Thực trạng hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng đầu tư - Pdf 64

Thực trạng hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng đầu tư & phát triển Việt
Nam
2.1. Tổng quan về công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam
2.1.1 Quá trình hình thành của công ty cho thuê tài chính Ngân hàng
Đầu tư và phát triển Việt Nam:
a. Hoàn cảnh ra đời của Công ty: Xuất phát ở nhu cầu thị trường vốn trung
và dài hạn ở Việt Nam, đồng thời nhằm đa dạng hoá các dịch vụ Ngân hàng
sau khi Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam ra quyết định 49/QĐ/NH5
về việc ban hành thể lệ tín dụng thuê mua, Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt
Nam đã thành lập Công ty tín dụng thuê mua. Công ty hoạt động dưới hình
thức hạch toán phụ thuộc không được ra vốn độc lập và không có tư cách pháp
nhân. Thực chất trong thời gian này, hoạt động của Công ty chỉ mang tính chất
thử nghiệm, đối tượng cho thuê thì dừng lại một số ít thiết bị văn phòng, máy
xây dựng.
Đến tháng 10 - 1997, sau khi Thủ tướng chính phủ ban hành Nghị định
64/CP qui định các Ngân hàng muốn thực hiện hoạt động cho thuê tài chính
phải thành lập công ty độc lập, công ty tín dụng thuê mua - tiền thân của công
ty cho thuê tài chính hiện nay phải dừng hoạt động trong một thời gian để
chuẩn bị mọi điều kiện và cơ sở vật chất để thành lập công ty cho thuê tài
chính. Như vậy, hoạt động của công ty tín dụng thu mua chỉ kéo dài được hơn
một năm với tổng giá trị hợp đồng cho thuê ước đạt 10 tỷ đồng.
Và công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
ra đời theo Quyết định số 305/2000/QĐ-NH5 ngày 4/9/2000, giấy phép hoạt
động số 08/CP-CTTCTC ngày 27/12/2000. Tại điều 2, Quyết định này ghi rõ:
“Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một
pháp nhân, một doanh nghiệp thành viên hoạch toán độc lập của Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam, được Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam cấp vốn điều lệ, có quyền tự chủ kinh doanh, quyền tự chủ tài chính, chịu
sự ràng buộc về quyền lợi và nghĩa vụ đối với Ngân hàng Đầu tư và phát triển
Việt Nam theo quy định tại điều lệ Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam.

 Cho thuê tài chính:
+ Cho thuê tài chính dưới hình thức được Pháp luật cho phép đối với các tài
sản là máy móc, thiết bị và các động sản khác cho các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.
+ Liên kết với các công ty cho thuê tài chính, các tổ chức tài chính, Ngân hàng
hoặc các tổ chức kinh tế khác trong và ngoài nước để đồng cho thuê theo quy
định của pháp luật.
 Các hoạt động khác:
+ Hùn vốn, liên doanh hoặc mua cổ phần của các doanh nghiệp, tổ chức tín
dụng trong và ngoài nước theo quy định của Ngân hàng Đầu tư và phát triển
Việt Nam về việc quản lý nguồn vốn góp của các doanh nghiệp thành viên hạch
toán độc lập thuộc Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam. Việc hùn vốn,
liên doanh hoặc mua cổ phiếu nói trên phải tuân thủ theo các quy định của
Pháp luật.
+ Tư vấn, nhận bảo lãnh cho khách hàng về những dịch vụ có liên quan đến
nghiệp vụ cho thuê tài chính.
+ Mua, nhập khẩu trực tiếp tài sản thuê theo yêu cầu tài sản của bên thuê, tái
xuất tài sản thuê trong trường hợp thu hồi tài sản thuê khi hợp đồng thuê
chấm dứt trước hạn. Việc nhập hoặc tái xuất tài sản thuê trực tiếp nói trên
được thực hiện khi cơ quan chức năng của Chính phủ cho phép.
+ Đầu tư, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp các tài sản thế chấp, cầm cố đã chuyển
thành tài sản do Công ty quản lý để sử dụng hoặc kinh doanh theo các quy định
của Pháp luật.
+ Thực hiện các nghiệp vụ khác khi được Tổng giám đốc Ngân hàng Đầu tư và
phát triển Việt Nam uỷ quyền và được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
cho phép.
c. Cơ cấu tổ chức của Công ty:
Công ty cho thuê tài chính mới chính thức ổn định tổ chức bước vào hoạt
động kinh doanh từ tháng 12/2000. Khi khai trương hoạt động, công ty chỉ có
11 cán bộ công nhân viên, hầu hết được điều chuyển từ các phòng ban của

