Tác động của nhà nước trong hoạt động du lịch trong thời gian qua
I Tác động của nhà nước thông qua hệ thống văn bản hiện hành về quản lý du lịch.
1- Nghị quyết 45-CP của Chính phủ về đổi mới quản lý và phát triển
ngành du lịch.
Tại phiên họp ngày 21 tháng 4 năm 1993 Chính phủ đã quyết nghị về những
chủ trương biện pháp đổi mới quản lý và phát triển ngành du lịch trong thời
gian tới, theo phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội do
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đề ra.
A- Du lịch là một ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế
– xã hội của đất nước.
Du lịch là một ngành kinh tế mang tính chất tổng hợp, có tác dụng góp phần
tích cực thực hiện chính sách mở của; thúc đẩy sự đổi mới và phát triển của
nhiều ngành kinh tế khác, tạo công ăn việc làm, mở rộng giao lưu văn hoá và
xã hội giữa các vùng trong nước và giữa nước ta với nước ngoài, tạo điều kiện
tăng cường tình hữu nghị, hoà bình và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc.
Nước ta có tiềm năng lớn về nhiều mặt để phát triển du lịch, có điều kiện thiên
nhiên phong phú, có nhiề danh lam, thắng cảnh nổi tiếng, có truyền thống văn
hoá lâu đời với nhiều lễ hội, phong tục, taqạp quán tốt đẹp và độc đáo, nhiều di
tích lịch sử, ttôn giáo, kiến trúc nghệ thuật đạc sắc, giàu bản sắc nhân văn,
nguồn lao động dồi dào, thông minh, cần cù và giàu lòng nhân ái.
Trong những năm gần đây, ngành du lịch đã có những đổi mới từng bước phát
triển cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo điều kiện bước đầu thu hút khách nước ngoài
và kiều bào về thăm Tổ quốc; giới thiệu đất nước, con người, và tinh hoa của
dân tộc Việt Nam với bạn bè quốc tế; đáp ứng một phần nhu cầu tham quan,
nghỉ ngơi, giải trí của nhân dân trong nước, bước đầu đã thu được kết quả
nhất định về kinh tế.
Song do nhận thức chưa đầy đủ về vị trí, tính chất và tác dụng nhie4èu mặt về
kinh tế, chính trị, xã hội của hoạt động du lịch, nên công tác quản lý nhà nước
còn bị buông lỏng. Điều đáng lưu ý là chúng ta chưa có chiến lược và quy
hoạch tổng thể phát triển du lịch trong cả nước và từng vùng, từng điạn
phương; chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành trong sự nghiệp
tinh thần của nhân dân ta.
+ Phương hướng phát triển du lịch.
Không ngừng nâng cao chất lượng và đa dạng hoá các sản phẩm du lịch, tạo
sự hấp dẫn, thu hút khách du lịch quốc tế để làm cho ngành du lịch Việt Nam
phát triển nhanh, sớm đuổi kịp ngành du lịch của các nước phát triển ở trong
vùng và trên thế giới, đưa du lịch nước ta trở thành một ngành kinh tế quan
trọng, góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác trong nước, tạo công ăn việc
làm cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân về tham quan,
du lịch.
C- Những chủ trương và biện pháp thực hiện.
• Tăng cường quản lý Nhà nước về du lịch trên phạm vi cả nước và từng
vùng lãnh thổ.
- Bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chế độ, chính sách về du lịch để
bảo đảm quản lý nhà nước chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ trên phạm vi cả
nước.
- Nhanh chóng kiển toàn Tổng cục du lịch; xúc tiến thành lập các sở du lịch
ở các tỉnh, thành phố là trung tâm du lịch; quy địng rõ chức năng, nhiệm
vụ và tiêu chuẩn cán bộ của ngành du lịch.
- Sắp xếp lại hệ thống kinh doanh du lịch theo hướng chuyên môn hoá nghề
nghiệp du lịch và khách sạn để nang cao chất lượng các dịch vụ du lịch;
- Thực hiện đấu thầu hoặc cổ phần hoá một số khách sạn, nhà khách, nhà
nghỉ... nhằm khuyến khích và huy động vốn của các thành phần kinh tế
trong nước tham gia hoạt động du lịch
• Triển khai quy hoạch tổng thể phát triển du lịch trong cả nước và quy
hoạch ba vùng du lịch trọng điểm.
