Vận dụng công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại vào hoạt động kinh
doanh của ngân hàng nông nghiệp Việt Nam
Hoạt động của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường vô cùng khó
khăn. Tuy nhiên, nhiều ngân hàng đã biết vận dụng công nghệ quản lý ngân
hàng hiện đại vào hoạt động kinh doanh của mình một cách có hiệu quả để tồn
tại và phát triển. chương 3 này,bài viết đi sâu tìm hiểu những thành quả đạt
được cũng như những mặt tồn tại trong quản lý hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam. Đồng thời,căn cứ vào nội dung của công
nghệ quản lý ngân hàng hiện đại đã được trình bày ở chương 2, bài viết đề
xuất các giải pháp thích hợp nhằm đưa hoạt động quản lý của Ngân hàng
nông nghiệp Việt nam thích ứng với thực tế và phù hợp với yêu cầu của công
nghệ quản lý mới.
3.1. ĐÔI NÉT VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM.
3.1.1. Giai đoạn 1991 - 1993.[40,5-45],[58,96-125]
Theo tinh thần Nghị định 53/ HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ban hành
ngày 26/3/1991 về đổi mới tổ chức hoạt động của ngân hàng, ngày
01/8/1991 Ngân hàng Nhà nước quyết định tách bộ phận trực tiếp kinh doanh
của mình thành các ngân hàng thương mại quốc doanh trong đó có Ngân hàng
Nông nghiệp Việt Nam (Ngân hàng Nhà nước giữ lại Ngân hàng Thái bình và
Gia lai - Công tum hoạt động trực thuộc Ngân hàng Nhà nước). Khi đó Ngân
hàng nông nghiệp Việt Nam được hình thành ở Trung ương với hạt nhân lấy
từ Vụ tín dụng nông nghiệp của Ngân hàng Nhà nước trung ương cũ. Tiếp
nhận các ngân hàng cơ sở của ngân hàng nhà nước hoạt động ở khu vực nông
thôn là chủ yếu với 47 chi nhánh tỉnh, thành phố. Gần 400 chi nhánh ngân
hàng cấp huyện,thị xã,156 phòng giao dịch và cửa hàng kinh doanh vàng bạc,
với 36.000 cán bộ, nhân viên.
Khi bàn giao từ Ngân hàng Nhà nước sang, Ngân hàng nông nghiệp
quản lý số vốn 1.046 tỷ đồng, trong đó vốn vay Ngân hàng Nhà nước 353 tỷ
đồng, vốn huy động 482 tỷ đồng. Tổng dư nợ 700 tỷ đồng,với cơ cấu đầu tư
chủ yếu tập trung cho vay vốn lưu động,chỉ có 42 tỷ đồng đầu tư cho đối tượng
trung dài hạn (chiếm 6% tổng dư nợ). Việc đầu tư tập trung vào thành phần
sở pháp lý trong hoạt động kinh doanh của mình. Phải đến 14/11/1993 Ngân
hàng nông nghiệp Việt Nam mới chính thức có quyết định thành lập (số 400 -
CT của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng) và phải đến ngày 11/11/1995 Ngân hàng
nông nghiệp Việt Nam mới có Điều lệ hoạt động của mình. Căn cứ vào quyết
định thành lập và Điều lệ hoạt động, Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam được
xác định là một pháp nhân (bao gồm hội sở, các chi nhánh và văn phòng đại
diện), hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân
hàng đối với tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong và
ngoài nước. Thực hiện tín dụng tài trợ chủ yếu cho nông nghiệp và nông thôn.
Được Nhà nước cấp lần đầu 200 tỷ đồng vốn điều lệ (tương đương 30 triệu
USD), tự chủ tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, ngân hàng
có tên chính thức là Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam (gọi tắt là Ngân hàng
Nông nghiệp). Tên giao dịch quốc tế là Viet nam Bank for Agriculture (viết tắt
là VBA). Ngân hàng Nông nghiệp nhận bàn giao từ ngân hàng cũ với 53 chi
nhánh tỉnh, thành phố,447 chi nhánh ngân hàng huyện, thị xã, 193 phòng giao
dịch, 78 của hàng kinh doanh vàng bạc với gần 32.000 cán bộ, nhân viên. Khi
bàn giao Ngân hàng nông nghiệp quản lý số vốn 4.200 tỷ đồng trong đó vay
Ngân hàng Nhà nước: 2068 tỷ đồng và được Ngân hàng Nhà nước khấu trừ
vào các khoản nợ đọng, các khoản lỗ 1000 tỷ đồng, Ngân hàng nông nghiệp chỉ
phải trả lãi tiền vay Ngân hàng Nhà nước số vốn vay 1068 tỷ đồng. Vốn huy
động: 1.500 tỷ đồng. Với cơ cấu đầu tư chủ yếu cho vốn lưu động chiếm 93%
tổng số vốn tín dụng đầu tư. Quốc doanh chiếm 80% vốn đầu tư.
