nguyên liệu .
-Các xí nghiệp phải bố trí vào các khu và cụm công nghiệp theo định
hướng ngành nghề.
Đối với thị xã : Tận dụng tối đa cơ sở hiện có, đầu tư chiều sâu nâng
cao năng xuất và chất lượng, đồng thời xây dựng các cụm điểm công nghiệp.
Đối với thị xã Hà Đông xây dựng các cụm điểm công nghiệp La Khê, Van Phúc,
Cầu Bưởu và phát triển TTCN dệt truyền thống .Đối với thị xã Sơn Tây cần phát
triển TTCN may, chế biến bánh kẹo, đồ uống, sữa chữa, sản xuất vật liệu xây
dựng tại các xã Đường lâm, Trung Hưng, Thanh mỹ ; chế biến lâm sản gổ xẽ,
giường tủ ở các Xã Xuân Sơn, Sơn Đồng ...
Đối với các huyện: Cần xây dựng vùng nguyên liệu cung cấp cho các xí
nghiệp chế biến ở thị xã và vùng lân cận, duy trì và phát triển các ngành nghề
thủ công mỹ nghệ trên các làng nghề, nhân rộng và phát triển các làng nghề
mới, sản xuất nhiều mặt hàng kết hợp với thiết bị công nghệ mới vào sản xuất
kinh doanh tăng nhanh sản lượng và chất lượng .
-Huyện Ba Vì đây là huyện có diện tích lớn nhất tỉnh, có điều kiện phát
triển các vùng nguyên liệu, mặt khác cần đẩy nhanh sản xuất các mặt hàng
phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa, đặc biệt là tận dụng thị trường du lịch

-Các huyện khác (Chương Mỹ, Phúc thọ, Thanh Oai, ứng Hoà, Thạch
Thất...) lại tập trung nâng cao chất lượng và số lượng sản phẩm hiện có, trên
cơ sở tận dụng tối đa nguồn lực điạ phương vào phát triển TTCN và cũng tập
trung vào một số mặt hàng sau: Sản xuất vật liệu xây dựng ; Chế biến nông sản
; chế biến lâm sản ; hàng dệt, thủ công mỹ nghệ .
2. Phương hướng phát triển một số ngành TTCN chủ chốt.
2.1. Ngành vật liệu xây dựng (góm, sứ, thủy tinh).
Trong những năm qua, ngành này có tốc độ tăng trưởng rất nhanh
20,8%/năm. Trong giai đoạn tới cần duy trì tốc độ phát triển này, và đưa tỷ
trọng lên 30% vào giai đoạn 2001-2005.
Thời gian tới nhu cầu xây dựng nhà ở và cơ sở hạ tầng nông thông rất
lớn. Để tiếp tục phát triển ngành khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng
cần:
- Quy hoạch các địa điểm khai thác đất, đá, cát,... các khu sản xuất gạch,
gốm sứ, thủy tinh,... hạn chế ảnh hưởng đến môi trường và xâm phạm đất
canh tác. Cải tiến lò thủ công, từng bước thay thế bằng lò tuy nen, sử dụng
cơ khí trong các khâu luyện đất, dập sản phẩm, vận chuyển,... Đầu tư công
nghệ tiên tiến, sử dụng có hiệu quả tài nguyên khoáng sản sẵn có ở địa
phương để sản xuất vật liệu xây dựng đáp ứng nhu cầu trong và ngoài
tỉnh,...
- Tiếp tục phát huy thế mạnh của ngành hiện có dựa trên những đặc
điểm ưu đãi về tài nguyên, khoáng sản vốn là thế mạnh của tỉnh. Khuyến
khích phát triển các làng nghề gốm, sứ truyền thống, đổi mới sản phẩm phù
hợp với thị hiếu người tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
2.2. Ngành chế biến nông sản thực phẩm.
- Phát triển ngành TTCN chế biến nông sản thực phẩm trên cơ sở phát
triển nông nghiệp của tỉnh, đảm bảo mục tiêu gia tăng giá trị nông sản, thực
phẩm, giảm tới mức thấp nhất hư hao sau thu hoạch. Tăng cường sản xuất
các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của địa phương trong nước và hướng tới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status