Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài :
Thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng Cộng Sản Việt nam trong các
nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII và lần thứ VIII, nền kinh tế nớc ta đã
chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần theo định hớng Xã hội chủ nghĩa. Quá trình vận động này
đòi hỏi các quan hệ kinh tế - xã hội chuyển biến và thay đổi thờng xuyên.
Lĩnh vực tiền tệ tín dụng Ngân hàng động kinh doanh tiền tệ là loại hình hoạt
động mang tính năng động và rủi ro cao - cần đợc cải biến, đổi mới nhằm đáp
ứng đợc những yêu cầu khắt khe của thị trờng.
Hơn nữa, yêu cầu đặt ra đối với ngân hàng là không những phải phát
triển không ngừng để thích nghi và tồn tại mà còn phải giữ vai trò tiên phong
trong việc định hớng cho những hoạt động của các doanh nghiệp. Do vậy, các
ngân hàng càng cần phải năng động hơn, nhậy cảm hơn và tỉnh táo hơn để có
thể thực hiện tốt vai trò của mình, đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của
nền kinh tế.
Việt nam mới bớc vào kinh tế thị trờng nên yêu cầu này càng trở nên
cấp thiết. Thực tế cho thấy rằng, trong những năm vừa qua, đặc biệt là năm
1998 và 1999, hàng loạt các vụ việc xảy ra liên quan đến hoạt động tín dụng
giữa các ngân hàng thơng mại và các tổ chức kinh tế trong nớc đã làm ảnh h-
ởng không ít tới nền kinh tế nói chung và bớc phát triển của từng doanh
nghiệp, từng ngân hàng nói riêng.
Ngân hàng thơng mại cổ phần là mô hình mới trong hệ thốngngân hàng
thơng mại Việt nam đợc thành lập dới hình thức công ty cổ phần. Hiện nay hệ
thống này vừa vận hành để phát triển, vừa rút kinh nghiệm để định hình. Là
loại hình non trẻ, lại hoạt động trong môi trờng kinh tế thị trờng cha ổn định,
do vậy, tình hình đặt ra đối với các ngân hàng Thơng mại Cổ phần cũng
không nằm ngoài bối cảnh trên. Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, với đặc
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Điểm mới:
- Tổng quan về Ngân hàng thơng mại cổ phần, thực trạng rủi ro tín
dụng của khối các ngân hàng này và các nguyên nhân của chúng.
- Đề xuất hớng đổi mới quản lý tín dụng từ đó đa ra các giải pháp cụ
thể nhằm hạn chế rủi ro tín dụng đối với các Ngân hàng Thơng mại Cổ phần.
-Một số kiến nghị với các Ngân hàng Thơng mại Cổ phần với mục đích
hạn chế rủi ro tín dụng.
6. Nội dung và bố cục của đề tài :
-Lời nói đầu.
- Chơng 1 : Hoạt động kinh doanh của NHTM và vấn đề rủi ro trong
hoạt động tín dụngcủa NHTM.
- Chơng 2 : Thực trạng hoạt động kinh doanh tín dụng và rủi ro tín
dụng ở các Ngân hàng Thơng mại Cổ phần Việt nam.
- Chơng 3 : Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong kinh doanh tín
dụng tại các Ngân hàng Thơng mại Cổ phần.
-Kết luận :
- Danh mục tài liệu tham khảo.
- Ngoài ra đề tài còn có một số biểu bảng liên quan.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chơng I
hoạt động kinh doanh của NHTM và vấn đề rủi ro
trong hoạt động tín dụng của NHTM
I - Ngân hàng thơng mại và vai trò của nó trong nền kinh tế
thị trờng.
1. Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng thơng mại:
Phơng thức sản xuất T bản chủ nghĩa ra đời đặt ra những yêu cầu rất lớn
đối với hoạt động tiền tệ , đòi hỏi phải có các tổ chức chuyên hoạt động trên
lĩnh vực tiền tệ. Vào thế kỷ XV, ngân hàng ra đời nhằm thực hiện các chức
phát hành và ngân hàng trung gian.