Tổng cục du lịch cùng Uỷ ban kế hoạch nhà nước, Bộ xây dựng và các Bộ,
Ngành có liên quan và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố tiến hành ngay việc
lập quy hoạch tổng thể phát triển du lịch trong cả nước và từng vùng, trước
tiên là vùng thành phố Hồ Chí Minh – Biên hoà - Vũng tàu, vùng Thừa thiên
Huế – Quảng nam - Đà nẵng và vùng Hà nội – Hải phòng – Quảng ninh; lập kế
- Tổng cục du lịch cùng các Bộ, Ngành có liên quan và Uỷ ban nhân dân
tỉnh, thành phố sớm lập đề án trình chính phủ phê duyệt kế hoạch đầu tư
xây dựng một số cơ sở hạ tầng, khách sạn lớn ở những vùng trọng điểm
du lịch.
- Tổng cục du lịch phối hợp với Bộ tài chính, Bộ xây dựng kiểm tra, đánh
giá lại toàn bộ tài sản cố định hiện có của ngành du lịch (bao gồm cả các
cơ sở thuộc các ngành, các đoàn thể và địa phương) để có điều kiện tính
đúng, tính đủ trong hạch toán, tính đúng khấu hao theo thực tế và có kế
hoạch sửa chữa, cải tạo, nâng cấp đáp ứng yêu cầu kinh doanh.
- Tổng cục du lịch phối hợp với Bộ tài chính, Bộ xây dựng, các Bộ, Ngành
liên quan và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phồa soát các nhà khách, nhà
nghỉ, công sở của các cơ quan nhà nước, các đoàn thể có thể sử dụng
ngay hoặc có thể sửa chữa nâng cấp thành khách sạn đón khách du lịch –
chuyển các cơ sở này sang kinh doanh theo pháp luật hiện hành của nhà
nước.
- Bộ giao thông vận tải phối hợp với Tổng cục du lịch xây dựng đề án từng
bước việc mở rộng, nâng cấp một số sân bay, nâng cấp đường quốc lộ 1A
và một số trục đường quan trọng trên cac tuyến du lịch trọng điểm, cải
tạo nâng cấp tuyến đường sắt Bắc – Nam, mở rộng các tuyến đường sắt
liên vận quốc tế, mở rộng, nâng cấp một số cảng biển, cảng sông và mở
một số tuyến tàu biển chở khách du lịch; từng bước hình thành những
cửa khẩu quốc tế hiện đại của đất nước để đón khách du lịch quốc tế.
- Tổng cục Bưu điện xây dựng đề án hiện đại hoá hệ thống thông tin liên
lạc trong nước và hệ thống viễn thông quốc tế phục vụ cho nhu cầu phát
triển kinh tế – xã hội của đất nước, trong đó có nhu cầu phát triển du lịch.
- Bộ văn hoá - thông tin, Bộ xây dựng và Bộ tài chính cùng Tổng cục du lịch
và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố phối hợp xây dựng trình chính
phủ đề án tôn tạo, bảo dưỡng các di tích lịch sử, công trình văn hoá, danh
lam thắng cảnh, tạo ra các điểm hấp dẫn khách du lịch.
- Bộ văn hoá - thông tin, Bộ quốc phòng, Tổng cục thể dục thể thao cùng
4
5
6 2)Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 –
2010.
2.1Bối cảnh phát triển.
Nằm ở khu vức Đông nam á - một khu vực đang diễn ra những hoạt động du
lịch sôi động, Việt Nam có một vị trí địa lý kinh tế và giao lưu quốc tế thuận lợi
để sớm hoà nhập với trào lưu phát triển du lịch của khu vực và thế giới.
a)Đầu tư phát triển du lịch Việt Nam là phù hợp với xu thế chung, phù hợp
với chính sách của Đảng và nhà nước.
Trên phạm vi thế giới, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu
được trong đời sống xã hội và phát triển với tốc độ ngày càng nhanh.