Giai đoạn này, Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thực hiện phương
châm: "Đi vay để cho vay" tập trung việc huy động vốn trong dân cư để cho vay
phát triển nền kinh tế. Đến cuối năm 1993, vốn huy động mới được 1079 tỷ
đồng, nhưng chỉ 5 năm sau số vốn huy động đã tăng hơn 10 lần và số dư nợ
cho vay cũng tăng lên tương ứng. Đặc biệt thực hiện đường lối đổi mới trong
kinh tế: không phân biệt giữa các thành phần kinh tế, Ngân hàng Nông nghiệp
từng bước đổi mới cơ cấu vốn đầu tư, nếu cuối năm 1994 vốn đầu tư cho các
thành phần kinh tế ngoài quốc doanh của ngân hàng nông nghiệp chỉ
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam hoạt động
theo Điều lệ ban hành theo quyết định số 39/ 2000/ QĐ - NHNN 5 ngày
22/11/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Theo Điều lệ
này,Ngân hàng Nông nghiệp là một doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt,
hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, tín dụng, đầu tư phát
triển nông thôn và các dịch vụ liên quan đến hoạt động tài chính, tiền tệ, ngân
hàng. Được phép hoạt động cả trong nước và nước ngoài. Có nhiệm vụ thực
hiện tín dụng tài trợ vì mục tiêu kinh tế xã hội, phát triển cơ sở hạ tầng chủ yếu
cho nông nghiệp và nông thôn.
Được giao nhiệm vụ mới và xác định được vai trò của mình,trong một
thời gian ngắn Ngân hàng nông nghiệp đã phát triển với tốc độ nhanh chóng.
Đến cuối năm 2000 tổng dư nợ đã đạt 22.500 tỷ đồng (gấp 1,7 lần năm 1998).
Phục vụ tốt việc cung cấp vốn cho nông thôn. Đặc biệt khả năng đầu tư phát
triển cũng đạt kết quả khả quan, vốn đầu tư trung dài hạn chiếm tới trên 28%
tổng dư nợ (năm 1993 chỉ 7%,năm1998 là 24%). Thực hiện đầu tư tập trung
cho nhiều dự án, kể cả các dự án đầu tư phát triển kinh tế hạ tầng của nông
thôn.
Hoàn thiện dần bộ máy điều hành theo hướng tập trung, gọn nhẹ. Từng
bước đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ. Tích cực chuẩn bị và phát triển kỹ
thuật mới cho hoạt động của ngân hàng.
Nhìn lại lịch sử ra đời và phát triển của Ngân hàng Nông nghiệp Việt
Nam trong 10 năm qua, với thời gian chưa phải là nhiều nhưng Ngân hàng
Nông nghiệp đã đạt được những thành tựu đáng trân trọng. Sự tồn tại và phát
triển của nó thực sự vững chắc. Theo đánh giá của công nghệ quản lý ngân
hàng hiện đại thì sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng Nông nghiệp đã làm
được nhiều điều phù hợp với nội dung của công nghệ quản lý mới. Tuy nhiên,
muốn cho hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam được phát triển
hơn, vững chắc hơn, ổn định hơn,cần nghiên cứu hoạt động của Ngân hàng
Nông nghiệp Việt Nam trong thời gian qua trên cơ sở căn cứ vào nội dung của
công nghệ quản lý mới, để từ đó thấy được vai trò đích thực của công cụ quản
Đã bước đầu coi trọng việc phân tích hoạt động kinh doanh để từ đó có những
kết luận chung nhất cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp.
Tuy nhiên, việc làn đó mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát chưa đi sâu phân
tích do đó các kết luận mới chỉ lại ở dạng số lớn chưa thực sự cho ngân hàng
những kết luận một cách khoa học, khách quan và độ tin cậy chưa cao.
Thứ hai : Ngân hàng Nông nghiệp tổ chức việc thu thập thông tin
từ thị trường khá tốt bằng việc tập trung báo cáo từ cơ sở theo từng tuần kỳ
định trước (báo cáo 10 ngày, 15 ngày, báo cáo tháng...). Những vấn đề nổi lên
liên quan đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nông nghiệp đều được các
ngân hàng cơ sở nắm bắt và báo cáo lên cấp trên để có biện pháp xử lý kịp
thời. Các phương tiện dùng để báo cáo cũng đã có sự linh hoạt theo yêu cầu
của công việc không nhất thiết phải báo cáo bằng văn bản để đảm bảo tính
thời sự của thông tin.Việc khai thác thông tin đã sử dụng nhiều biện pháp khác
nhau như tổ chức hòm thư góp ý tại tất cả các trụ sở giao dịch,thu thập từ
sách báo...
