THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TÂY - Pdf 64

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ
TÂY
I. CÁC ĐIỀU KIỆN TƯ NHIÊN KINH TẾ - XÃ HỘI TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH
TẾ VÀ TTCN HÀ TÂY
1. Điều kiện tự nhiên Hà Tây.
Cũng như các lĩnh vực sản xuất khác, TTCN Hà Tây cũng chựu ảnh
hưởng của yếu tố tự nhiên. Các yếu tố này bao gồm : Vị trí địa lý, tài nguyên
khoáng sản và nhiều nhân tố khác.
1.1. Về vị trí địa lý.
Hà Tây có toạ độ địa lý 20,31
o
-21,17
o
vĩ bắc và 105,17 -106
o
kinh đông
bao quanh thành phố Hà Nội về phía tây Nam. Vơí bốn cửa ngõ vào thủ đô qua
các quốc lộ 1; 6 ; 32, và hệ thống đường thuỷ. Diện tích chung 2192 km
2
phía
đông giáp Hà Nội, Hải Hưng, phía tây giáp với Hoà Bình, phía Bắc giáp với
Vĩnh Phúc và phía Nam giáp với Hà Nam.
Hà Tây nằm cạnh khu tam giác kinh tế Hà Nội -Hải Phòng-Quãng Ninh,
hạt nhân kinh tế miềm bắc, nằm trên khu chuyển tiếp từ tây bắc và trung du
miền núi phía bắc, với đồng bằng Sông Hồng qua một mạng lưới giao thông
đường thuỷ, đường bộ, đường sắt và các bến cảng tương đối phát triển.
Với những vị trí tạo cho Hà Tây những thuận lợi:
-Có thành phố Hà Nội và các tỉnh phụ cận là thị trường tiêu thụ lớn các
sản phẩm của Hà Tây (Hàng tiêu dùng thủ công mỹ nghệ, du lịch và nghĩ
nghơi... )
-Hà Tây là địa bàn mở rông của thủ đô Hà Nội qua xây dựng thành phố

III, 62% cấp II, và 14% cấp I).
Từ những số liệu và nhận định trên, với dân số tập trung ở nông thôn là
lớn, mặt khác nơi đây lại có nhiều làng nghề thủ công nghiệp truyền thống,
thêm vào đó là trình độ dân trí khá, điều đó cho thấy để tránh tình trạng di cư
tự do gây sức ép cho khu vực thành phố, đô thị về mặt lao động, mặt khác giải
quyết tốt vấn đề lao động và nguồn lực tại chỗ, thì vấn đề phát triển TTCN là
hết sức cần thiết cho tỉnh Hà Tây.
2.2. Tài nguyên cảnh quan Di tích Lịch sử.
Theo thống kê của Bộ Văn Hoá - Thông Tin , Hà Tây là tỉnh có số lượng
di tích đứng thứ ba cả nước, sau (Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh).Với gần 300 di tích.
Điều quan trọng hơn là nhiều di tích quý giá gắn liền với lịch sử phát triển của
dân tộc, trong đó nổi bật là hệ thống chùa chiền và đền thờ cổ với nhiều lễ hội,
làng việt cổ, các làng nghề truyền thống.
Sự hiện diện của vùng núi, đặc biệt là núi Ba Vì và dãi đá vôi có nhiều
hang động đẹp, với rừng nguyên sinh, khí hậu mát mẽ và có đồng bào dân tộc
ít người với văn hoá dân tộc truyền thống . Hiện tại Hà Tây đã hình thành ba
cụm di tích ( Cụm chùa Hương, Cụm Ao Vua -Ba Vì suối Hai-Đồng Mô-Ngải Sơn,
Cụm Sơn Tây, Thạch Thất, Quốc Oai), tạo ra những trung tâm du lịch lớn có
tầm cở quốc gia và quốc tế.
Hiện tại hàng năm Hà Tây thu hút một số lượng lớn du lịch khách từ
trong và ngoài nước đỗ về, từ những yếu tố đó tạo cho Hà Tây những thế
mạnh về phát triển du lịch , trên cơ sở đó đây cũng là thị trường lớn tiêu thụ
các sản phẩm truyền thống, các sản phẩm TTCN và đó cũng là cơ hội để khôi
phục và phát triển làng nghề cũng như bản sắc văn hoá dân tộc, tạo điều kiện
giải quyết tốt nhất vấn đề lao động thành thị và nông thôn.
2.3. Về tốc độ tăng trưởng kinh tế.
* GDP và nhịp độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1991 - 1999 .
Đơn vị: Tỷ đồng
Năm
Chỉ tiêu