chính trị trong nước luôn ổn định đồng thời với những chính sách thông
thoáng hơn của Nhà nước như sửa đổi bổ sung luật khuyến khích đầu tư Nước
ngoài, luật doanh nghiệp thực sự đi vào cuộc sống v.v... đã khuyến khích hoạt
động sản xuất kinh doanh cả nước. Điều này cũng giúp cho hoạt động kinh
doanh của công ty thuận lợi hơn.
Bên cạnh đó, hiện nay hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động
Công ty cho thuê tài chính đã tạo ra một hành lang pháp lý ban đầu nhưng
theo tôi vẫn không đồng bộ. Hiện nay chỉ có nghị định số 64/CP ngày
9/10/1997 của Chính phủ ban hành quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt đông
của Công ty cho thuê tài chính nhưng đến nay đã gần sáu năm mà chưa được
bổ xung, chỉnh sửa kịp thời. Do vậy, điều này cũng gây lúng túng cho các Công
ty cho thuê tài chính.
b.Môi trường kinh tế:
Trong phần cuối chương I, ta đã biết rằng nhu cầu vốn cho các doanh
nghiệp hiện nay là rất lớn. Điều đó thể hiện một môi trường kinh tế thận lợi
cho hoạt động của công ty. Trong môi trường còn mới mẻ này, cũng đã có sự
góp mặt của chín công ty cho thuê tài chính. Ta hãy cùng tìm hiểu quá trình
thành lập và thực trạng hoạt động của các công ty cho thuê tài chính hiện nay.
Ngân hàng Nhà nước trong năm năm qua đã cấp giấy phép hoạt động cho
các Công ty cho thuê tài chính theo 2 đợt sau:
Đợt 1: Trong đợt đầu tiên, Ngân hàng Nhà nước đã xét cấp giấy phép hoạt
động cho ba Công ty cho thuê tài chính đó là:
1.Công ty cho thuê tài chính Quốc tế Việt Nam (VILC): giấy phép hoạt động số
01/Gp – CTCTTC ngày 28/10/1998, đây là Công ty liên doanh giữa Ngân hàng
Công thương Việt Nam với 4 đối tác nước ngoài: Công ty tài chính Quốc tế,
Ngân hàng Ngoại thương Pháp, Công ty cho thuê Công nghiệp Hàn quốc và
Ngân hàng tín dụng của Nhật với vốn điều lệ là 5 triệu USD.
2.Công ty cho thuê tài chính KEXIM Việt Nam (KVLC): giấy phép hoạt động số
02/GP – CTCTTC ngày 20/11/1998, Công ty 100% vốn nước ngoài với vốn
điều lệ là 10 triệu USD do Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hàn quốc thành lập.

phi Ngân hàng và 0,11% so với tổng số vốn huy động của khối Ngân hàng
Thương mại.
c. Sử dụng vốn:
 Về dư nợ và cơ cấu dư nợ cho thuê tài chính: tính đến ngày 1/12/2001
được thể hiện hhư sau:
- Tổng dư nợ cho thuê tài chính đạt gần 481 tỷ đồng trong đó dư nợ của các
Công ty cho thuê tài chính 100% vốn Việt Nam là 196,8 tỷ đồng, chiếm 41% so
với tổng dư nợ của các công ty cho thuê tài chính và tăng 198% so với
31/12/2000. Như vậy, ta có thể thấy dư nợ của các Công ty cho thuê tài chính
trong nước tăng khá nhanh và đã chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng số
dư nợ của các công ty cho thuê tài chính.
- Dư nợ cho thuê tài chính của các công ty cho thuê tài chính có vốn đầu tư
nước ngoài là khoảng 284,2 tỷ đồng, chiếm 59% so với tổng dư nợ và giảm
46% so với 31/12/2000. Nguyên nhân chủ yếu là có 2 công ty cho thuê tài
chính có vốn đầu tư nước ngoài phải hạn chế hoạt động do những khó khăn
của Ngân hàng mẹ ở chính quốc.
- Nợ quá hạn chiếm gần 1% trên tổng số dư nợ cho thuê tài chính, thấp hơn
nhiều so với tỷ lệ nợ quá hạn cho phép.
 Về doanh số và cơ cấu doanh số cho thuê tài chính trong thời gian
qua:
Tính đến 31/12/2001 tổng doanh số cho thuê tài chính của các Công ty là 665
tỷ đồng. Riêng doanh số cho thuê tài chính năm 2001 là 341 tỷ đồng, tăng 5%
so với năm 2000.
- Doanh số cho thuê tài chính đối với các doanh nghiệp Nhà nước chiếm 31%
tổng doanh số cho thuê tài chính, đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
chiếm 54% và đối với các doanh nghiệp có vốn nước ngoaì chiếm 15% trong
tổng doanh số cho thuê tài chính.
- Trong đó, doanh số cho thuê tài chính của các Công ty cho thuê tài
chính 100% vốn Việt Nam là 300 tỷ đồng, chiếm 45% trong tổng số doanh số
cho thuê tài chính và doanh số cho thuê tài chính của các công ty cho thuê tài