Việc tiếp dân cũng được các đồng chí lãnh đạo quan tâm và có lịch tiếp
dân cụ thể để nghe khách hàng truyền đạt nguyện vọng và xử lý kịp thời các
vướng mắc với khách hàng.
Thứ ba : Ngân hàng Nông nghiệp đã xác định được thị phần chủ
yếu cho hoạt động của mình.
Ngay từ khi mới thành lập Ngân hàng Nông nghiệp đã tìm được thị
phần đối với đối tượng khách hàng riêng có của mình đó là địa bàn thị trường
nông nghiệp và nông thôn. Khách hàng chính là các hộ nông dân hiện đang
chiếm bộ phận lớn cả về số lượng cũng như tỷ trọng vốn đầu tư tín dụng của
Ngân hàng Nông nghiệp. Đây thực sự là một nguyên nhân chính, nguyên nhân
cốt lõi cho mọi thành công của Ngân hàng Nông nghiệp trong thời gian qua.
Do xác định rõ được địa bàn, đối tượng phục vụ,cho nên trong mọi lĩnh vực
hoạt động Ngân hàng Nông nghiệp đều cố gắng vận động để phục vụ tốt được
thị phần mà mình đã lựa chọn. Từ việc tăng cường huy động vốn, kiện toàn bộ
máy tổ chức, tăng cường các công tác tiếp cận cho vay đến hộ sản xuất nông
các dự án này phần lớn có được từ các nguồn tài trợ của các tổ chức và của
Nhà nước. Từng bước khẳng định được đầu tư phát triển nông thôn là một
loại dịch vụ quan trọng của Ngân hàng Nông nghiệp. Hay nói một cách khác là
Ngân hàng Nông nghiệp đã định vị được dịch vụ này cho hoạt động của mình.
Thứ sáu : Phần lớn các dịch vụ của Ngân hàng Nông nghiệp phù
hợp với chiến lược phát triển chung của ngân hàng.
Hiện nay Ngân hàng Nông nghiệp thực hiện khá nhiều dịch vụ, việc lựa
chọn các thị phần hoạt động của chúng đều tương đối phù hợp với chiến lược
phát triển chung của ngân hàng. Từ việc tích cực huy động vốn để cho vay đến
việc phát triển các dịch vụ kinh doanh khác không hề làm yếu đi khả năng đầu
tư phục vụ cho nông nghiệp và nông thôn thậm chí việc phát triển các dịch vụ
khác nhau lại làm lớn mạnh hơn khả năng phục vụ của Ngân hàng Nông
nghiệp với "trận địa" chính của mình. Lấy ví dụ việc tích cực huy động vốn về
thực chất là huy động ở các vùng có nhiều khả năng có vốn để đưa về các vùng
nông thôn đầu tư cho sự phát triển nông nghiệp và nông thôn.
3.3.1.2.Về quản lý dịch vụ ngân hàng.
Chính sách dịch vụ luôn là vấn đề cốt lõi của hoạt động ngân hàng. Có
nhận thức đúng đắn về dịch vụ, lựa chọn đúng dịch vụ với từng loại thị trường
và kiểm soát được nó trong thực tiễn chính là sự thắng lợi cho hoạt động quản
lý chính sách dịch vụ của ngân hàng.
Thứ nhất : Ngân hàng Nông nghiệp đã bước đầu quan tâm đến thị
trường.
Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam trong thời gian qua đã có sự phát
triển mạnh mẽ. Từ thị trường rộng khắp của nông thôn Việt Nam, ngân hàng
nông nghiệp từng bước xâm nhập và phục vụ tốt các đối tượng khách hàng
của mình. Có thể nêu ra rất nhiều ví dụ để thấy được hoạt động này của ngân
hàng nông nghiệp như việc đầu tư phục vụ thu mua lúa vụ Đông Xuân năm
2001 bảo đảm cho các xí nghiệp chế biến mua được lúa của nông dân hơn 1,2
triệu tấn mà vẫn giữ được giá sàn cho sản phẩm. Hay việc huy động vốn để cho
vay khắc phục thiệt hại cơn bão số 5 năm 2000 đều được thực hiện bằng việc
không để vốn "chết", mà hơn cả là việc đảm bảo khả năng thanh toán thông
suốt toàn hệ thống thực sự là một thành quả đáng trân trọng của Ngân hàng
Nông nghiệp Việt Nam. Tình trạng khất hoãn vốn thanh toán trong bất cứ tình
huống nào chưa xảy ra ở Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam, chính điều đó đã
gây được lòng tin, tăng cường uy tín tạo tiền đề cho sự phát triển nhanh chóng
của Ngân hàng Nông nghiệp.