Vào đầu thế kỷ XX, vấn đề đặt ra là các ngân hàng phát hành thuộc
quyền sở hữu t nhân, do đó sự điều tiết của nhà nóc đối với các hoạt động kinh
tế vĩ mô trong tình hình kinh tế phát triển đã gặp không ít khó khăn. Tiếp đến
cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 đã buộc các nớc phải có biện pháp hữu
hiệu để duy trì việc phát triển kinh tế, do đó việc tách chức năng của ngân hàng
đợc thể hiện ở mức độ cao hơn: hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp:
-Ngân hàng Trung ơng vừa làm chức năng phát hành vừa làm chức năng
quản lý nhà nớc về tiền tệ , tín dụng ngân hàng.
- Ngân hàng kinh doanh (ngân hàng thơng mại) : Là trung gian tài
chính có giấy kinh doanh của chính phủ để cho vay tiền và mở các khoản tiền
gửi... và chuyên về việc đa ngời cho vay và ngời đi vay gặp nhau là trung gian
tài chính, thực hiện kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng, có vai trò
quan trọng trong việc tập trung, thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi để đầu t vào
những đơn vị kinh tế làm ăn có lãi thuộc mọi thành phần kinh tế, thúc đẩy tăng
trởng kinh tế.
ở Việt nam, từ ngày thành lập cho đến năm 1988, hệ thống ngân hàng
một cấp vừa thực hiện chức năng quản lý về tiền tệ, tín dụng, ngoại hối vừa
kiêm nhiệm hoạt động kinh doanh của các ngân hàng chuyên nghiệp. Đặc trng
của hệ thống ngân hàng lúc này là thực hiện mệnh lệnh của nền kinh tế tập
trung, nặng về bao cấp, hiệu quả thấp, không tạo động lực cho phát triển kinh
tế, thậm chí chất lợng tín dụng kém vì mọi rủi ro trong hoạt động kinh doanh
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trong hoạt động ngân hàng đều đợc ngân sách nhà nớc bù đắp; nền kinh tế bị
suy yếu....
Đứng trớc tình hình đó, Đảng chủ trơng chuyển mạnh hoạt động
ngân hàng sang hạch toán kinh tế và kinh doanh Xã hội chủ nghĩa và
Bên cạnh nhiệm vụ quản lý lu thông tiền tệ của ngân hàng nhà nớc, cần
xây dựng hệ thống ngân hàng chuyên nghiệp kinh doanh tín dụng và dịch vụ
thấp do vậy khả năng cạnh tranh kém. Đây cũng là một tất yếu khách quan do
thời gian hoạt động còn quá ngắn, là loại hình kinh doanh mới, non trẻ, vừa vận
hành để phát triển vừa rút kinh nghiệm để định hình nên không tránh khỏi có
những tồn tại và khiếm khuyết.
Nh vậy, các Ngân hàng trung gian chuyển sang cơ chế mới theo xu hớng
ngày càng đa thành phần, kết hợp chuyên môn hoá và đa năng hoá, phát triển cả
về số lợng và cơ cấu, nâng cao sự nhậy cảm cạnh tranh trên thị trờng. Môi trờng
hoạt động ngân hàng hiện nay không còn ở những bớc sơ khai của nền kinh tế
thị trờng, nó đã và đang thay đổi một cách căn bản và có một vai trò rất to lớn
trong quá trình phát triển kinh tế. Hơn nữa, Ngân hàng phải là ngời đi trớc để
tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, phục vụ yêu cầu của CNH và HĐH đất nớc.
Nh V.I.Lênin đã nói ...Không có những ngân hàng lớn thì sẽ không thể
thực hiện đợc CNXH... và hệ thống ngân hàng ....là cái gì giống bộ xơng của
xã hội XHCN...
2. Định nghĩa NHTM :
Để đa ra đợc một định nghĩa về NHTM, ngời ta thờng phải dựa vào tính
chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trờng tài chính, và đôi khi còn kết
hợp tính chất, mục đích và đối tợng hoạt động.
Luật Ngân hàng của Pháp, năm 1941 định nghĩa : Ngân hàng là những
xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thờng xuyên nhận của công chúng dới hình
thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các
nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Hay nh Luật của Ngân
hàng ấn Độ 1950, đợc bổ sung 1959 đã nêu : Ngân hàng là cơ sở nhận các
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu t . Những định nghĩa đại loại nh
vậy là căn cứ vào mục đích, tính chất hoạt động.