chính gặp nhiều khó khăn trong khâu thẩm định, tìm kiếm khách hàng và
nhất là không có điều kiện ưu đãi về lãi suất. Đồng thời hệ thống các công cụ
pháp lý cho hoạt đông cho thuê tài chính còn chưa hoàn thiện khiến cho hoạt
động này chưa đạt được những kết quả tương xứng với tiềm năng phát triển
của nó ở nước ta.Tuy vậy nhìn vào doanh số cho thuê tài chính tăng liên tục
qua các năm với chất lượng hoạt động của các công ty cho thuê tài chính công
ty quá thấp biểu hiện qua tỷ lệ nợ quá hạn thấp so với hệ thống tổ chức tín
dụng của các công ty cho thuê tài chính ta có thể khẳng định rằng hoạt động
cho thuê tài chính đang được thị trường trong nước chấp nhận.
2.2. Thực trạng hoạt động Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Đầu
tư và phát triển Việt Nam:
2.2.1.Qui trình cho thuê tài chính tại Công ty:
Phòng kinh doanh xây dựng chính sách tiếp thị và phương pháp tiếp
cận với khách hàng thông qua việc thu thập thông tin về khách hàng, phân
loại khách hàng theo loại hình doanh nghiệp, cử cán bộ tiếp xúc với khách
hàng và giới thiệu về nghiệp vụ cho thuê tài chính với nhưng thuận lợi của nó.
 Hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và lập hồ sơ thuê tài
chính.
Khi khách hàng có đề nghị cho thuê tài chính, phòng kinh doanh có trách
nhiệm trực tiếp hướng dẫn khách hàng, giải thích rõ ràng, đầy đủ điều kiện,
tín dụng, thủ tục, hồ sơ xin thuê tài chính. Nội dung hướng dẫn bao gồm:
- Về điều kiện, thủ tục cho thuê tài chính.
- Về lập hồ sơ cho thuê tài chính.
- Trong quá trình hướng dẫn khách hàng nếu khách hàng có yêu cầu
những vấn đề cụ thể như lãi suất, thời hạn thuê, cán bộ phòng kinh doanh xin
ý kiến chỉ đạo cấp trên của Ban lãnh đạo trước khi trả lời chính thức khách
hàng.
Chú ý: Hồ sơ thuê tài chính phải do chính khách hàng lập, cán bộ phòng kinh
doanh không được làm thay.
 Thẩm định hồ sơ khách hàng:

tra từ các nguồn thông tin ở các cơ quan có liên quan và thị trường.
Các phương pháp thu thập thông tin:
- Phỏng vấn người thuê tài chính.
- Những thông tin từ các Ngân hàng có quan hệ thanh toán tiền gửi, tín
dụng với khách hàng.
- Những thông tin do khách hàng cung cấp từ hố sơ vay vốn và sổ sách
kế toán, báo cáo tài chính của bên thuê.
- Các thông tin từ các tổ chức có liên quan và thông tin từ thị trường.
- Điều tra thực tế tại nơi sản xuất kinh doanh của người đi thuê.
Phỏng vấn dự án thuê tài chính , đề xuất các vấn đề càn bổ xung để
hoàn thiện dự án thuê tài chính.
 Quyết định cho thuê:
Sau khi thẩm định dự án thuê và tiến hành điều tra thu thập thông tin
tìm hiểu khách hàng thuê theo qui định, cán bộ phòng kinh doanh lập báo cáo
thẩm định nêu rõ ý kiến của mình về dự án báo cáo cho Trưởng phòng.
Trưởng phòng kinh doanh sau khi kiểm tra hồ sơ và báo cáo thẩm định trình
Ban lãnh đạo công ty xem xét quyết định cho thuê hay từ chối, hay có ý kiến
khác để làm căn cứ trả lời doanh nghiệp xin thuê.
Giám đốc hay Phó Giám đốc được uỷ quyền là người là người có thẩm
quyền quyết định cho thuê hay từ chối cho thuê trên cơ sở tờ trình của phòng
kinh doanh.
Những trường hợp vượt mức giải quyết cho thuê với một khách hàng
phải trình Tổng Giám đốc Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam phương
án giải quyết để Tổng Giám đốc xem xét quyết định.
 Ký kết hợp đồng cho thuê tài chính và tiến hành các thủ tục để thực
hiện hợp đồng:
Cán bộ phòng kinh doanh căn cứ mẫu hợp đồng theo qui định của Ngân
hàng Nhà nước để soạn thảo hợp đồng cho thuê tài chính và thực hiện đầy đủ
các thủ tục để hợp đồng có hiệu lực.
 Thanh toán tiền mua tài sản dùng để cho thuê tài chính:

tình hình công nợ, khả năng trả nợ...
Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện bên thuê vi phạm hợp đồng cho
thuê tài chính, cán bộ tín dụng phải báo cáo ngay Ban lãnh đạo để giải quyết.
 Thu phí, gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn thuê, miễn giảm phí thuê:
Phòng kinh doanh chịu trách nhiệm đôn đốc khách hàng thuê thanh toán
tiền thuê( gốc và lãi ) đúng thời hạn thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài
chính.
Trường hợp bên thuê vì lý do khách quan dẫn đến tình hình sản xuất
kinh doanh gặp khó khăn, việc trả tiền thuê gặp khó khăn. Nếu doanh nghiệp
có văn bản đề nghị cho gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn thuê, hoặc xin giảm phí
thuê. Khi đó, cán bộ tín dụng trình ban giám đốc để giải quyết. Nguyên tắc gia
hạn thời hạn thuê không quá một nửa thời hạn thuê ban đầu. Khách hàng phải
có phương án trả nợ trong thời gian gia hạn khả thi.
Nếu có khoản nợ không có đơn đề nghị gia hạn nợ của khách hàng và
không được công ty chấp thuận gia hạn nợ đã quá hạn trả, công ty phải tiến
hàng chuyển nợ quá hạn và áp dụng các biện pháp kiên quyết để thu hồi nợ
gốc và phí thuê. Cán bộ tín dụng có trách nhiệm lên phương án thu hồi, thanh
lý tài sản thuê và các phương án khác để đề nghị bên thuê hoàn trả nợ trong
thời gian trả nợ ngắn nhất.
 Xử lý rủi ro:
Trong thời hạn thuê, nếu bên thuê gặp rủi ro trong sản xuất kinh doanh
hay rủi ro xảy ra trực tiếp với tài sản thuê, theo hợp đồng cho thuê tài chính
bên thuê sẽ có phương án khắc phục rủi ro ngay lập tức, cán bộ tín dụng trình
ban lãnh đạo để xử lý:
- Xây dựng phương án giúp bên thuê khắc phục khó khăn, nhanh chóng
ổn định tình hình sản xuất kinh doanh.
- Thu hồi tài sản thuê, tổ chức thanh lý tài sản thuê.
- Đề nghị cơ quan bảo hiểm thanh toán tiền bảo hiểm.
- Đề nghị bên bảo lãnh cho bên thuê thực hiện trách nhiệm bảo lãnh.
- Các biện pháp khác.

2 Tổng doanh số thu nợ 10.000 25.081
3 Tổng dư nợ
Trong đó:
Dư nợ cho thuê nội ngành
Dư nợ cho thuê ngoại ngành
55.209
25.198
30.011
102.389
31.059
71.330
4 Tổng doanh thu 6.569 7.659
5 Tổng chi phí 1.097 1.048
6 Lợi nhuận trước thuế 5.472 6.500
7 Thuế thu nhập doanh
nghiệp
1.752 2.080
8 Lợi nhuận sau thuế 3.720 4.420
9 Lợi nhuận sau thuế/ Tổng
tài sản
6,0% 4,75%
10 Tỷ lệ nợ quá hạn/ Tổng dư
nợ
0% 0,07%
( Nguồn: Báo cáo thường niên 2001- 2002)

Trích đoạn Những khó khăn của công ty:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status