Trong vòng 30 năm (1960 – 1991) số khách du lịch trên thế giới tăng
khoảng 64 lần, thu nhập từ du lịch đã tăng khoảng 38 lần. Với nguồn thu nhập
gia tăng như vậy, nhiều nước như Singapore, Thái lan, Malaysia... đã coi du lịch
như một ngành kinh tế mũi nhọn, hướng chủ yếu trong chiến lược khai thác
tiềm năng, tạo việc làm, mở rộng giao lưu để phát triển kinh tế – xã hội của
mình.
Hiện nay, nhịp độ tăng trưởng về số khách quốc tế và thu nhập từ du lịch
của khu vực Đông á - Thái bình dương thuộc loại hàng đầu thế giới. Dự kiến
đến năm 2010 số khách du lịch đên Đông Nam Á sẽ đạt khoảng 72 triệu người;
thu nhập tù du lịch tăng khoảng 15,6%. Vai trò, vị trí của ngành du lịch trong
nền kinh tế quốc dân cũng ngày càng tăng và được khẳng định.
Với nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện có và sự nỗ lực phấn đấu không
ngừng của toàn Đảng, toàn dân, chúng ta hoàn toàn có đủ các điều kiện thuận
lợi để phát triển, sớm đưa du lịch của nước ta hoà nhập vào trào lưu phát
triển du lịch của khu vực và thế giới.
b)Tiềm năng du lịch của nước ta phong phú và đa dạng.
Nằm ở vị trí cửa ngõ giao lưu quốc tế, Việt Nam có điều kiện để phát triển
giao thông cả về đường bộ, đường sắt, đường biển, đường hàng không nối với
năm 1988, Việt Nam chỉ đón được lượng khách du lịch quốc tế bằng 1/10
Philipin, 1/15 Inđonesia và xấp xỷ 1/40 Malaysia, Thái Lan hoặc Singapore.
Mấy năm gần đây nhờ sự đổi mới đất nước thu được kết quả quan trọng:
kinh tế, tư tưởng, chính trị ổn định, đường lối ngoại giao đa dạng hoá, đa
phương hoá, ngành du lịch Việt Nam có những bước tiến bộ. Nhịp độ tăng
trưởng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam hàng năm đạt trên dưới 40%.
Năm 1990 Việt Nam mới đón 250 nghìn khách quốc tế, thì năm 1994 đã đạt
trên 1 triệu, thu hẹp dần khoảng cách đón khách quốc tế so với 5 nước Đông
Nam Á. Số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam năm 1994 đã bằng 2/3 số
khách du lịch quốc tế đến Philipin, bằng 1/4 Indonesia và xấp xỷ bằng 1/6 số
khách du lịch quốc tế đến Thái lan, Singapore hoặc Malaysia.
Lực lượng lao động trực tiếp trong ngành dulịch tăng nhanh (1992 có
21.510 người lao động trong khu vực nhà nước, đến năm 1993 đã có 36 851
lao động, tăng 72% so với 1992). Nhìn chung lao động trong ngành du lịch
chưa được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ một cách hẹ thống. Một số liên
doanh đã tự đào tạo dươcí hình thức tại chỗ hoặc ở nước ngoài. Hiện nay đã
có những mạng lưới đào tạo du lịch từ công nhân kỹ thuật đến đại học, tuy
nhiên còn thiếu những có sở đào tạo có quy mô hiện đại để đáp ứng yêu cầu
phát triển của ngành.
Kết cấu hạ tầng tuy đã có những bước phát triển nhất định, song nhìn
chung còn ở tình trạng thấp kém, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch.
Hiện nay việc phát triển du lịch nước ta còn phân tán và đơn điệu, mới chỉ tập
trung vào việc xây dựng khách sạn. Việc xây dựng các khu du lịch, các khách
sạn chưa được tính toán kỹ lưỡng cả về qui hoach và thiết kế nên dẫn đến tình
trạng xây dựng tràn lan, nhiều nơi, đặc biệt là ở các vùng ven biển, vùng có
khả năng xây dựng phát triển các loại hình du lịch, đã gây lên những tác động
tiêu cực đối với cảnh quan, môi trường. Mặt khác, sự chuẩn bị để hoà nhập
với du lịch thế giới về nhận thức, tổ chức bộ máy, con người, có sở vật chất kỹ
thuật, kinh nghiệm và hiểu biết về qủan lý điều hành du lịch chưa đáp ứng yêu
cầu, có mặt chưa tốt; sự phối, kết hợp giữa các cấp, các ngành trong quản lý,