Một loạt định nghĩa khác lại căn cứ vào sự kết hợp với đối tợng hoạt
động. Ví dụ nh Luật Ngân hàng Đan Mạch năm 1930 địng nghĩa : những nhà
băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành
động, đa dạng và phong phú, hoạt động đan xen lẫn nhau. Ngời ta phân biệt
ngân hàng thơng mại với các tổ chức môi giới tài chính khác là ở chỗ ngân hàng
thơng mại là ngân hàng kinh doanh tiền gửi, chủ yếu là tiền gửi không kỳ hạn,
chính từ hoạt động đó đã tạo cơ hội cho ngân hàng thơng mại có thể làm tăng
bội số tiền gửi của khách hàng trong hệ thống ngân hàng của mình. Đó là đặc
trng cơ bản để phân biệt ngân hàng thơng mại với các ngân hàng và các tổ chức
tín dụng khác.
3. Vai trò của NHTM trong nền kinh tế thị trờng :
Nền kinh tế thị trờng là nền kinh tế mà mọi hoạt động kinh tế trong đó
đều do thị trờng điều tiết theo quy luật cung cầu, vận động theo quy luật kinh tế
khách quan. Kinh tế thị trờng đợc vận hành và điều chỉnh bởi một hệ thống thị
trờng phức tạp và các mối quan hệ kinh tế tinh vi trong đó các thành phần kinh
tế đều đợc tự do hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Do vậy các chủ thể kinh
tế phải biết vận dụng sáng tạo, tạo cho mình lợi thế trong kinh doanh để tồn tại
và phát triển .
Hoạt động của quy luật cung cầu trong nền kinh tế thị trờng luôn tạo ra
sự cạnh tranh mạnh mẽ, làm động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Sự phát
triển của nền kinh tế thị trờng làm nảy sinh nhiều loại ngân hàng. Mỗi loại
ngân hàng lại thực hiện những chức năng nhất định khác nhau.
Qua quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng thơng mại ta thấy
rằng NHTM ra đời là một tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trờng và trở lại
chính NHTM lại đóng góp một vai trò to lớn trong nền kinh tế đầy tính phức tạp
này:
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Giải quyết mâu thuẫn giữa cung và cầu về vốn, giảm chi phí lu thông,
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn bằng cách tập trung các khoản vốn nhỏ phân
tán, thành lợng vốn lớn tạo điều kiện cho việc áp dụng kỹ thuật hiện đại, đổi
mới công nghệ, thúc đẩy nền kinh tế tăng trởng thông qua việc đầu t vốn;
- Thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu kinh tế : chuyển vốn từ những lĩnh vực
Chức năng cơ bản của ngân hàng thơng mại là mở rộng tín dụng, từ
nguồn vốn huy động đợc, đối với các khách hàng tin cậy. Ngay từ khi mới bắt
đầu, những ngời tổ chức các Ngân hàng thơng mại đã luôn tìm kiếm các cơ hội
để thực hiện cho vay và đầu t, hởng lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất cho vay và
lãi suất huy động (lãi suất tiền gửi ) sau khi trừ đi các chi phí. Họ coi đó là
chức năng quan trọng nhất của mình.
C.Mác đã viết cái mà ngời chủ ngân hàng kinh doanh là bản thân tín
dụng .
Ngời cũng đã viết Bản thân chế độ tín dụng, một mặt là một hình thái
nội tại của phơng thức sản xuất TBCN, mặt khác là một động lực thúc đẩy ph-
ơng thức sản xuất TBCN tiến lên hình thái cao hơn, tột cùng có thể của nó và
Chế độ tín dụng ngân hàng đẩy nhanh tốc độ phát triển của lực lợng sản
xuất vật chất và sự hình thành thị trờng thế giới; đẩy hai yếu tố đó phát triển đến
một mức độ cao nhất định, với t cách là cơ sở vật chất của một hình thái sản
xuất mới .
Tín dụng ngân hàng có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế, nó
đã tài trợ cho các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, thơng nghiệp, dịch vụ,
xuất nhập khẩu....của đất nớc; đã cung cấp những sản phẩm đờng vòng cho
nhu cầu dân sinh và phát triển đất nớc thông qua quá trình từ sản xuất đến lu
thông.