thụ cho các sản phẩm tỉnh nhà, và điều kiện tự nhiên... gây ảnh hưởng không
nhỏ đến sản xuất kinh doanh thời gian qua.
Về chủ quan, có thể thấy do sự tác động từ cơ chế chính sách tới vấn
đề đầu tư sản xuất kinh doanh và trình độ quản lý khi nền kinh tế mở rộng.
( cụ thể như quá trình đăng ký kinh doanh, cấp giấy phép còn chậm, chưa
có chính sách cụ thể cho vay vốn đối với khu vực kinh tế còn kém phát
triển ...)
Chính vì thế giai đoạn 1996 - 1999 tốc độ phát triển đạt 7,18% thấp
hơn giai đoạn 1991 - 1995 là 2,62%.
Với tốc độ phát triển kinh tế của Việt Nam qua các năm (1991 - 1999)
ta có bảng sau:
Năm 91 92 93 94 95 96 97 98 99
Tốc độ phát triển (%) 6,0 8,65 8,1 8,8 9,5 9,3 8,2 5,8 4,8
* Trung bình giai đoạn: 91 - 95: 8,21%
96 - 99: 7,02%
So sánh với kết quả tăng trưởng tế trung bình của Hà Tây và cả nước
của qua các giai đoạn phát triển ta có nhận xét như sau:
+ Sự phát triển và tăng trưởng kinh tế Hà Tây có cùng xu hướng chung
của cả nước cụ thể qua hai giai đoạn (1991 - 1995) và (1996 - 1999).
+ Về tốc độ tăng trưởng chung thì Hà Tây có cao hơn cả nước: cụ thể
(1991 - 1995) là 9,8% và (1996 - 1998) là 7,18% trong khi cả nước lần lượt là
8,21% và 7,02%.
Mặc dù vậy so với cả nước thì Hà Tây lại thấp hơn cả nước về các mặt
như GDP bình quân đầu người, tỷ lệ huy động ngân sách và cân bằng ngân
sách ...
Cụ thể GDP bình quân đầu người 1991 là 149 USD năm 1992 là 172
USD/ 230 USD của cả nước, năm 1994 trong khi cả nước đã vượt trên 300
USD/ người. Tỷ lệ huy động ngân sách từ GDP năm 1992 là 7%, 1993 là 6%
trong khi đó Chi ngân sách so với thu thiếu hụt lần lượt 73 tỷ năm 1992 và
106,6 tỷ năm 1993. Bước sang năm 1999 thu là 577 tỷ đồng trong khi chi là

Năm
Ngành
1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
Nông nghiệp 52,35 54,95 54,26 46,82 48,66 46,74 43,56 43,03 43,00
Công nghiệp 22,48 22,18 23,0 26,13 25,51 26,52 28,21 28,61 29,57
Dịch vụ 25,17 22,87 22,74 27,05 25,83 26,74 28,23 28,36 27,43
Nguồn: Niên giám Thống kê - Hà Tây
Sự chuyển dịch cơ cấu được thực hiện trên cơ sở có sự tăng trưởng khá
đều của cả ba nhóm ngành, đặc biệt là công nghiệp và du lịch - dịch vụ.
Tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế ở Hà Tây(1991-1999).
Đơn vị: %
Năm
Ngành
1991 1992 1993 1994 1995
..
Bình
quân
1997 1998 1999 Bình
quân
Nông
nghiệp
-8,8 26,3 8,4 -5,2 14,6 6,7 8,6 0,5 6,1 5,0
Công
nghiệp
0 18,7 13,8 24,9 7,7 11,9 16,0 14,7 8,9 13,2
Dịch vụ 17,2 9,3 9,1 30,7 5,3 13,6 10,6 13,9 7,9 10,8
Nguồn: Niên giám Thống kê - Hà Tây
Trong 5 năm 1991 - 1995, công nghiệp tăng bình quân 11,9% nông
nghiệp 6,7%, dịch vụ - du lịch 13,6%. Trong ba năm 1996 - 1998, công nghiệp
tăng bình quân 13,2%, nông nghiệp 5%, dịch vụ 10,8%. Như vậy, những nhóm