Để làm tốt được việc đó, ngay từ khi bắt đầu những bước đi đầu tiên
trong việc kinh doanh theo cơ chế thị trường, Ngân hàng Nông nghiệp đã quan
tâm đặc biệt đến vấn đề này, từ việc sắp xếp đội ngũ cán bộ có năng lực, có
nghiệp vụ chuyên môn cao làm việc ở bộ phận cân đối vốn đến các vấn đề liên
quan như cải tiến phương thức điều hòa vốn hay việc cung cấp thông tin
nhanh giúp cho bộ phận cân đối có cơ sở thực hiện tốt công việc của mình cũng
được Ngân hàng Nông nghiệp đặc biệt quan tâm do vậy đã đảm bảo khả năng
thông vốn cho toàn bộ hệ thống. Việc điều hòa vốn đã thực sự đem lại kết quả
như mong muốn.
Thứ tư : Ngân hàng Nông nghiệp tăng cường giảm thấp những
khó khăn cho khách hàng khi thực hiện dịch vụ.
Để vay được vốn của ngân hàng phải có đủ điều kiện và các thủ tục
nhất định. Điều này là điều kiện cần và đủ để vay được vốn ở ngân hàng. Trước
đây đã có người thống kê việc cho vay của ngân hàng,ngoài việc đủ điều kiện
tín dụng phải có 15 văn bản và hơn thế số con dấu các loại. Ngân hàng Nông
nghiệp thấy rõ được vấn đề này, từng bước nghiên cứu và đề ra các thủ tục
cho vay ngày càng đơn giản cho khách hàng nhưng vẫn đảm bảo an toàn
khoản tiền vay của ngân hàng. Thủ tục cho vay của Ngân hàng Nông nghiệp
hiện nay đã đơn giản nhiều chỉ còn: đơn xin vay, giấy chứng nhận tài sản thế
chấp, khế ước vay tiền, là người dân đã có thể có tiền để phục vụ nhu cầu sản
xuất, kinh doanh của mình. Ngoài ra, điều kiện tín dụng cũng được giản tiện
nhiều so với trước, như các đối tượng vay thường xuyên được cấp sổ tín dụng
để vay nhiều lần,các yêu cầu khác chỉ phải làm một lần cho nhiều lần vay tiền.
Hay với những hộ vay những món nhỏ dưới 5 triệu không cần phải có tài sản
Với đặc điểm này của dịch vụ, Ngân hàng Nông nghiệp cũng đã quan
tâm và có các đối sách thích hợp. Ở Trung tâm điều hành cũng đã có những bộ
phận nghiên cứu của các dịch vụ mới trên thị trường tài chínhViệt Nam chưa
thực sự có như kinh doanh chứng khoán hoặc trên thị trường có nhưng còn
khá tản mát và chưa thực sự phát triển như tín dụng thuê mua, để từ đó
nhanh chóng tiếp cận và chờ thời cơ, trước hết là xây dựng các tiền đề về cơ sở
vật chất, kỹ thuật đón bắt kịp thời trước khi thời cơ đến.Còn nhiều đặc điểm
khác cũng được Ngân hàng Nông nghiệp quan tâm và thực hiện tương đối tốt
Thứ sáu : Về cơ bản Ngân hàng Nông nghiệp đã làm tốt việc tổ
chức dịch vụ.
Với mỗi một loại dịch vụ nhất định, Ngân hàng Nông nghiệp đều có sự
cân nhắc thực hiện. Quá trình hình thành và thực hiện dịch vụ đều được tính
toán cẩn thận, có sự nghiên cứu và tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc và
sáng tạo. Ngay trong các dịch vụ truyền thống như tín dụng, huy động vốn,
thanh toán đều được nghiên cứu rõ về thị trường để từ đó có chính sách thích
hợp. Việc hoàn chỉnh các thể chế của ngân hàng trong thời gian qua đều đã tập
chung giải quyết việc nâng cao chất lượng dịch vụ của ngân hàng, trong đó yếu
tố kỹ thuật ngày càng được coi trọng. Việc tăng cường công tác để nâng cao
được hình ảnh của ngân hàng cũng được ngân hàng nông nghiệp quan tâm.