Nh vậy, trong việc tạo ra khả năng tín dụng, các ngân hàng thơng mại đã
và đang thực hiện chức năng xã hội đặc biệt của mình, làm cho sản phẩm xã hội
tăng lên, vốn đầu t đợc mở rộng và từ đó, đời sống dân chúng đợc cải thiện.
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Sở dĩ tín dụng ngân hàng có thể đóng đợc vai trò quan trọng của mình
là do nó đợc hình thành và phát triển nh một quy luật tất yếu khách quan của
nền kinh tế.
Hoạt động tín dụng là một nghiệp vụ hàng đầu, có ý nghĩa quan trọng,
quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng, song nó không
tốc độ tăng trởng của nền kinh tế và vào tiến bộ xã hội trong từng thời kỳ nói
chung.
3. Các dịch vụ ngân hàng khác :
Dịch vụ thanh toán :
Việc đa ra một cơ chế thanh toán, hay nói một cách khác, sự vận động
vốn là một nghiệp vụ quan trọng do các NHTM thực hiện thông qua việc : mở
tài khoản; cung ứng các phơng tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán
trong nớc cho khách hàng; thực hiện các dịch vụ thu hộ và chi hộ; dịch vụ ngân
quỹ... , thông qua mối quan hệ giữa ngân hàng nớc này là đại lý cho ngân hàng
nớc khác với công nghệ ngân hàng hiện đại đã làm cho quá trình thanh toán
quốc tế diễn ra nhanh chóng và thuận lợi.
Ngoài ra, các NHTM còn:
-Thực hiện việc góp vốn mua cổ phần của các TCTD khác hoặc của các
doanh nghiệp từ nguồn vốn điều lệ và quỹ dự trữ của mình.
- Kinh doanh ngoại hối và vàng.
- Uỷ thác và nhận uỷ thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến
hoạt động ngân hàng; kinh doanh, cung ứng dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ t vấn tài
chính tiền tệ cho khách hàng, dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho
thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác...
Qua tìm hiểu chức năng nghiệp vụ và quá trình thực hiện nghiệp vụ của
NHTM, ta thấy rõ vai trò trung gian của ngân hàng và mối quan hệ tách biệt
giữa ngời cho vay tiền và ngời đi vay tiền: Khi Ngân hàng phát ra một khoản
tiền vay, số vốn đó nằm ngoài tầm kiểm soát của Ngân hàng, nên sự vận động
của nó nh thế nào Ngân hàng rất khó theo dõi. Khả năng rủi ro chính là ở đây.
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Xét về mặt chủ quan, việc chọn lựa khách hàng cho vay là rất quan trọng đối
với Ngân hàng vì nếu tìm hiểu không kỹ lỡng về khách hàng thì Ngân hàng có
thể chuốc lấy tai hoạ cho mình khi những đồng tiền ra đi mà không trở về. Còn
về mặt khách quan, mọi rủi ro đối với khách hàng trong kinh doanh đều là rủi ro
nhau trên cơ sở các mối quan hệ với khách hàng của mình. Vì vậy, khả năng rủi
ro của ngân hàng trong kinh doanh tiền tệ là khả năng rủi ro nhân đôi .
2. Phân loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Kinh doanh của Ngân hàng là một nghề lắm rủi ro .
Qua thống kê, các rủi ro của NHTM chủ yếu tập trung vào những dạng sau:
2.1. Rủi ro tín dụng : Rủi ro tín dụng là lỗ tiềm tàng vốn có đợc tạo ra khi cấp
tín dụng cho một khách hàng .
Đây là loại rủi ro lớn nhất và thờng xuyên xảy ra trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Vì vậy, Việc đánh giá rủi ro này là trách nhiệm chính
của nghề ngân hàng Rủi ro trong tín dụng xảy ra khi bên đi vay, trong một
giao dịch, không thực hiện đợc việc thanh toán tiền vay theo thời hạn và điều
kiện trong hợp đồng làm cho ngời cho vay phải gánh chịu tổn thất tài chính.
Rủi ro tín dụng có muôn hình muôn vẻ, với nhiều hình thái, màu sắc,
cung bậc khác nhau, chúng luôn tiềm ẩn hay nói một các khác luôn rình rập
trong suốt quá trình trớc, trong và sau khi cho vay và biểu hiện ra bên ngoài là
món vay không thu hồi đợc, nợ quá hạn, nợ khó đòi, mất vốn...