-Hà Tây là tỉnh có quy mô GDP chiếm tỷ lệ cao trong GDP cả nước, cụ thể
giai đoạn 1993 chiếm 2,12 % và đến năm 1998, 1999 là 2,3% và 2,43% GDP cả
nước.
- Tài nguyên du lịch và tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là khoáng sản vật
liệu xây dựng là hai nguồn lực lớn có thể trở thành những ngành kinh tế mũi
nhọn và thế mạnh về công nghiệp chế biến nông sản sẽ tác động mạnh đến quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế.
- Đặc điểm địa mạo, tài nguyên khí hậu, đất, nước cho phép phát triển
một nền nông lâm nghiệp, thủy sản đa dạng và thâm canh, sinh thái và bền
vững làm cơ sở cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Có hệ thống cơ sở hạ tầng đa dạng, đặc biệt là hệ thống giao thông
đường bộ, liên tỉnh, liên huyện và xã. Điều đó tạo thuận lợi cho Hà Tây trong
trao đổi và giao lưu buôn bán hàng hóa.
- Có thị trường xuất khẩu tại chỗ với kim ngạch đáng kể qua du lịch. Có
nhiều làng nghề, thủ công mỹ nghệ phát triển và công nghiệp tập trung, nhiều
đối tác tới liên doanh đặc biệt trong những năm gần đây, có thị trường Hà Nội
tiêu thụ nhiều loại sản phẩm.
- Có nguồn nhân lực dồi dào, có văn hóa, có nhiều nghề truyền
thống, bước đầu làm quen với sản xuất hàng hóa và có năng lực tiếp thu
được công nghệ mới, những ngành nghề có hàm lượng chất xám cao (như
điện tử, tin học).
3.2. Hạn chế.
- Cơ sở hạ tầng quá xuông cấp do nhiều năm sát nhập tỉnh, 90% doanh
nghiệp Nhà nước, trung ương và địa phương trình độ kỹ thuật trung bình và
lạc hậu, 40% thiết bị già cỗi, năng suất và hiệu quả thấp.
- Đất chật, người đông, tốc độ tăng dân số còn cao gây sức ép lớn về việc
làm và thu nhập cũng như các vấn đề xã hội.
- Với GDP bình quân đầu người còn thấp, là tỉnh chưa cân bằng ngân
sách, vì vậy Hà Tây là tỉnh đang thiếu vốn nghiêm trọng.
- Con người Hà Tây, tuy có những lợi thế nêu trên, song mặt hạn chế là