Chính vì vậy những dịch vụ truyền thống của Ngân hàng Nông nghiệp đã phát
triển tốt cả về số lượng và chất lượng.
Với những dịch vụ mới cũng đã bước đầu được tổ chức thực hiện, từ việc
tổ chức bộ phận nghiên cứu về thị trường và những vấn đề về kỹ thuật nghiệp
vụ. Ở trung tâm điều hành có bộ phận theo dõi riêng về các nghiệp vụ như: thị
trường chứng khoán, tín dụng thuê mua... Tuy nhiên việc mở rộng dịch vụ với
thị trường mới còn khó khăn,mới chỉ là sự thăm dò làm thí điểm. Ngân hàng
Nông nghiệp cũng đã thực hiện được một số việc để mở rộng thị trường hoạt
động thông qua việc liên doanh với ngân hàng nước ngoài, mở các đại lý ở
nước ngoài. Mục tiêu thì có nhưng cần làm điểm,khi chắc chắn mới tổ chức
thực hiện,đó cũng chính là phương hướng thực hiện việc phát triển hoạt động
quảng cáo đã bước đầu thu được các kết quả đáng khích lệ. Điều dễ nhận thấy
nhất là hoạt động quảng cáo của Ngân hàng Nông nghiệp đã bước đầu đi vào
nề nếp. Tuy chưa có một sự đánh giá một cách bài bản xem tác động của quảng
cáo tới kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp trong thời
gian vừa qua. Nhưng có thể kết luận chắc chắn rằng trong kết quả đó có một
phần đóng góp không nhỏ là do quảng cáo mà có. Hơn thế quảng cáo còn ghi
được dấu ấn của mình vào khách hàng của ngân hàng đặc biệt là khách hàng
tiềm tàng.
Thứ hai : Những kết quả bước đầu của Ngân hàng Nông nghiệp
trong việc xúc tiến khuyếch trương qua giao tiếp bán hàng.
Việc tiếp nhận thông tin và truyền thông tin đến khách hàng đã được
Ngân hàng Nông nghiệp quan tâm qua việc thông báo cụ thể các dịch vụ của
ngân hàng đến với khách hàng tại các quầy giao dịch. Các nơi giao dịch đều có
hòm thư góp ý. Ngân hàng cũng đã thông qua nghiệp vụ tín dụng để tìm hiểu
các thông tin về khách hàng và truyền đạt các thông tin cần thiết khác của
ngân hàng đến với khách hàng.
3.3.1.4. Về quản lý giá dịch vụ
Thứ nhất : Ngân hàng nông nghiệp đã quan tâm đến việc định giá
cho từng loại dịch vụ của mình.
Căn cứ vào khung lãi suất hoặc trên lãi suất do Ngân hàng Nhà nước
quy định, trên cơ sở phân tích nhu cầu của thị trường, Ngân hàng Nông nghiệp
đã mạnh dạn tổ chức mở rộng tín dụng ngay cả khi các ngân hàng khác đang
gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh. Ví dụ vào các tháng đầu năm
1999,hệ thống ngân hàng Việt Nam có dư hàng chục nghìn tỷ đồng không cho
vay ra được những Ngân hàng Nông nghiệp bằng sự nhạy bén và khả năng
phân tích tốt thị trường,đã tiến hành đi vay các ngân hàng khác để tập chung
cho vay hộ sản xuất, cho vay thu mua và cho vay các đối tượng khác hàng
nghìn tỷ đồng.
Thứ hai : Ngân hàng Nông nghiệp đã bước đầu sử dụng kỹ thuật
nghiệp vụ vào việc định giá cho dịch vụ của mình.
mình.Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nông nghiệp đã từng phải đi vay các ngân
hàng thương mại khác, huy động kỳ phiếu với lãi suất cao hơn so với giá thị
trường lúc đó để cho vay phát triển phục vụ thị trường rộng khắp của mình.
Thứ hai : Ngân hàng Nông nghiệp tiếp tục vươn rộng để phát
triển.
Nếu việc phát triển mạng lưới của mình ở trong nước đã là một thành
tựu to lớn của Ngân hàng Nông nghiệp thì việc mở các hoạt động kinh doanh
đối ngoại cũng là một thành công đáng kể của Ngân hàng Nông nghiệp. Nhìn
vào lịch sử phát triển của Ngân hàng Nông nghiệp, chỉ với thời gian chưa đầy
10 năm từ chỗ chưa thực hiện nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại đến nay Ngân
hàng nông nghiệp có 24 chi nhánh tham gia thanh toán quốc tế. Số lượng
thanh toán quốc tế ngày càng tăng nhanh, riêng năm 2000 tăng so với 1999