Hoạt động của NHTM chủ yếu là hoạt động tín dụng và Ngân hàng thu
lợi chủ yếu bằng cách cho vay: Phần lớn Tài sản Có của Ngân hàng là ở dạng
tiền cho vay và thờng tạo ra tới 60% thu nhập của Ngân hàng. Nhng rủi ro đa lại
cho Ngân hàng từ lĩnh vực này những thiệt hại nặng nề, có khi dẫn đến phá sản .
Lý do là các khoản tiền cho vay ( chiếm tới hơn 60% Tài sản Có) kém lỏng hơn
so với Tài sản Có khác bởi chúng không thể chuyển thành tiền mặt trớc khi các
món vay đó đáo hạn.
Rủi ro tín dụng là rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa khó
khăn nhất .
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nghiên cứu vận động tín dụng ta thấy mỗi trờng hợp đều có mức độ rủi
ro nhất định khác nhau mà biểu hiện bên ngoài là không thu hồi đợc nợ, nợ quá
hạn, nợ khó đòi, vốn bị đọng, mất vốn... Để xem xét thực trạng rủi ro tín dụng
phép làm thiếu hụt khả năng thanh toán cuối cùng; hoặc vì một nguyên nhân
nào đó, hoặc do sự đồn đại thất thiệt trong giới kinh doanh và công chúng làm
giảm giá trị chất lợng tài sản có của ngân hàng làm lợng tiền gửi tại ngân hàng
bị rút ồ ạt trong khi đó số tiền đầu t có kỳ hạn cha đến thời điểm để thu hồi, gây
tình trạng mất cân bằng.
Rủi ro này thể hiện ngân hàng thiếu vốn hoạt động do đó khả năng thanh
toán của ngân hàng kém. Vì vậy ngân hàng lại càng khó lòng huy động đợc vốn
do sự cạnh tranh giữa các thể chế tài chính trên thị trờng vốn, từ đó phạm vi
hoạt động của ngân hàng bị thu hẹp, có nguy cơ đi đến vỡ nợ.
2.3. Rủi ro lãi suất:
Lãi suất là Chi phí để vay hoặc giá phải trả để thuê vốn trong một thời
gian nào đó. Nh vậy lãi suất cũng là một loại giá cả. Trong cơ chế thị trờng,
giá cả luôn biến động theo quan hệ cung cầu, nên lãi suất cũng luôn biến đổi.
Rủi ro lãi suất là rủi ro ngân hàng phải gánh chịu khi có sự biến động về lãi suất
làm giảm tiền lãi và thu nhập của ngân hàng. Thiệt hại do rủi ro lãi suất gây ra
làm chi phí cho nguồn vốn lớn hơn chi phí sử dụng vốn. Nếu tình trạnh này kéo
dài sẽ dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh của ngân hàng.
2.4. Rủi ro tỉ giá hối đoái:
Tỉ giá hối đoái là giá cả của một đồng tiền tính ra một đồng tiền khác
Rủi ro hối đoái là rủi ro xuất hiện trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối
do sự biến động về tỉ giá giữa các đồng tiền.
Trong nền kinh tế thị trờng, tỉ giá luôn biến động, Với sự biến đổi của tỉ
giá hối đoái, bất kỳ một khoản mở nào cho dù dài hay ngắn , đối với một đồng
tiền nhất định, đều có thể tạo cho ngân hàng phải đối mặt với rủi ro tỉ giá hối
đoái.....
2.5. Rủi ro trong thanh toán:
Là loại rủi ro xuất hiện trong thao tác nghiệp vụ và luân chuyển chứng từ
trong quá trình thanh toán. Thông thờng, loại rủi ro này không gây thiệt hại quá
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Rủi ro
thuần
tuý
Rủi ro
thanh
toán
Rủi ro
hối
đoái
Rủi ro
lãi
suất
Rủi ro
nguồn
vốn
Rủi ro
tín
dụng
Rủi ro vỡ nợ
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Một cuộc đình công kéo dài, việc giảm giá để cạnh tranh hoặc việc mất
một ngời quản lý giỏi có thể làm thiệt hại nghiêm trọng đến khả năng chi trả
tiền vay của ngời đi vay.