1. Mạng lưới phát triển TTCN khu vực nông thôn tỉnh Hà Tây.
Khi nghiên cứu sự hình thành, hoạt động mạng lưới TTCN nông thôn Hà
Tây ta có thể thấy nó tồn tại hai hình thức đó là TTCN chuyên nghiệp và TTCN
trong nông nghiệp, TTCN chuyên nghiệp tức là các cơ sở sản xuất chỉ tập
trung vào sản xuất TTCN, còn hình thức thứ hai là vừa sản xuất TTCN vừa
sản xuất nông nghiệp, ở đây có sự đan xen sắp xếp dựa trên tính mùa vụ của
sản xuất nông nghiệp.
1.1. Tiểu thủ công nghiệp chuyên nghiệp.
Xét trên địa bàn nông thôn Hà Tây thì tỷ lệ TTCN chuyên nghiệp còn chiếm
một tỷ lệ nhỏ .Hình thức sản xuất phổ biến ở đây là tổ sản xuất, cá thể và hình
thức tư nhân, trong đó chủ yếu là hai hình thức tổ sản xuất và cá thể. Tỷ lệ
TTCN không đều nhau đối với tất cả các mặt hàng. Tỷ lệ này cao đối với ngành
chế biến gỗ, ngành mây tre giang, thuê len, dệt len, ngành sản xuất giấy và
ngành chế tạo công cụ. Những ngành chiếm tỷ lệ thấp trong các ngành chế
biến, sản phẩm từ nứa lá, ngành gốm sứ và ngành chế biến nông sản. Do chính
sách ruộng đất phân chia bình quân đầu người như hiện nay nên chỉ có một tỷ
lệ nhỏ lao động trong nông thôn tách rời khỏi ngành nông nghiệp còn phần lớn
vẫn trong tình trạng bán nông nghiệp.
Mặc dù tỷ lệ lao động chiếm một tỷ lệ nhỏ nhưng giá trị GDP khu vực này
tạo ra không phải là không đáng kể, nhất là trong những ngành TTCN được coi
là ngành nghề chính của người lao động.
Chỉ tiêu về tỉ lệ lao động và giá trị TTCN.
CHỈ TIÊU
TTCN chuyên nghiệp TTCN trong NN
Tỉ lệ lao động (%) 45 55
Giá trị TTCN (%) 65,5 34,5
(Nguồn: Sở công nghiệp Hà Tây).
1.2. Tiểu thủ công nghiệp trong nông nghiệp.
Cũng như khu vực nông thôn cả nước trên địa bàn nông thôn Hà Tây hình
thức sản xuất kết hợp giữa TTCN với nông nghiệp tồn tại phổ biến. Hầu như

làng, Ứng Hòa 4 làng, Quốc Oai 3 làng còn các huyện Mỹ Đức, Đan Phượng, Thị
xã Hà Đông có từ 1 đến 2 làng.
Phân bố làng nghề sản xuất TTCN - dịch vụ 1999 thuộc huyện thị xã
tỉnh Hà Tây.
Số hộ
Tên huyện
thị xã
Số
làng
nghề
Tổng số
Hộ
Chia ra
Thuần
nông
Kiêm SX
TTCN
Chuyên
SX TTCN
Dịch vụ
Toàn tỉnh
Tỷ trọng
106 66.834
100%
18.567
27,8
38.839
58,1
3.631
5,4

khác nhau, có loại sản phẩm giản đơn, có loại tinh xảo mang tính cổ truyền,
truyền thống riêng của mỗi nghề, mỗi làng qua từng giai đoạn khác nhau.
2.2. Về số hộ và lao động tham gia sản xuất TTCN trong làng nghề.
- Về số hộ:
Năm 1991 đến năm 1994 thì số làng nghề là 88 và từ năm 1995 - 1997
thì số làng nghề là 85, cho thấy sự giảm xuống của làng nghề Hà Tây trong giai
đoạn gần đây, mặc dù vậy đến năm 1998 - 1999 số làng nghề được hồi phục
tăng lên 106 làng nghề, với số hộ tham gia sản xuất TTCN cũng tăng lên.
Số làng nghề và số hộ qua các năm(1991-1999).
Năm
Đơn vị SX
91 92 93 94 95 96 97 98 99
Hộ cá thể 34.87
1
43.75
1
60.18
3
59.92
9
59.71
0
51.58
0
58.00
0
66.00
0
66.83
4

Kiêm SX
TTCN
Chuyên SX
TTCN
Dịch vụ
Toàn tỉnh
Tỷ trọng
152.036
100%
41.222
27,1
89.737
58,8
9.133
6,0
12.244
8,1
- Phú Xuyên 23.040 8.348 12.953 1.370 425
- Thường Tín 21.610 7.262 11.130 909 2.309
- Thanh Oai 13.175 1.061 10.936 - 1.178
- Hoài Đức 30.562 6.742 17.976 1.092 4.752
- Phúc Thọ 11.333 3.576 6.116 660 981
- Thạch Thất 17.792 6.315 9.120 1.502 855
- Chương Mỹ 3.165 86 2.927 80 72
- Ứng Hòa 5.244 1.466 2.168 1.573 37
- Quốc Oai 8.180 2.050 5.840 - 290
- Ba Vì 4.359 239 3.858 73 189
- Đan Phượng 6.510 2.129 3.007 659 715
- TX Hà Đông 4.276 1.401 1.356 1.161 358
Nguồn: Sở Công nghiệp Hà Tây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status