3.2 Thông tin không cân xứng
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng thực hiện nghiệp vụ Nợ và Có -
chuyển vốn từ ngời gửi tiền sang ngời đi vay tiền - Toàn bộ giao dịch này sẽ
suôn sẻ nếu các bên tham gia đều có những thông tin và hiểu biết đầy đủ về
nhau. Song một thực tế còn tồn tại là : một bên thờng không biết tất cả những
gì cần biết về phía bên kia và Sự không cân bằng về thông tin mà mỗi bên có
đợc nh vậy đợc gọi là thông tin không cân xứng Việc thiếu thông tin trong
hoảng ngân hàng : Từ năm 1930 đến 1933, làn sóng phá sản ngân hàng đã tràn
từ áo, Đức, Anh sang Mỹ; riêng ở Mỹ có 9.096 ngân hàng phải ngừng hoạt
động; Sự đổ bể của hàng loạt các ngân hàng nh NH Bankhaus Herstatt của Đức
(1974), ngân hàng quốc gia Franklin - ngân hàng đứng thứ 12 của Mỹ (1974),
bài học đắt giá của NH Baring, một ngân hàng có tên tuổi ra đời từ 1762 bị đổ
vỡ vào năm 1995, và gần đây cơn ác mộng Daiwa chi nhánh của ngân hàng
Nhật bản tại New York - thua lỗ tới 1,1 tỷ USD đã cho ta thấy sự khắt khe đến
mức nào của nền kinh tế thị trờng.
Ngoài ra, cần xét đến mối quan hệ với khách hàng, khi ngân hàng đóng
vai chủ nợ - dùng nguồn vốn huy động đợc đem cho các doanh nghiệp và cá
nhân cần vốn vay - Thực tế cho thấy trong điều kiện kinh tế thị trờng, các doanh
nghiệp là khách hàng vay vốn và giao dịch với ngân hàng cũng thờng gặp phải
những rủi ro nhất định mà hậu quả là sự phá sản của doanh nghiệp không còn là
hiện tợng riêng có của một nền kinh tế ổn định hay không ổn định, hoặc của
một nớc phát triển hay đang phát triển :
Vào những năm kinh tế khủng hoảng (1967), ở CHLB Đức chỉ có 3930
doanh nghiệp bị phá sản thì ở những năm kinh tế tạm thời ổn định (1981), có tới
11.590 doanh nghiệp bị phá sản với số tiền vỡ nợ 15 tỉ Mác, năm 1985 số doanh
nghiệp bị phá sản là 19.200. ở Mỹ, 7 tháng đầu năm 1992 có 59.188 công ty bị
phá sản, tăng 16% so với cùng kỳ năm1991. Chỉ riêng tháng 7/1992, Mỹ có tới
8.580 công ty bị phá sản, tăng 11,6% so với tháng 7/1991. Năm 1990, số doanh
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nghiệp bị phá sản ở Pháp là 47.118, năm 1991: 52.965 và năm 1992: 57.956.
Đặc biệt, số doanh nghiệp bị phá sản năm 1991 gần gấp đôi số doanh nghiệp
mới thành lập của năm 1991.
Tất nhiên ở đây còn có yếu tố liên quan tới Năng lực tài chính, Năng lực
điều hành, Năng lực xử lý thông tin và nghiệp vụ trong quá trình sản xuất và
kinh doanh của các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế.
Nền kinh tế là một cơ thể sống . Sự rủi ro vỡ nợ của một hay một số
gây ảnh hỏng tới lợi nhuận của họ.
Lạm phát cũng có ảnh hởng bất lợi đến công việc kinh doanh : giá cả
nguyên vật liệu, năng lợng, lao động... tăng làm cho các cá nhân và doanh
nghiệp khó khăn về tài chính dẫn đến nhu cầu tín dụng tăng. Và không giống
nh lợi tức, nợ không giảm trong các giai đoạn suy thoái. Nó cố định về số lợng.
Nợ không thay đổi tơng ứng với sức mua của đồng tiền, vì vậy đã trở nên gánh
nặng đối với ngời đi vay , kết quả là không trả đợc nợ.
Thiểu phát cũng có ảnh hởng bất lợi đến công việc kinh doanh: chỉ số
tăng giá thấp hơn so với lãi suất cho vay làm cho các doanh nghiệp cầm chừng
trong vay vốn phát triển sản xuất làm cho tốc độ tăng trởng tín dụng chậm, hoạt
động ngân hàng chững lại, thâm hụt cán cân vãng lai; giá trị sản xuất công
nghiệp, mức lu chuyển hàng hoá, thu ngân sách, đầu t xây dựng cơ bản giảm
gây nên tình trạng kinh tế trì trệ, các doanh nghiệp không có cơ hội để hoạt
động sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận, trong khi đó vẫn phải duy trì các chi
phí cố định và phải hoàn trả vốn và lãi vay phục vụ cho các chu kỳ kinh doanh
trớc đó, kết quả lại là không trả đợc nợ..
3.5. Môi tr ờng pháp lý trong kinh doanh là tổng hợp các yếu tố pháp lý có tác
động đến hoạt động kinh doanh bao gồm hệ thống pháp luật, hệ thống các biện
pháp bảo đảm cho pháp luật đợc thực thi và sự chấp hành nghiêm chỉnh pháp
luật của các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh và các ngành có liên quan.
Hoạt động kinh doanh luôn chịu sự tác động của 3 yếu tố tạo thành môi
trờng pháp lý nói trên. Các yếu tố này có quan hệ đan xen và tác động đến hoạt
động kinh doanh một cách tổng hợp chứ không riêng rẽ, hay nói một cách khác
chúng mang tính đồng bộ cao. Nếu các yếu tố này tách rời nhau sẽ không tồn
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tại một môi trờng pháp lý đồng bộ và khi đó sự tác động riêng lẻ của một hay
hai yếu tố sẽ tạo nên một nội dung khác, một ảnh hởng khác, thậm chí gây nên
ách tắc hoặc những thua lỗ không đáng có hoặc tạo những kẽ hở cho kẻ xấu lợi
dụng. Ví dụ, nếu thiếu yếu tố chấp hành pháp luật thì hệ thống pháp luật và các
Ngoài các nguyên nhân trên đa đến rủi ro cho hoạt động của ngân hàng
còn có những nguyên nhân khác nh : Chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ,
các biến động về kinh tế chính trị trên thế giới và những nguyên nhân do trộm
cắp tham nhũng....
Nh chúng ta đã biết, chính phủ dùng các chính sách kinh tế vĩ mô nh:
chính sách tài khoá, tiền tệ, thu nhập, kinh tế đối ngoại... cùng các công cụ của
hệ thống chính sách này tác động vào tổng sản phẩm quốc dân, việc làm, lạm
phát, tỉ giá hối đoái... nhằm giảm bớt những giao động của chu kỳ kinh doanh
trong mỗi thời kỳ .
Qua nghiên cứu phân tích và thực tế cho thấy rằng bất kỳ sự thay đổi nào
trong chính sách kinh tế vĩ mô đều dẫn đến sự thay đổi của lãi suất, tỉ giá hối
đoái, điều kiện mở rộng hay thu hẹp tín dụng...Đây là những nhân tố gây nên
tính bấp bênh trong kinh doanh tiền tệ, ảnh hởng trực tiếp tới hoạt động của
NHTM.
Thực ra, sử dụng hệ thống chính sách này là việc kết hợp giữa bàn tay
hữu hình của chính phủ với bàn tay vô hình của thị trờng. Quá trình thực hiện sự
kết hợp này có lúc rất nhịp nhàng và hữu hiệu song cũng có lúc đã làm gia tăng
tính bấp bênh và rủi ro vốn có của hình thức hoạt động kinh doanh tiền tệ.
Thực tế đã chứng minh rằng sự thành bại của việc điều hành chính sách kinh tế
vĩ mô, trong khuôn khổ định hớng phát triển kinh tế quốc gia, phụ thuộc rất
nhiều vào thực tiễn điều chỉnh của từng giai đoạn đối với hoạt động của nền
kinh tế nói chung và hệ thống tài chính ngân hàng nói riêng. Vấn đề tế nhị là
giải quyết trên nguyên tắc đảm bảo lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế, song có lúc
không tránh khỏi là đa các NHTM vào tình trạng bị động. Và rủi ro, tổn thất
đối với các NHTM cũng là điều không tránh khỏi.
Trong điều kiện kinh tế mở cửa dới nhiều hình thức và phơng diện,
những biến động lớn về kinh tế chính trị trên thế giới có ảnh hởng tới các quan
25